PHẦN MỞ ĐẦU Rừng có một vị trí rất quan trọng trong đời sống con ngƣời đặc biệt là đối với cuộc sống của các đồng bào dân tộc miền núi. Trong nhiều năm qua, cùng với sự bùng, sự “lợi dụng” tài nguyên một cách thiếu khoa học, việc sử dụng rừng chủ yếu với mục tiêu khai thác gỗ là chính và những nguyên nhân khác làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp về diện tích và giảm sút về chất lƣợng. Năm 1945 diện tích rừng nƣớc ta khoảng 14,3 triệu ha đạt tỷ lệ che phủ là 43% trong đó chủ yếu là rừng tự nhiên, chất lƣợng tốt, đến năm 1990 chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha đạt tỷ lệ che phủ là 28,4%, chất lƣợng rừng rất thấp. Với sự nỗ lực bảo vệ và phát triển rừng của toàn xã hội, đến năm 2013, tổng diện tích rừng nƣớc ta đã tăng lên là 13,95 triệu ha, trong đó khoảng 10,40 triệu ha rừng tự nhiên và 3,56 triệu ha rừng trồng, độ che phủ rừng là 41,0% (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT), 2014).
Tuy nhiên, chất lƣợng rừng kém, trữ lƣợng thấp, khả năng phục hồi chậm, loài cây có giá trị kinh tế ít, đa số là cây gỗ mọc nhanh, nhập ngoại, chủ yếu để sản xuất gỗ nhỏ, không đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện nay và trong tƣơng lai. Trong bỗi cảnh nhƣ vậy, chúng ta cần nhận thức đƣợc tầm quan trọng của rừng đối với xã hội. Vì vậy chung ta cần làm gì để bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển rừng theo hƣớng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Sồi phảng (Castanopsis cerebrina (Hickel & A.Camus) Barnett) đƣợc biết đến là loài cây bản địa gỗ lớn, đa tác dụng (lấy gỗ, phòng hộ, vỏ làm nguyên liệu chiết xuất ta nin) và có phân bố rộng.
Gỗ Sồi phảng rắn, không mối mọt, độ thon nhỏ thƣờng đƣợc dùng làm nhà, làm trụ mỏ và các đồ dùng hàng ngày (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyền, 2000). Với đặc tính ƣu việt là loài cây sinh trƣởng khá nhanh, khả năng chống chịu cao, tái sinh tự nhiên tốt,. Sồi phảng thƣờng đƣợc lựa chọn trồng ở những nơi điều kiện lập địa ít bị suy thoái hoặc làm giàu rừng hay phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái. Tuy nhiên, Sồi phảng lại đang bị đe dọa bởi sự khai thác một cách bừa bãi và không có khoa học.
trong sách đỏ Việt Nam 2007, Sồi phảng đƣợc xếp hạng ở mức EN. 1 Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về Sồi phảng nhƣng chƣa có nghiên cứu nào nghiên cứu về đặc điểm sinh học cũng nhƣ bảo tồn và phát triển loài này tại huyện Thanh Chƣơng. Vì vậy việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn loài Sồi phảng (Castanopsis cerebrina (Hickel & A.Camus) Barnett) tại rừng phòng hộ xã ThanhThủy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An” là hết sức cần thiết. Phƣơng hƣớng giải quyết vấn đề của luận án là tổng kết kiến thức và kinh nghiệm trong phát triển Sồi phảng trên thế giới và trong nƣớc; nghiên cứu bổ sung một số cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học, đặc tính sinh thái học và đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển lòa tại khu vực nghiên cứu.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thế giới Sồi phảng có tên khoa học là Castanopsis cerebrina (Hickel & A.Camus) Barnett, là cây gỗ thuộc họ Dẻ (Fagaceae). Ngoài ra, Sồi phảng còn có tên khoa học đồng nghĩa khác nhƣ: Pasania cerebrina Hickel & A. Camus Lithocarpus cerebrinus (Hickel & A.
Camus Hiện nay bằng các chứng minh về mặt phân tử, giải phẫu và hình thái, tên khoa học của loài Sồi phảng đƣợc sử dụng chính thức là: Castanopsis cerebrina (Hickel & A. Trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy họ Dẻ (Fagaceae) gồm 7 chi và khoảng 600 loài, phần lớn phân bố ở vùng ôn đới bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhƣng chƣa thấy ở Nam Phi. Phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt Việt Nam có 5 chi và khoảng 12 loài và ít nhất ở Châu Phi và vùng Địa Trung Hải với chỉ có 2 loài. Nghiên cứu về phân loại, theo Bentham và Hooker (1862-1885) Nguyễn Tiến đƣợc để trong họ Cupuliferae.
Nhƣng trƣơng phái khác cho họ Dẻ là một họ riêng gồm 7-9 chi và chia làm 2-5 phân họ, nhƣ hệ thống Milchior (1964), hệ thống Menitsky (1984), Takhtajan A.L đƣa ra hệ thống phân loại khác biệt so với hệ thống phân loại cũ ông đồng ý với quan điểm của Kuprisntova (1962) tách chi Nothofagus ra khỏi fagaceae thành họ riêng. Ngoài ra có một số tác giả nhƣ Lecome H (1929-1931) trong thực vật chí Đại cƣơng Đông Dƣơng công bố họ dẻ fagaceae có 150 loài.(1973) cũng nghiên cứu về họ dẻ và đặt tên khoa học cho nhiều loài thuộc họ dẻ ở các nƣớc Đông Dƣơng. Thƣờng gặp Sồi phảng ở độ cao dƣới 1.600m so với mực nƣớc biển (Manos, Paul S., Zhe-Kun Zhou and Charles H. Họ Dẻ (Fagaceae) trên thế giới có khoảng 900 loài, phần lớn phân bố ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhƣng chƣa thấy ở Nam Phi.
Phân bố 3 tập trung nhất là ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (Khamleck, 2004). Ở Việt Nam Tại Việt Nam Sồi phảng thƣờng phân bố ở các rừng thứ sinh từ các tỉnh phía Bắc nhƣ Phú Thọ, Quảng Ninh, Yên Bái đến các tỉnh miên trung và Tây Nguyên. Thƣờng gặp Sồi phảng mọc ở độ cao 50 – 1200 so với mặt nƣớc biển. Sồi phảng là cây ƣa sáng lúc nhỏ thích hợp với độ tàn che 0,5 – 0,6 thƣờng mọc ở sƣờn ngoài bìa rừng hoặc những chỗ trống trong rừng tự nhiên.
Do thân tròn thẳng phân cành cao, độ thon nhỏ nên Sồi phảng rất thích hợp với việc trồng rừng cung cấp gỗ lớn (Lê Mộng Chân, 2000). Lập địa trồng thích hợp cho Sồi phảng là nơi ẩm mát, thoát nƣớc, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, pH 4 – 5, tầng đất 40 – 50 cm, nhiệt độ bình quân từ 18 – 250C và lƣợng mƣa từ 1.500 – 2000, độ cao dƣới 800m so với mực nƣớc biển (trang web Agriviet. Đã có những nghiên cứu về các loài thực vật thuộc họ Dẻ ở Việt Nam. Năm 1978, Võ Văn Chi và Dƣơng Đức Tiến đã cho xuất bản cuốn “Phân loại thực vật- Thực vật bậc cao”, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
Các tác giả đã đi mô tả đặc điểm của họ, chi và một số loài trong chi. Chi Sồi (Quercus) 27 loài, chi Sồi đá (Lithocarpus) 36 loài, chi Dẻ gai (Castanosis) 48 loài, chi Dẻ cao bằng 2 loài và chi Sồi cánh 1 loài. Các tác giả đã mô tả một số loài thƣờng gặp ở nƣớc ta của từng chi, đƣa ra vùng phân bố và công dụng của chúng. Trong cuốn “Thực vật rừng” NXB Nông nghiệp của hai tác giả Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000), đã mô tả đặc điểm hình thái, đặc tính sinh thái, phân bố địa lý và công dụng của Sồi phảng.
Trong cuốn Sách đỏ Việt Nam phần thực vật đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái, phân bố, giá trị, tình trạng và phân hạng loài Sồi phảng ở mức EN A1c,d. Nghiên cứu về đặc điểm sinh trƣởng của Sồi phảng, Nguyễn Văn Huy (1990) cho thấy Sồi phảng là loài có sinh trƣởng nhịp điệu, có nghĩa mỗi năm có 4 hai mùa sinh trƣởng đó là mùa xuân và mùa hạ, tạo thành hai vòng cành liền nhau. Mỗi năm Sồi phảng đổi trục một lần, một chồi bên mọc thấp hơn, đỉnh sinh trƣởng cũ ngừng sinh trƣởng và teo đi. Sồi phảng ở tuổi 2 và 3 có sự đổi ngọn đặc biệt, từ một vị trí nách lá sát đất, một chồi phát triển mạnh, sau một năm cao hơn chồi cũ.
Theo Nguyễn Bá Chất (1999) cũng có nghiên cứu đó là nghiên cứu lƣợng tăng trƣởng hàng năm của Sồi phảng khác nhau giữa cây tự nhiên và cây trồng, giữa các độ tàn che khác nhau. Kết quả cho thấy loài Sồi phảng mọc tự nhiên có lƣợng tăng trƣởng hàng năm cao nhất từ tuổi 8 đến tuổi 15, còn rừng trồng lƣợng tăng trƣởng hằng năm của Sồi phảng đạt nhanh nhất ở tuổi 6 đến tuổi 15. Sồi phảng trồng luôn có lƣợng tăng trƣởng cao hơn so với cây mọc tự nhiên ở cùng độ tuổi. Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa trên đất rừng thoái hóa ở các tỉnh phía Bắc, Hoàng Văn Thắng (2004) đã sử dụng cây Sồi phảng để trồng hỗn loài với các cây bản địa khác nhƣ Lim xanh, Vạng trứng, Trám trắng và Re gừng.
Trong 2 năm đầu Sồi phảng và các loài cây lá rộng bản địa đƣợc che bóng với lớp cây phù trợ là cây tai tƣợng và Cốt khí. Đến tuổi 3 và 4 đề tài đã tiến hành tỉa cành và tỉa lớp cây phù trợ, tạo điều kiện về không gian dinh dƣỡng cho cây Sồi phảng và loài cây bản địa khác sinh trƣởng, phát triển tốt hơn. Do đƣợc tác động các biện pháp kĩ thuật lâm sinh thích hợp mặc dù đƣợc trồng trên đối tƣợng đất rừng đã thoái hóa nhƣng ngay trong những năm đầu Sồi phảng đã đạt mức tăng trƣởng là 1,6cm/năm về đƣờng kính và 1,5m/năm về chiều cao. Kết quả sau 7 năm thực hiện mô hình cho thấy Sồi phảng có thể trồng hỗn giao theo hàng với các loài cây lá rộng bản địa khác trên đối tƣợng đất thoái hóa ở các tỉnh phía Bắc.
Nghiên cứu tạo rừng hỗn giao giữa Sồi phảng và Luồng ở Cầu Hai – Đoan Hùng – Phú Thọ (Nguyễn Thị Nhung, 2004) và ở Bình Thanh – Cao Phong – Hòa Bình (Hoàng Văn Thắng, 2008), cho thấy Sồi phảng trong mô hình sinh trƣởng tƣơng đối tốt và cũng rất có triển vọng. 5 Dự án nghiên cứu các biện pháp kĩ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở miền Bắc Việt Nam (Dự án RENFODA – Rehabilitation of Natural Forest in Degraded Watershed Area in the North of Viet Nam) của Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã dử dụng Sồi phảng và một số loài cây lá rộng bản địa khác nhƣ Dẻ đỏ, Lim xanh, Trám Trắng trồng làm giàu rừng theo rạch và theo đám cho đối tƣợng thứ sinh nghèo kiệt tại Bình Thanh – Cao Phong – Hòa Bình. Sau 4 năm thí nghiệm cho thấy Sồi phảng là loài cây có tỉ lệ sống cao, đạt95,4 – 96,3% và sinh trƣởng tƣơng đối tốt. Tăng trƣởng bình quân tại tuổi 4 về đƣờng kính là 1,4cm/năm và về chiều cao là 1,5m/năm.
Đến tuổi 4 cho thấy chƣa có sự khác nhau giữa Sồi phảng trồng theo đám và Sồi phảng trồng theo rạch.