ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta có một hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, bao gồm 12.000 loài thực vật. Trong đó các loài đặc hữu chiếm tỷ lệ rất cao, một số loài thậm chí còn chưa được định danh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm diện tích, chất lượng và hệ sinh thái rừng của nước ta bị suy thoái nghiêm trọng. Nhiều loài thực vật rừng quý hiếm đang bị khai thác, chặt hạ trái phép nên đang đứng trước nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng.
Nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng được thành lập theo Quyết định số: 1672/QĐ-UB ngày 22/5/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích tự nhiên hiện nay là 15. Khu bảo tồn nằm trong địa phận 5 xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai và Hoà Bình. Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng là nơi có giá trị ĐDSH cao nhất trên địa bàn tỉnh hiện nay. Khu bảo tồn đã và đang mang lại lợi ích không chỉ cho cộng đồng dân cư trong khu vực, mà còn có giá trị to lớn trong bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, cung cấp lâm sản, nguồn dược liệu quý.
Khu bảo tồn cũng là nơi lưu giữ, bảo tồn các nguồn gen quý, mẫu chuẩn hệ sinh thái có giá trị trong nước cũng như trên thế giới. Tuế balansa là một trong những loài Tuế quý, hiếm của Việt Nam. Cây đã được ghi nhận trong Danh lục đỏ của IUCN, Nghị định 06/2019 của Chính phủ Việt Nam, Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cây có phân bố tự nhiên tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng và một số khu vực khác ở phía Bắc của Việt Nam.
Cây đang có xu hướng bị suy giảm diện tích quần thể và số lượng cá thể do khai thác trái phép và sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp. Tại Việt Nam cũng như Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng hầu như chưa có nghiên cứu nào nhằm điều tra đánh giá hiện trạng quần thể cũng đề xuất giải pháp bảo tồn loài Tuế balansa. Việc nghiên cứu bảo tồn Tuế balansa là cần thiết hiện nay. 2 Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Tuế balansa (Cycas balansae Warb.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh".
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Bảo tồn ĐDSH trên thế giới Trong những thập niên vừa qua, sự phát triển kinh tế của thế giới cùng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đem lại thịnh vượng cho con người, nhưng cũng tác động mạnh mẽ đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Đất đai ở nhiều lãnh thổ bị xói mòn, nhiều nguồn nước bị ô nhiễm, nhưng nghiêm trọng hơn là nhiều HST đa dạng, bao gồm cả trên cạn và dưới nước, đã bị suy thoái trầm trọng hoặc bị hủy diệt, nhiều loài động thực vật đã bị tuyệt chủng. Hậu quả của suy thoái tài nguyên thiên nhiên và thất thoát ĐDSH này là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới tiến trình PTBV trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của ĐDSH trong phát triển trên thế giới, các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức bảo tồn và phát triển khác đã có những cam kết trong công tác bảo tồn ĐDSH, đồng thời thúc đẩy tiến trình PTBV trong mối quan hệ hài hòa. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện, như xây dựng nền tảng lý thuyết, đến các hoạt động thực tiễn, có quy mô rộng khắp thế giới đã được triển khai, nhằm đảm bảo vai trò quan trọng của ĐDSH trong sự nghiệp PTBV của con người. Trên thế giới, trong mấy chục năm vừa qua, đặc biệt từ khi Công ước ĐDSH được ký kết, công tác bảo tồn ĐDSH dần dần dịch chuyển từ việc bảo tồn các HST và các loài sang sử dụng tài nguyên ĐDSH theo hướng bền vững, nhằm phục vụ lợi ích của con người. Song song với tiến trình đó, từ năm 1992, khi Chương trình Nghị sự 21 được các nước cam kết thực hiện, sự nghiệp PTBV đã đi vào thực chất, với việc thúc đẩy ba trụ cột là kinh tế - xã hội - môi trường, gắn với bảo tồn 4 ĐDSH như là nền tảng cho sự thịnh vượng của con người.
Tăng trưởng xanh là con đường PTBV trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khi sự phát triển phải gắn chặt với sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên ĐDSH và giảm phát thải khí nhà kính để ứng phó với biến đổi khí hậu. Một hệ thống thể chế chính sách toàn cầu đã được thiết lập, với việc áp dụng các nguyên lý PTBV và cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái, làm nền tảng để đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Hệ thống các KBT trên thế giới ngày càng được phát triển và hoàn thiện để bảo tồn các giá trị ĐDSH cho sự PTBV cho tương lai. Hệ thống các khu dự trữ sinh quyển cũng đang được hình thành và ngày càng phát triển là hình mẫu và là phòng thí nghiệm sống để thực hành PTBV.
Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam và Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 1. Công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tới bảo tồn ĐDSH và PTBV. Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường và phát triển năm 1992 và sau đó đã ký Công ước ĐDSH. Một hệ thống thể chế, các chính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn ĐDSH và PTBV đã được xây dựng khá đầy đủ ở Việt Nam (Bảng 1.
Việt Nam đã thành lập Hội đồng PTBV từ năm 2005, là đại diện của các Bộ, ngành địa phương, do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch. Văn phòng PTBV, trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm cơ quan thư ký cho Hội đồng. Ngoài ra, một số bộ như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương cũng thành lập ban chỉ đạo PTBV ngành và văn phòng PTBV của bộ mình, nhằm thúc đẩy tiến trình PTBV. Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng thành lập Văn phòng Doanh nghiệp vì sự PTBV, nhằm thúc đẩy sự PTBV cho các doanh nghiệp.
Các mốc chính thực hiện PTBV và bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Thời Sự kiện chính gian 1993 - Luật Bảo vệ môi trường 2020 Nghị quyết của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công 1998 nghiệp hóa, hiện đại hóa 2003 Thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường 2003 Chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường Định hướng chiến lược về phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương 2004 trình Nghị sự 21 của Việt Nam). Văn phòng phát triển bền vững (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) được thành lập; Luật Bảo vệ và phát triển rừng Hội đồng phát triển bền vững Quốc gia đã được thành lập; Ban Chỉ đạo phát triển bền vững Tài nguyên và Môi trường (Bộ Tài nguyên và 2005 Môi trường) và Ban Chỉ đạo phát triển bền vững ngành Công nghiệp (Bộ Công Thương) được thành lập Văn phòng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững (Phòng Thương 2006 mại và Công nghiệp Việt Nam) được thành lập 2008 Luật đa dạng sinh học Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020; Chiến lược 2012 quốc gia về Tăng trưởng xanh; Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Kế hoạch hành động quốc gia về phát triển bền vững giai đoạn 2013- 2013 2015 Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014- 2020; Quy hoạch tổng thể Bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến 2014 năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược Quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 2015 Luật Tài nguyên và môi trường biển và hải đảo 2017 Luật lâm nghiệp Quyết định số 297/QĐ-TTg về Phê duyệt Đề án bảo vệ, khôi phục và 2019 phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016 - 2030 … … 6 Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH, gắn với phát triển kinh tế - xã hội và nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật để triển khai thực hiện trên thực tế. Nhiều chiến lược có liên quan đã được xây dựng, bao gồm Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (năm 2003); Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 (năm 2007); Chiến lược Quản lý hệ thống KBT thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010 (năm 2003); Kế hoạch hành động ĐDSH (năm 1995). Một hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993, sửa đổi năm 2005), Luật Tài nguyên nước (ban hành năm 1999), Luật ĐDSH (ban hành năm 2009), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (ban hành năm 1991, sửa đổi năm 2005); Luật Lâm nghiệp (năm 2017); Luật Biển (ban hành năm 2015).
Đặc biệt là, Luật ĐDSH về bảo tồn và PTBV ĐDSH đã nhấn mạnh sử dụng bền vững HST tự nhiên, các loài sinh vật và tài nguyên di truyền, phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội. Chiến lược quốc gia về ĐDSH lại làm rõ hơn về sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ HST và ĐDSH phục vụ cho PTBV. Bảo tồn ĐDSH thường được gắn với quá trình nhận thức về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Công tác bảo tồn ĐDSH và sự nghiệp PTBV được thúc đẩy khi hệ thống thể chế và các chính sách, luật pháp về bảo tồn và PTBV ngày càng được hoàn thiện.
Luật ĐDSH được ban hành đã thúc đẩy quá trình sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đặc biệt là hỗ trợ công tác xóa đói giảm nghèo. Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái cũng bước đầu được áp dụng để làm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, đảm bảo thực hiện đồng thời mục tiêu bảo tồn ĐDSH và PTBV, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện 7 nay ở nước ta.