Nghiên cứu bảo tồn loài sồi phảng castanopsis cerebrina hickel a camus barnett tại rừng phòng hộ xã thanh thủy huyện thanh chương tỉnh nghệ an

Nghiên cứu bảo tồn sồi phảng (Castanopsis cerebrina) tại rừng phòng hộ Thanh Thủy, Thanh Chương, Nghệ An. Khám phá nỗ lực bảo vệ loài cây quý hiếm.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp
68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH LỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH LỤC CÁC HÌNH ẢNH

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIẾP

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tại khu vực nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, GIỚI HẠN

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Nội dụng nghiên cứu

2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.4.2. Phương pháp phỏng vấn

2.4.3. Phương pháp điều tra ngoài nghiệp

2.4.3.1. Nghiên cứu đặc tính hình thái loài Sồi phảng
2.4.3.2. Nghiên cứu đặc tính phân bố và sinh thái
2.4.3.3. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng và tái sinh nơi có Sồi phảng phân bố

2.4.4. Phương pháp nội nghiệp

2.4.4.1. Tính các đặc trừng mẫu của các chỉ tiêu
2.4.4.2. Xác định công thức tổ thành
2.4.4.3. Tính toán mật độ rừng
2.4.4.4. Phân bố số cây theo đường kính và chiều cao

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng

3.1.3. Thời tiết khí hậu

3.1.4. Thủy văn nguồn nước

3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

3.2.1. Tình hình sử dụng đất đai

3.2.2. Tình hình cơ sở hạ tầng

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của Sồi phảng

4.1.1. Đặc điểm hình thái

4.1.2. N/Hvn của quần thể Sồi phảng

4.1.3. Tái sinh Sồi phảng dưới tán cây mẹ

4.2. Đặc tính sinh thái học của Sồi phảng tại khu vực nghiên cứu

4.3. Phân bố của quần thể Sồi phảng tại khu vực nghiên cứu

4.4. Đặc điểm cấu trúc rừng nơi Sồi phảng phân bố

4.4.1. Cấu trúc mật độ

4.4.2. Cấu trúc tổ thành tầng cây cao

4.4.3. Tổ thành theo số loài trong OTC có Sồi phảng phân bố

4.4.4. Tổ thành loài đi kèm với Sồi phảng

4.4.5. Cấu trúc tầng thứ nơi có Sồi phảng phân bố

4.5. Phân bố số cây theo đường kính(N/D) và theo chiều cao (N/H)

4.5.1. Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D)

4.5.2. Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H)

4.6. Tái sinh rừng tự nhiên nơi có Sồi phảng phân bố

4.6.1. Tổ thành và mật độ cây tái sinh

4.6.2. Nguồn gốc tái sinh

4.6.3. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao

4.6.4. Chất lượng cây tái sinh

4.7. Cây bụi thảm tươi tại rừng có Sồi phảng phân bố

4.8. Điều kiện lập địa nơi Sồi phảng phân bố

4.8.1. Đặc điểm khí hậu, thủy văn

4.8.2. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng

4.9. Một số nguyên nhân tác động đến loài Sồi phảng tại khu vực nghiên cứu

4.9.1. Do con người

4.9.1.1. Nguyên nhân trực tiếp
4.9.1.2. Nguyên nhân gián tiếp

4.9.2. Do tự nhiên

4.10. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển Sồi phảng

4.10.1. Phương pháp bảo tồn tại chỗ

4.10.2. Phương pháp bảo tồn chuyển chỗ

4.10.3. Phương pháp bảo tồn khác

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá Sồi phảng Castanopsis cerebrina quý hiếm tại Nghệ An

Loài Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), một thành viên của họ Dẻ (Fagaceae), là một cây gỗ quý hiếm và là loài bản địa có giá trị cao về kinh tế và sinh thái. Gỗ sồi phảng nổi tiếng với đặc tính rắn chắc, không bị mối mọt, được ứng dụng trong xây dựng và làm đồ gia dụng. Tuy nhiên, tình trạng khai thác quá mức đã đẩy loài cây này vào danh sách bị đe dọa, đòi hỏi các nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học cấp thiết. Nghiên cứu này tập trung vào quần thể Sồi phảng tại rừng phòng hộ xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, một khu vực có giá trị sinh thái quan trọng, gần với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát. Mục tiêu là cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho các giải pháp bảo tồn và phát triển loài một cách bền vững.

1.1. Giới thiệu giá trị kinh tế của sồi phảng và vai trò sinh thái

Castanopsis cerebrina được biết đến là loài cây đa tác dụng. Về mặt kinh tế, gỗ Sồi phảng thuộc nhóm IV, có thớ gỗ rắn, bền, ít bị mối mọt, thớ gỗ mịn đẹp nên rất được ưa chuộng để làm nhà, trụ mỏ, và các đồ dùng gia dụng cao cấp. Ngoài ra, vỏ cây còn có thể được sử dụng để chiết xuất tannin, một nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp thuộc da. Về mặt sinh thái, Sồi phảng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ sinh thái rừng phòng hộ. Là một loài cây bản địa, nó góp phần làm giàu đa dạng thực vật Nghệ An, cung cấp nơi cư trú và nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật hoang dã. Khả năng tái sinh tự nhiên tốt và sinh trưởng nhanh giúp loài này trở thành lựa chọn ưu tiên trong các chương trình phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái và làm giàu rừng, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của khu vực.

1.2. Vị trí Sồi phảng trong Sách đỏ Việt Nam và danh lục IUCN

Mặc dù có giá trị cao, hiện trạng quần thể Sồi phảng đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Do bị khai thác quá mức và thiếu các biện pháp quản lý khoa học, loài này đã bị suy giảm đáng kể về số lượng và chất lượng. Trong Sách đỏ Việt Nam (2007), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina) được xếp ở hạng EN A1c,d (Nguy cấp). Mức phân hạng này cho thấy quần thể đã suy giảm nghiêm trọng, trên 50%, do môi trường sống bị thu hẹp hoặc chất lượng môi trường sống bị suy giảm. Mặc dù danh lục IUCN (Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế) chưa có đánh giá cụ thể ở cấp toàn cầu, việc nằm trong Sách đỏ Việt Nam đã là một cảnh báo cấp bách về nguy cơ tuyệt chủng của nguồn gen thực vật quý giá này. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu và hành động bảo tồn ngay lập tức để bảo vệ loài cây này khỏi nguy cơ biến mất.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu bảo tồn tại rừng phòng hộ Thanh Thủy

Nghiên cứu được thực hiện tại rừng phòng hộ xã Thanh Thủy, Nghệ An nhằm ba mục tiêu cụ thể. Thứ nhất, đánh giá hiện trạng quần thể, các đặc điểm sinh thái học và sinh học của loài Sồi phảng (Castanopsis cerebrina) trong điều kiện tự nhiên tại khu vực. Công việc này bao gồm việc xác định phân bố, mật độ, cấu trúc tuổi và khả năng tái sinh. Thứ hai, xác định các yếu tố ảnh hưởng và các mối đe dọa chính, bao gồm cả tác động trực tiếp và gián tiếp từ con người cũng như các yếu tố tự nhiên. Việc hiểu rõ nguyên nhân suy giảm là nền tảng để xây dựng giải pháp hiệu quả. Thứ ba, dựa trên các kết quả thu thập được, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài một cách khoa học và khả thi. Các giải pháp này bao gồm cả bảo tồn tại chỗ (in-situ), bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) và nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương.

II. Hiện trạng quần thể Sồi phảng và các mối đe dọa cấp bách

Quần thể Sồi phảng (Castanopsis cerebrina) tại rừng phòng hộ Thanh Thủy đang phải đối mặt với áp lực lớn từ nhiều phía. Các hoạt động khai thác gỗ trái phép, dù đã giảm, vẫn còn tồn tại, nhắm vào những cây trưởng thành có giá trị kinh tế cao, làm suy giảm chất lượng nguồn gen thực vật. Việc mở rộng đất nông nghiệp và các hoạt động dân sinh khác cũng làm thu hẹp môi trường sống tự nhiên của loài. Bên cạnh đó, các yếu tố tự nhiên như biến đổi khí hậu, sâu bệnh hại, và khả năng phát tán hạt giống hạn chế cũng là những thách thức không nhỏ. Việc đánh giá chính xác hiện trạng quần thể và xác định rõ ràng các mối đe dọa là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất trong việc xây dựng một chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả và bền vững cho loài cây quý hiếm này.

2.1. Đánh giá phân bố và mật độ Sồi phảng tại khu vực nghiên cứu

Kết quả khảo sát thực địa cho thấy Sồi phảng phân bố khá rộng tại khu vực nghiên cứu, chủ yếu ở vành đai độ cao từ 560 – 900m so với mực nước biển. Loài này thường được tìm thấy ở chân núi, sườn núi và dọc các khe suối nơi có độ dốc trung bình từ 16 – 20 độ. Điều này cho thấy đặc điểm sinh thái học của loài thích nghi với điều kiện ẩm và thoát nước tốt. Mật độ trung bình của toàn lâm phần là 275 cây/ha, trong đó mật độ riêng của Sồi phảng là 80 cây/ha, chiếm tỷ lệ 29,09%. Mặc dù chiếm tỷ lệ cao, nhưng cấu trúc quần thể cho thấy sự thiếu hụt các cây gỗ lớn, vượt tán, phần lớn các cá thể tập trung ở nhóm cây trưởng thành và cây nhỏ. Điều này phản ánh áp lực khai thác trong quá khứ đã tác động đến cấu trúc rừng, làm ảnh hưởng đến sự ổn định lâu dài của hệ sinh thái rừng phòng hộ.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng từ con người và nguyên nhân tự nhiên

Các mối đe dọa đến Sồi phảng bắt nguồn từ hai nhóm nguyên nhân chính: con người và tự nhiên. Về phía con người, nguyên nhân trực tiếp là hoạt động khai thác gỗ trái phép để lấy gỗ làm nhà và đồ gia dụng. Nguyên nhân gián tiếp bao gồm việc mở rộng canh tác nông nghiệp, làm mất môi trường sống và gây suy thoái đất. Vai trò của cộng đồng địa phương rất quan trọng, nhưng nhận thức về bảo tồn còn hạn chế có thể dẫn đến các hoạt động gây hại cho rừng. Về mặt tự nhiên, Castanopsis cerebrina có đặc điểm quả nặng, khiến khả năng phát tán hạt giống rất hẹp, chủ yếu chỉ quanh gốc cây mẹ. Điều này làm hạn chế khả năng mở rộng quần thể sang các khu vực mới. Ngoài ra, các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán kéo dài hay bão lũ cũng là các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến sự sinh trưởng và tái sinh của loài, đặc biệt là các cây non.

III. Phương pháp phân tích đặc điểm sinh học và sinh thái Sồi phảng

Để có cái nhìn toàn diện về Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), nghiên cứu đã áp dụng một hệ thống phương pháp khoa học chặt chẽ. Việc điều tra thực địa được tiến hành trên các tuyến và ô tiêu chuẩn đại diện, kết hợp giữa quan sát trực tiếp và thu thập số liệu định lượng. Các đặc điểm hình thái được mô tả chi tiết từ thân, lá, hoa, quả để định danh chính xác. Các đặc điểm sinh thái học như phân bố theo độ cao, điều kiện lập địa, và khả năng tái sinh được phân tích kỹ lưỡng. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng các công cụ thống kê lâm nghiệp để xác định cấu trúc mật độ, tổ thành loài, và các chỉ số quan trọng khác. Cách tiếp cận đa phương pháp này đảm bảo kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao, làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp.

3.1. Phân tích các đặc điểm hình thái nhận dạng của loài Sồi phảng

Việc nhận dạng chính xác loài là nền tảng cho công tác bảo tồn. Tại khu vực nghiên cứu, Sồi phảng là cây gỗ lớn, cao từ 7 – 25m, đường kính thân từ 6,6 – 35,4cm. Thân cây thẳng, phân cành cao, vỏ có màu xám nhạt với các vết nứt dọc. Một trong những đặc điểm hình thái nổi bật là thịt vỏ dày (1 – 1,3cm) và có màu đỏ thẫm. Lá đơn, mọc cách, hình trứng ngược, mặt dưới lá phủ một lớp lông ngắn màu gỉ sắt óng ánh đặc trưng. Gân bên có khoảng 16 – 18 đôi, kéo dài tới đỉnh các răng cưa nhọn ở mép lá. Các đặc điểm này hoàn toàn phù hợp với mô tả trong các tài liệu thực vật học và mẫu chuẩn của loài Castanopsis cerebrina, giúp khẳng định chính xác đối tượng nghiên cứu và phục vụ công tác quản lý, nhận diện loài ngoài thực địa một cách hiệu quả.

3.2. Đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên mạnh mẽ dưới tán cây mẹ

Nghiên cứu cho thấy Sồi phảng có khả năng tái sinh tự nhiên rất cao, là một tín hiệu tích cực cho công tác bảo tồn. Mật độ cây tái sinh của loài này đạt 860 cây/ha, chiếm 21,83% tổng số cây tái sinh trong khu vực. Đáng chú ý, nguồn gốc tái sinh từ hạt chiếm tỷ lệ áp đảo với 88,37%, cho thấy quần thể có sức sống và khả năng duy trì nguồn gen thực vật tốt. Phân tích sự phân bố cây tái sinh dưới tán cây mẹ chỉ ra rằng, cây con tập trung nhiều nhất ở vị trí mép tán (40%) và trong tán (38,12%), trong khi ngoài tán chỉ chiếm 21,88%. Điều này khẳng định cơ chế phát tán hạt hạn chế, chủ yếu rơi quanh gốc mẹ. Chất lượng cây tái sinh được đánh giá tốt, phần lớn là cây khỏe mạnh, không sâu bệnh, hứa hẹn sẽ bổ sung vào tầng cây gỗ trong tương lai nếu được bảo vệ tốt, góp phần vào sự phát triển bền vững của lâm phần.

IV. Phân tích cấu trúc rừng nơi Sồi phảng phân bố tại Thanh Thủy

Cấu trúc rừng là yếu tố phản ánh sức khỏe và mức độ ổn định của một hệ sinh thái rừng phòng hộ. Tại khu vực có Sồi phảng (Castanopsis cerebrina) phân bố, lâm phần thể hiện rõ đặc điểm của rừng thứ sinh hỗn loài lá rộng thường xanh, đã chịu tác động của con người. Nghiên cứu cấu trúc rừng tập trung vào các chỉ tiêu chính: cấu trúc mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tầng thứ, và phân bố số cây theo đường kính và chiều cao. Kết quả phân tích cho thấy Sồi phảng không chỉ có mật độ cao mà còn giữ vai trò là loài ưu thế sinh thái, có mặt ở tất cả các tầng tán của rừng. Hiểu rõ cấu trúc này giúp đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm điều chỉnh, nuôi dưỡng và thúc đẩy sự phát triển của loài mục tiêu trong nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học.

4.1. Cấu trúc tổ thành và vai trò ưu thế của Castanopsis cerebrina

Phân tích tổ thành loài là một trong những nội dung cốt lõi để hiểu về hệ sinh thái rừng phòng hộ. Tại các ô tiêu chuẩn, Sồi phảng luôn là loài chiếm ưu thế vượt trội. Chỉ số giá trị quan trọng (IV%) của loài này dao động từ 26,22% đến 36,84%, luôn đứng ở vị trí số 1 trong công thức tổ thành. Điều này khẳng định vai trò ưu thế cả về mặt sinh thái và sản lượng của Castanopsis cerebrina trong lâm phần. Rừng tại khu vực nghiên cứu là rừng hỗn loài với mức độ đa dạng khá cao, ghi nhận 31 loài cây gỗ. Các loài cây đi kèm thường gặp bao gồm Táu mật (Vatica odorata), Ngát (Gironniera subaequalis), Máu chó lá to (Horsfieldia amygdalina), và Gội tẻ (Aphanamixis grandifolia). Sự đa dạng về tổ thành này tạo nên một hệ sinh thái ổn định, là điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

4.2. Phân bố số cây theo đường kính N D và chiều cao N H

Phân bố số cây theo đường kính (N/D) và chiều cao (N/H) cho thấy cấu trúc của quần thể. Đối với Sồi phảng, phân bố N/D có dạng giảm, tập trung nhiều ở các cấp đường kính nhỏ (<30cm), trong khi số lượng cây có đường kính lớn rất ít. Tương tự, phân bố N/H cũng không liên tục và bị gãy khúc. Cả hai biểu đồ này đều cho thấy một cấu trúc rừng đã bị tác động, có thể do khai thác chọn lọc các cây gỗ lớn trong quá khứ. Tuy nhiên, số lượng lớn cây ở cấp đường kính và chiều cao trung bình và nhỏ, cùng với khả năng tái sinh mạnh, cho thấy quần thể có tiềm năng phục hồi rất lớn. Nếu được bảo vệ và quản lý tốt, hiện trạng quần thể sẽ dần ổn định, góp phần nâng cao chất lượng rừng và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.

V. Top giải pháp bảo tồn Sồi phảng tại chỗ và chuyển chỗ hiệu quả

Từ những kết quả phân tích về sinh học, sinh thái và hiện trạng, nghiên cứu đề xuất một hệ thống các giải pháp bảo tồn toàn diện cho Sồi phảng (Castanopsis cerebrina). Các giải pháp này được xây dựng dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa khoa học và thực tiễn, giữa bảo vệ và phát triển. Trọng tâm là hai phương pháp chính: bảo tồn tại chỗ (in-situ) nhằm bảo vệ quần thể và hệ sinh thái nguyên vị, và bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) để lưu giữ nguồn gen và nhân giống phục vụ trồng rừng. Sự thành công của các giải pháp này phụ thuộc rất lớn vào việc tăng cường quản lý, ứng dụng kỹ thuật lâm sinh và đặc biệt là huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho cả hệ sinh thái và người dân địa phương.

5.1. Triển khai phương pháp bảo tồn tại chỗ in situ hiệu quả

Phương pháp bảo tồn tại chỗ (in-situ) là ưu tiên hàng đầu, tập trung vào việc bảo vệ quần thể Sồi phảng ngay tại môi trường sống tự nhiên của chúng. Giải pháp cụ thể bao gồm: khoanh vùng, bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có Sồi phảng mọc tập trung, đặc biệt là những nơi có nhiều cây mẹ và cây tái sinh chất lượng tốt. Cần tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát để ngăn chặn triệt để hành vi khai thác gỗ trái phép. Đồng thời, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như phát quang dây leo, cây bụi xâm lấn để tạo điều kiện cho cây tái sinh Sồi phảng phát triển. Xây dựng các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là một hướng đi quan trọng để phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ, giúp duy trì sự đa dạng di truyền của nguồn gen thực vật quý này ngay tại nơi nó tồn tại.

5.2. Kỹ thuật bảo tồn chuyển chỗ ex situ và phát triển giống

Bên cạnh bảo tồn tại chỗ, bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) đóng vai trò dự phòng và nhân rộng. Giải pháp này bao gồm việc thu thập hạt giống từ những cây mẹ ưu tú trong khu vực nghiên cứu để xây dựng các vườn giống và vườn sưu tập thực vật. Các cây con được nhân giống trong vườn ươm sẽ được sử dụng để trồng làm giàu rừng ở những khu vực bị suy thoái hoặc trồng trong các mô hình nông lâm kết hợp. Kỹ thuật này không chỉ giúp lưu giữ nguồn gen thực vật quý của Castanopsis cerebrina mà còn góp phần nâng cao giá trị kinh tế của sồi phảng thông qua việc cung cấp cây giống chất lượng cao cho các chương trình trồng rừng. Việc phát triển giống tốt cũng là nền tảng để phục vụ các dự án trồng rừng gỗ lớn trong tương lai, đáp ứng nhu cầu của thị trường và giảm áp lực lên rừng tự nhiên.

5.3. Nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương trong bảo tồn

Vai trò của cộng đồng địa phương là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của mọi nỗ lực bảo tồn. Cần triển khai các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về giá trị của Sồi phảng và tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học. Xây dựng các cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng từ việc bảo vệ rừng, chẳng hạn như chi trả dịch vụ môi trường rừng, phát triển du lịch sinh thái. Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng, thu hái hạt giống và trồng cây Sồi phảng trong các mô hình kinh tế vườn rừng. Khi người dân thấy được lợi ích trực tiếp từ việc bảo tồn, họ sẽ trở thành những người bảo vệ hiệu quả nhất, đảm bảo sự phát triển bền vững cho cả khu rừng và cuộc sống của chính họ.

04/10/2025
Nghiên cứu bảo tồn loài sồi phảng castanopsis cerebrina hickel a camus barnett tại rừng phòng hộ xã thanh thủy huyện thanh chương tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU Rừng có một vị trí rất quan trọng trong đời sống con ngƣời đặc biệt là đối với cuộc sống của các đồng bào dân tộc miền núi. Trong nhiều năm qua, cùng với sự bùng, sự “lợi dụng” tài nguyên một cách thiếu khoa học, việc sử dụng rừng chủ yếu với mục tiêu khai thác gỗ là chính và những nguyên nhân khác làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp về diện tích và giảm sút về chất lƣợng. Năm 1945 diện tích rừng nƣớc ta khoảng 14,3 triệu ha đạt tỷ lệ che phủ là 43% trong đó chủ yếu là rừng tự nhiên, chất lƣợng tốt, đến năm 1990 chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha đạt tỷ lệ che phủ là 28,4%, chất lƣợng rừng rất thấp. Với sự nỗ lực bảo vệ và phát triển rừng của toàn xã hội, đến năm 2013, tổng diện tích rừng nƣớc ta đã tăng lên là 13,95 triệu ha, trong đó khoảng 10,40 triệu ha rừng tự nhiên và 3,56 triệu ha rừng trồng, độ che phủ rừng là 41,0% (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT), 2014).

Tuy nhiên, chất lƣợng rừng kém, trữ lƣợng thấp, khả năng phục hồi chậm, loài cây có giá trị kinh tế ít, đa số là cây gỗ mọc nhanh, nhập ngoại, chủ yếu để sản xuất gỗ nhỏ, không đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện nay và trong tƣơng lai. Trong bỗi cảnh nhƣ vậy, chúng ta cần nhận thức đƣợc tầm quan trọng của rừng đối với xã hội. Vì vậy chung ta cần làm gì để bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển rừng theo hƣớng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Sồi phảng (Castanopsis cerebrina (Hickel & A.Camus) Barnett) đƣợc biết đến là loài cây bản địa gỗ lớn, đa tác dụng (lấy gỗ, phòng hộ, vỏ làm nguyên liệu chiết xuất ta nin) và có phân bố rộng.

Gỗ Sồi phảng rắn, không mối mọt, độ thon nhỏ thƣờng đƣợc dùng làm nhà, làm trụ mỏ và các đồ dùng hàng ngày (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyền, 2000). Với đặc tính ƣu việt là loài cây sinh trƣởng khá nhanh, khả năng chống chịu cao, tái sinh tự nhiên tốt,. Sồi phảng thƣờng đƣợc lựa chọn trồng ở những nơi điều kiện lập địa ít bị suy thoái hoặc làm giàu rừng hay phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái. Tuy nhiên, Sồi phảng lại đang bị đe dọa bởi sự khai thác một cách bừa bãi và không có khoa học.

trong sách đỏ Việt Nam 2007, Sồi phảng đƣợc xếp hạng ở mức EN. 1 Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về Sồi phảng nhƣng chƣa có nghiên cứu nào nghiên cứu về đặc điểm sinh học cũng nhƣ bảo tồn và phát triển loài này tại huyện Thanh Chƣơng. Vì vậy việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn loài Sồi phảng (Castanopsis cerebrina (Hickel & A.Camus) Barnett) tại rừng phòng hộ xã ThanhThủy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An” là hết sức cần thiết. Phƣơng hƣớng giải quyết vấn đề của luận án là tổng kết kiến thức và kinh nghiệm trong phát triển Sồi phảng trên thế giới và trong nƣớc; nghiên cứu bổ sung một số cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học, đặc tính sinh thái học và đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển lòa tại khu vực nghiên cứu.

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thế giới Sồi phảng có tên khoa học là Castanopsis cerebrina (Hickel & A.Camus) Barnett, là cây gỗ thuộc họ Dẻ (Fagaceae). Ngoài ra, Sồi phảng còn có tên khoa học đồng nghĩa khác nhƣ: Pasania cerebrina Hickel & A. Camus Lithocarpus cerebrinus (Hickel & A.

Camus Hiện nay bằng các chứng minh về mặt phân tử, giải phẫu và hình thái, tên khoa học của loài Sồi phảng đƣợc sử dụng chính thức là: Castanopsis cerebrina (Hickel & A. Trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy họ Dẻ (Fagaceae) gồm 7 chi và khoảng 600 loài, phần lớn phân bố ở vùng ôn đới bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhƣng chƣa thấy ở Nam Phi. Phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt Việt Nam có 5 chi và khoảng 12 loài và ít nhất ở Châu Phi và vùng Địa Trung Hải với chỉ có 2 loài. Nghiên cứu về phân loại, theo Bentham và Hooker (1862-1885) Nguyễn Tiến đƣợc để trong họ Cupuliferae.

Nhƣng trƣơng phái khác cho họ Dẻ là một họ riêng gồm 7-9 chi và chia làm 2-5 phân họ, nhƣ hệ thống Milchior (1964), hệ thống Menitsky (1984), Takhtajan A.L đƣa ra hệ thống phân loại khác biệt so với hệ thống phân loại cũ ông đồng ý với quan điểm của Kuprisntova (1962) tách chi Nothofagus ra khỏi fagaceae thành họ riêng. Ngoài ra có một số tác giả nhƣ Lecome H (1929-1931) trong thực vật chí Đại cƣơng Đông Dƣơng công bố họ dẻ fagaceae có 150 loài.(1973) cũng nghiên cứu về họ dẻ và đặt tên khoa học cho nhiều loài thuộc họ dẻ ở các nƣớc Đông Dƣơng. Thƣờng gặp Sồi phảng ở độ cao dƣới 1.600m so với mực nƣớc biển (Manos, Paul S., Zhe-Kun Zhou and Charles H. Họ Dẻ (Fagaceae) trên thế giới có khoảng 900 loài, phần lớn phân bố ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhƣng chƣa thấy ở Nam Phi.

Phân bố 3 tập trung nhất là ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (Khamleck, 2004). Ở Việt Nam Tại Việt Nam Sồi phảng thƣờng phân bố ở các rừng thứ sinh từ các tỉnh phía Bắc nhƣ Phú Thọ, Quảng Ninh, Yên Bái đến các tỉnh miên trung và Tây Nguyên. Thƣờng gặp Sồi phảng mọc ở độ cao 50 – 1200 so với mặt nƣớc biển. Sồi phảng là cây ƣa sáng lúc nhỏ thích hợp với độ tàn che 0,5 – 0,6 thƣờng mọc ở sƣờn ngoài bìa rừng hoặc những chỗ trống trong rừng tự nhiên.

Do thân tròn thẳng phân cành cao, độ thon nhỏ nên Sồi phảng rất thích hợp với việc trồng rừng cung cấp gỗ lớn (Lê Mộng Chân, 2000). Lập địa trồng thích hợp cho Sồi phảng là nơi ẩm mát, thoát nƣớc, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, pH 4 – 5, tầng đất 40 – 50 cm, nhiệt độ bình quân từ 18 – 250C và lƣợng mƣa từ 1.500 – 2000, độ cao dƣới 800m so với mực nƣớc biển (trang web Agriviet. Đã có những nghiên cứu về các loài thực vật thuộc họ Dẻ ở Việt Nam. Năm 1978, Võ Văn Chi và Dƣơng Đức Tiến đã cho xuất bản cuốn “Phân loại thực vật- Thực vật bậc cao”, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

Các tác giả đã đi mô tả đặc điểm của họ, chi và một số loài trong chi. Chi Sồi (Quercus) 27 loài, chi Sồi đá (Lithocarpus) 36 loài, chi Dẻ gai (Castanosis) 48 loài, chi Dẻ cao bằng 2 loài và chi Sồi cánh 1 loài. Các tác giả đã mô tả một số loài thƣờng gặp ở nƣớc ta của từng chi, đƣa ra vùng phân bố và công dụng của chúng. Trong cuốn “Thực vật rừng” NXB Nông nghiệp của hai tác giả Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000), đã mô tả đặc điểm hình thái, đặc tính sinh thái, phân bố địa lý và công dụng của Sồi phảng.

Trong cuốn Sách đỏ Việt Nam phần thực vật đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái, phân bố, giá trị, tình trạng và phân hạng loài Sồi phảng ở mức EN A1c,d. Nghiên cứu về đặc điểm sinh trƣởng của Sồi phảng, Nguyễn Văn Huy (1990) cho thấy Sồi phảng là loài có sinh trƣởng nhịp điệu, có nghĩa mỗi năm có 4 hai mùa sinh trƣởng đó là mùa xuân và mùa hạ, tạo thành hai vòng cành liền nhau. Mỗi năm Sồi phảng đổi trục một lần, một chồi bên mọc thấp hơn, đỉnh sinh trƣởng cũ ngừng sinh trƣởng và teo đi. Sồi phảng ở tuổi 2 và 3 có sự đổi ngọn đặc biệt, từ một vị trí nách lá sát đất, một chồi phát triển mạnh, sau một năm cao hơn chồi cũ.

Theo Nguyễn Bá Chất (1999) cũng có nghiên cứu đó là nghiên cứu lƣợng tăng trƣởng hàng năm của Sồi phảng khác nhau giữa cây tự nhiên và cây trồng, giữa các độ tàn che khác nhau. Kết quả cho thấy loài Sồi phảng mọc tự nhiên có lƣợng tăng trƣởng hàng năm cao nhất từ tuổi 8 đến tuổi 15, còn rừng trồng lƣợng tăng trƣởng hằng năm của Sồi phảng đạt nhanh nhất ở tuổi 6 đến tuổi 15. Sồi phảng trồng luôn có lƣợng tăng trƣởng cao hơn so với cây mọc tự nhiên ở cùng độ tuổi. Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa trên đất rừng thoái hóa ở các tỉnh phía Bắc, Hoàng Văn Thắng (2004) đã sử dụng cây Sồi phảng để trồng hỗn loài với các cây bản địa khác nhƣ Lim xanh, Vạng trứng, Trám trắng và Re gừng.

Trong 2 năm đầu Sồi phảng và các loài cây lá rộng bản địa đƣợc che bóng với lớp cây phù trợ là cây tai tƣợng và Cốt khí. Đến tuổi 3 và 4 đề tài đã tiến hành tỉa cành và tỉa lớp cây phù trợ, tạo điều kiện về không gian dinh dƣỡng cho cây Sồi phảng và loài cây bản địa khác sinh trƣởng, phát triển tốt hơn. Do đƣợc tác động các biện pháp kĩ thuật lâm sinh thích hợp mặc dù đƣợc trồng trên đối tƣợng đất rừng đã thoái hóa nhƣng ngay trong những năm đầu Sồi phảng đã đạt mức tăng trƣởng là 1,6cm/năm về đƣờng kính và 1,5m/năm về chiều cao. Kết quả sau 7 năm thực hiện mô hình cho thấy Sồi phảng có thể trồng hỗn giao theo hàng với các loài cây lá rộng bản địa khác trên đối tƣợng đất thoái hóa ở các tỉnh phía Bắc.

Nghiên cứu tạo rừng hỗn giao giữa Sồi phảng và Luồng ở Cầu Hai – Đoan Hùng – Phú Thọ (Nguyễn Thị Nhung, 2004) và ở Bình Thanh – Cao Phong – Hòa Bình (Hoàng Văn Thắng, 2008), cho thấy Sồi phảng trong mô hình sinh trƣởng tƣơng đối tốt và cũng rất có triển vọng. 5 Dự án nghiên cứu các biện pháp kĩ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở miền Bắc Việt Nam (Dự án RENFODA – Rehabilitation of Natural Forest in Degraded Watershed Area in the North of Viet Nam) của Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã dử dụng Sồi phảng và một số loài cây lá rộng bản địa khác nhƣ Dẻ đỏ, Lim xanh, Trám Trắng trồng làm giàu rừng theo rạch và theo đám cho đối tƣợng thứ sinh nghèo kiệt tại Bình Thanh – Cao Phong – Hòa Bình. Sau 4 năm thí nghiệm cho thấy Sồi phảng là loài cây có tỉ lệ sống cao, đạt95,4 – 96,3% và sinh trƣởng tƣơng đối tốt. Tăng trƣởng bình quân tại tuổi 4 về đƣờng kính là 1,4cm/năm và về chiều cao là 1,5m/năm.

Đến tuổi 4 cho thấy chƣa có sự khác nhau giữa Sồi phảng trồng theo đám và Sồi phảng trồng theo rạch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ