ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta có một hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, bao gồm 12.000 loài thực vật, trong đó có khoảng 30% số loài là đặc hữu và đã có trên 7.000 loài được nhận biết. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm diện tích, chất lượng và hệ sinh thái rừng của nước ta bị suy thoái nghiêm trọng. Nhiều loài thực vật rừng quý hiếm đang bị khai thác, chặt hạ trái phép nên đang đứng trước nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng. Nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Ngọc Sơn - Ngổ Luông là hành lang nối liền Vườn Quốc gia Cúc Phương và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông của tỉnh Thanh Hóa.
Với tổng diện tích tự nhiên hiện nay là 19.254 ha, Khu bảo tồn nằm trải dài trên 7 xã vùng cao thuộc 2 huyện Tân Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hòa Bình. Đây là KBTTN có giá trị đa dạng sinh học cao nhất trên địa bàn tỉnh hiện nay. Khu bảo tồn có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi điển hình đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, giữ và cung cấp nguồn nước tưới, điều hòa khí hậu, duy trì độ che phủ rừng trên 86%. Nơi đây đã và đang mang lại lợi ích không chỉ cho cộng đồng dân cư trong khu vực, mà còn có giá trị to lớn trong bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, cung cấp lâm sản, nguồn dược liệu quý.
Khu bảo tồn cũng là nơi lưu giữ, bảo tồn các nguồn gen quý, mẫu chuẩn hệ sinh thái có giá trị trong nước cũng như trên thế giới. Mun (Diospyros mun A. ex Lecomte) thuộc họ Thị (Ebenaceae), là loài cây bản địa của Việt Nam. Trước đây loài cây này có phân bố tự nhiên ở nhiều tỉnh trong cả nước như Ninh Bình, Hòa Bình, Tuyên Quang, Quảng Bình, Khánh Hòa, Ninh Thuận.
Hiện nay chúng chỉ còn ở một số ít Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên hoặc rừng cấm. Mun đã và đang bị khai thác rất mạnh, số lượng cá thể và quần thể bị giảm sút một cách nhanh chóng. Theo các tiêu chí IUCN (2021), loài Mun (Diospyros mun A. ex 2 Lecomte) hiện được xếp ở tình trạng Rất nguy cấp (Critically Endangered A1cd ver 2.
Tại Việt Nam loài này đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 ở mức Nguy cấp (EN A1c,d, B1+2a) và được pháp luật bảo vệ (thuộc nhóm IIA trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP). Mun trong tự nhiên đang bị đe dọa nghiêm trọng và đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Theo báo cáo tổng kết về thực vật, Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông có loài Mun phân bố tự nhiên. Tuy nhiên tại đây đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện để bảo tồn cây quý hiếm này.
Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Mun (Diospyros mun A. ex Lecomte) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình". TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế giới Trong những thập niên vừa qua, sự phát triển kinh tế của thế giới cùng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đem lại thịnh vượng cho con người, nhưng cũng tác động mạnh mẽ đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Đất đai ở nhiều lãnh thổ bị xói mòn, nhiều nguồn nước bị ô nhiễm, nhưng nghiêm trọng hơn là nhiều hệ sinh thái (HST) đa dạng, bao gồm cả trên cạn và dưới nước, đã bị suy thoái trầm trọng hoặc bị hủy diệt, nhiều loài động thực vật đã bị tuyệt chủng. Hậu quả của suy thoái tài nguyên thiên nhiên và thất thoát đa dạng sinh học (ĐDSH) này là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới tiến trình phát triển bền vững (PTBV) trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay. Nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học trong phát triển trên thế giới, các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức bảo tồn và phát triển khác đã có những cam kết trong công tác bảo tồn ĐDSH, đồng thời thúc đẩy tiến trình PTBV trong mối quan hệ hài hòa. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện, như xây dựng nền tảng lý thuyết, đến các hoạt động thực tiễn, có quy mô rộng khắp thế giới đã được triển khai, nhằm đảm bảo vai trò quan trọng của ĐDSH trong sự nghiệp PTBV của con người.
Trên thế giới, trong mấy chục năm vừa qua, đặc biệt từ khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết, công tác bảo tồn đa dạng sinh học dần dần dịch chuyển từ việc bảo tồn các hệ sinh thái và các loài sang sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học theo hướng bền vững, nhằm phục vụ lợi ích của con người. Song song với tiến trình đó, từ năm 1992, khi Chương trình Nghị sự 21 được các nước cam kết thực hiện, sự nghiệp phát triển bền vững đã đi vào thực chất, với việc thúc đẩy ba trụ cột là kinh tế-xã hội-môi trường, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học như là nền tảng cho sự thịnh vượng của con người. 4 Tăng trưởng xanh là con đường phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khi sự phát triển phải gắn chặt với sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên đa dạng sinh học và giảm phát thải khí nhà kính để ứng phó với biến đổi khí hậu. Một hệ thống thể chế chính sách toàn cầu đã được thiết lập, với việc áp dụng các nguyên lý phát triển bền vững và cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái, làm nền tảng để đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Hệ thống các khu bảo tồn trên thế giới ngày càng được phát triển và hoàn thiện để bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học cho sự phát triển bền vững cho tương lai. Hệ thống các khu dự trữ sinh quyển cũng đang được hình thành và ngày càng phát triển là hình mẫu và là phòng thí nghiệm sống để thực hành phát triển bền vững. Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam và KBTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông 1. Công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tới bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững.
Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường và phát triển năm 1992 và sau đó đã ký Công ước Đa dạng sinh học. Một hệ thống thể chế, các chính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững đã được xây dựng khá đầy đủ ở Việt Nam (Bảng 1. Việt Nam đã thành lập Hội đồng Phát triển Bền vững từ năm 2005, là đại diện của các bộ, ngành địa phương, do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch. Văn phòng Phát triển Bền vững, trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm cơ quan thư ký cho Hội đồng.
Ngoài ra, một số bộ như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương cũng thành lập ban chỉ đạo PTBV ngành và văn phòng PTBV của bộ mình, nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững. Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng thành lập Văn phòng Doanh nghiệp vì sự Phát triển Bền vững, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp. Các mốc chính thực hiện phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Thời gian Sự kiện chính 1993,1998, Luật Bảo vệ môi trường 2014 Nghị quyết của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời 1998 kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 2003 Thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường 2003 Chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường Định hướng chiến lược về Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam). Văn phòng Phát 2004 triển Bền vững (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) được thành lập Luật Bảo vệ và phát triển rừng Hội đồng Phát triển Bền vững Quốc gia đã được thành lập; Ban Chỉ đạo Phát triển Bền vững Tài nguyên và Môi trường 2005 (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Ban Chỉ đạo PTBV ngành Công nghiệp (Bộ Công Thương) được thành lập Văn phòng Doanh nghiệp vì sự Phát triển Bền vững (Phòng 2006 Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) được thành lập 2008 Luật Đa dạng sinh học Chiến lược Phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020; Chiến 2012 lược quốc gia về Tăng trưởng xanh; Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Kế hoạch hành động quốc gia về Phát triển bền vững giai đoạn 2013 2013-2015 Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020; Quy hoạch tổng thể Bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược 2014 Quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 2015 Luật Tài nguyên và môi trường biển và hải đảo 2017 Luật lâm nghiệp 6 Bảo tồn đa dạng sinh học thường được gắn với quá trình nhận thức về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Công tác bảo tồn đa dạng sinh học và sự nghiệp phát triển bền vững được thúc đẩy khi hệ thống thể chế và các chính sách, luật pháp về bảo tồn và phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện. Luật Đa dạng sinh học và Luật Lâm nghiệp được ban hành đã thúc đẩy quá trình sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đặc biệt là hỗ trợ công tác xóa đói giảm nghèo. Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái cũng bước đầu được áp dụng để làm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, đảm bảo thực hiện đồng thời mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay ở nước ta. Hệ thống các khu bảo tồn ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và hệ thống các khu dự trữ sinh quyển đang được xây dựng là những địa chỉ thực hành cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển sinh kế địa phương và xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững.