Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - 32 trang; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu -11 trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và Thảo luận - 86 trang; Kết luận và kiến nghị - 02 trang; Tài liệu tham khảo - 11 trang. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu tài nguyên cây thuốc trên thế giới Lịch sử phát triển các dân tộc, các quốc gia cũng như sự phát triển của xã hội loài người trên toàn thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát hiện và sử dụng cây thuốc.
Cây thuốc là một trong những nhóm tài nguyên thực vật có giá trị quan trọng hàng đầu và đây là tài sản vô cùng quý giá mà thiên nhiên ưu đãi cho nhân loại. Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc để chữa bệnh được nghiên cứu ở nhiều mức dộ khác nhau, tùy thuộc vào sự phát triển của từng châu lục, từng quốc gia và từng dân tộc. Nhưng việc sử dụng cây thuốc, những kinh nghiệm và tri thức quý báu đó chỉ được truyền miệng từ thế hệ này đến thế hệ khác một cách hạn hẹp và không được ghi chép lại, vì vậy có nguy cơ bị mai một, nhiều loại thuốc, vị thuốc đã bị thất truyền, đồng thời nhiều tri thức quý báu đã mất đi cùng với sự biến mất của các bộ tộc người cổ đại hay sự suy giảm và tuyệt chủng các loài cây thuốc. Đây là những vấn đề cần phải coi trọng, cần phải khai thác, tìm hiểu, ghi chép lại và giữ gìn.
Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các sách chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc từng vùng lãnh thổ. Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nước đã được ứng dụng rộng rãi, cùng các giá trị khoa học và thực tiễn lớn. Dược thảo châu Á được ghi nhận từ rất sớm. Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời và phong phú bậc nhất trong nền dược học châu Á.
Ở Trung Quốc, dược thảo được phát triển như một phần văn hóa của quốc gia này. Khoảng 5000 năm về trước (2.697 TCN), dược thảo ở Trung Quốc đã mô tả về giá trị và đặc điểm của hơn 70 loại thảo mộc [6]. Nhiều loại thảo mộc đã được sử dụng thường xuyên cho việc chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc cổ đại và các kiến thức đó đã được lưu truyền bằng miệng qua nhiều thế kỷ. Các loài thảo mộc được mô tả một cách chính thức trong cuốn sách “Shennong Bencao Jing” [7].
Cuốn sách này đã đề cập đến 364 loại dược liệu; bao gồm 252 bộ phận của cây, 67 loại bộ phận động vật và 46 loại khoáng vật làm thuốc; đồng thời cũng mô tả tác dụng chữa bệnh của chúng [8]. Chính cuốn sách này đã tạo nền tảng cho sự phát triển của nền y học cổ truyền Trung Quốc cho đến ngày nay. Cũng vào thời gian này, tài liệu ghi chép lại tri thức sử dụng cây thuốc sớm nhất của người Sumarian được viết bằng chữ tượng hình vào năm 2000 TCN, “Materia Medica” đã ghi chi tiết tác dụng chữa bệnh của 250 loại cây thuốc. Tiếp đến, hơn 240 loại dược thảo và 52 đơn thuốc đã được mô tả trong cuốn sách “52 Bing - Fang” được khai quật ở một ngôi mộ cổ vào năm 168 TCN tại Trung Quốc [9].
Đến năm 659, trong “Xin Xiu Ben Cao” đã ghi lại 850 loại thảo dược, là cuốn dược điển nổi tiếng của Trung Quốc và trên thế giới [8]. Năm 1596, Li đã ghi nhận 1892 loại thảo dược và 11.096 phương thức chữa bệnh trong cuốn “Ben Cao Gang Mu” [10]; trong cuốn “Taiwanese native medicinal plants”, Li đã công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được sắp xếp theo bảng chữ cái tên Latinh [11]. Đến năm 1977, Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Đại từ điển Đông dược” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc. Gần đây, trong cuốn “Dược thảo toàn thư” của Xu J.
Ấn Độ cũng là quốc gia có truyền thống sử dụng các loại dược thảo lâu đời. Tài liệu ghi chép sớm nhất về sử dụng cây thuốc được tìm thấy trong sách Rig - Veda vào khoảng 4500 - 1600 TCN. Đây được xem là cuốn sách cổ nhất về sử dụng cây thuốc trong lịch sử loài người. Cuốn sách này cung cấp nhiều thông tin về sử dụng cây thuốc ở Tiểu Ấn.000 loài thực vật sử dụng làm thuốc đã được biết đến ở Ấn Độ và một số loài vẫn còn được dùng tới ngày nay như Nhục đậu khấu, Hạt tiêu, Đinh hương.
Nền y học cổ truyền Ấn Độ được gọi là Ayurveda có nguồn gốc từ thời cổ xưa.000 năm, tại Ấn Độ, y học Ayurveda đã sử dụng bột nghệ làm thuốc chữa bệnh [12,[13]. Khoảng 5000 năm trước, các dẫn liệu lâu đời về việc sử dụng cây thuốc được tìm thấy của người Sumer ở Nagpur, Ấn Độ, bao gồm 12 phương thức chữa bệnh có đề cập đến hơn 250 loài cây khác nhau [14]. Hai thầy thuốc nổi tiếng của y học Ấn Độ là Charaka (thế kỷ II) và Surhruta (thế kỉ IV) đã thừa kế nhiều kết quả của nền y học Ayurveda để mô tả nhiều loại thảo dược và khoáng vật sử dụng làm thuốc trong tác phẩm của họ. Charaka trong tác phẩm “Charaka Samhita” đã mô tả 341 loại thảo dược cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng vật Surhruta trong tác phẩm “Surhruta Samhita” cũng mô tả 760 loại dược liệu; trong đó có Gai đầu (Cannabis) và Hyoscyamus [15].
Gần đây, y học Ayurveda đã phát triển mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng hiệu quả, theo thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc [16]. Dãy Himalaya hùng vĩ, cho đến nay đã tìm thấy khoảng 8.000 loài thực vật Hạt kín, 44 loài thực vật Hạt trần; trong đó có 1.748 loài được sử dụng như là cây thuốc. Hiện nay, lĩnh vực dược liệu ở Ấn Độ sử dụng khoảng 280 loài cây thuốc, trong đó có 175 loài được tìm thấy ở Himalaya [17]. Không chỉ ở châu Á mà việc sử dụng cây cỏ làm thuốc cũng xuất hiện tại các nước châu Âu.
Việc sử dụng cây thuốc ở đây cũng rất đa dạng và góp phần tạo ra nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Tuy y học phương Tây phải chịu thiệt thòi theo sự suy tàn của đế quốc La Mã, nhưng nhờ vào sự phát triển của nền văn hóa Ả Rập, sự thu thập kiến thức y học trong thời Hy Lạp và La Mã cổ đã được giữ gìn và soạn thảo công phu. Người Ả Rập là những dược sỹ thông thạo và sự giao lưu của họ với cả y học cổ truyền của Ấn Độ lẫn Trung Quốc nên họ có một trình độ đáng kể về y học và sự hiểu biết thảo dược. Từ năm 400 TCN, người Hy Lạp và La Mã đã biết đến Gừng (Zingiber officinale) để chữa bệnh cảm lạnh, kém ăn, viêm khớp… Nhà bác học nổi tiếng trong lịch sử của khoa học Hy Lạp Theophrastus (371 - 287 TCN), là “cha đẻ của thực vật học”, ông có công lớn trong việc phân loại và mô tả cây thuốc.
Khoảng thời gian (350 - 28 TCN), theo Phrastus đã viết hai cuốn sách “De causis plantarium” và “De historia plantarium”, trong đó đề cập đến hơn 500 loài cây thuốc [18]. Dioscorides (40-90), là một thầy thuốc người Hy Lạp, ông đã viết cuốn sách dược thảo “De material medical”. Quyển sách này bao gồm 500 loài thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương tây, là sách tham khảo chính ở châu Âu và Trung Đông trong hơn 1.500 năm và do đó cuốn sách là tiền thân của các dược điển hiện đại [19]. Pliny the Elder (23-79) là một nhà tự nhiên học, nhà triết học La Mã, ông đã viết cuốn “Naturalis historia” đề cập đến khoảng 1.000 loài cây khác nhau [20].
Charles Đại đế hay Charles I (742-814), vua của Ý từ năm 774, người sáng lập ra trường y có uy tín ở Salerno, trong tác phẩm “Capitularies” đã trích dẫn 100 cây thuốc khác nhau, trong đó có loài Xô thơm (Salvia officinalis) được đánh giá rất cao [22]. Khoảng thế kỷ thứ XI, tại Scotland các thầy tu đã sử dụng cây Thuốc phiện (Papaver somniferum) và cây Gai đầu (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau, thuốc gây mê [16]. Các công trình tiêu biểu trong thời kì này là cuốn “De re madica” của John Mesue; cuốn “canon medicine” của Avicenna và cuốn “Liber magnae collectionis simplicum et medicamentorum” của Ibn Baitar, trong đó có hơn 1.000 cây thuốc đã được mô tả [23]. Dược thảo châu Âu không chỉ mang tính bản xứ như: cây Kin sa (Arnica montana) được dùng nhiều trong các bài thuốc dân gian ở châu Âu; uống trà Kin sa sẽ làm giảm chứng viêm họng ở tuổi già; Bạch đầu ông (Anemone pulsatilla) được dùng nhiều trong ngành thảo dược Thụy Sỹ, Đức, Ý, Pháp; còn Hoa chuông (Symphytum officinale) đặc biệt được ưa chuộng ở Anh,…; mà còn mang tính ngoại nhập như Bạch quả (Ginkgo biloba) có tác dụng cải thiện hệ tuần hoàn máu lên não, giúp bồi bổ trí nhớ [16].
Ở châu Phi, việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc đã có từ thời xa xưa. Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc, trong đó có Lô hội, Kỳ nam, Gai đầu[23]. và họ đã tư liệu hóa cây thuốc bằng cách ghi chép lại những công thức chữa bệnh khác nhau lên bức tường ở các ngôi đền. Tác phẩm điển hình là “Ebers papyrus in Egypt” (năm 1550 TCN) đã liệt kê 876 đơn thuốc có sử dụng 328 loài thực vật.
Vào khoảng năm 800 TCN, trong thiên sử thi Iliad và Odyssey của Homer có 63 loài thực vật từ Minoan, Mycenae và Assyrian ở Ai Cập đã được giới thiệu. Trong đó, một số loài được lấy theo tên của các nhân vật thần thoại trong sử thi như: cây Thủy dương (Inula helenium) được đặt theo tên của Elena, người là trung tâm cuộc chiến thành Troy. Liên quan đến các loài thực vật chi Artemisia, tên của chi bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “artemis” có nghĩa là khỏe mạnh, được tin là dùng để khôi phục sức mạnh và bảo vệ sức khỏe [24]. Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VIII, các thầy thuôc Ả Rập là những người có công đầu trong ngành y.
Vào giữa thế kỷ thứ VIII, nhà thực vật học Ibn El Neitar đã xuất bản cuốn sách “Các vấn đề về y khoa” thống kê các chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi.