MỞ ĐẦU Theo xu hướng chung hiện nay, con người ngày càng ưa dùng sản phẩm từthiên nhiên để chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ. Thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiênngoài những ưu điểm như ít tác dụng phụ, rẻ tiền thì hiện nay là hướng phát triểncủa Công nghiệp Dược trong nước và cũng là xu hướng của thế giới. Bên cạnh sự phát triển của thuốc tổng hợp hóa dược thì thuốc có nguồn gốc từ dược liệu cũng có những phát triển đáng kể và chiếm được lòng tin của người sử dụng. Theo đánh giá của WHO thuốc có nguồn gốc tự nhiên được sử dụng ở những nước đang phát triển với con số 80 % dân số sử dụng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, ở những nước phát triển thuốc thảo dược cũng được sử dụng rất phổ biến như là một biện pháp hỗ trợ và thay thế.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, đã cung cấp hàng ngàn loại dược liệu quý đáp ứng cho nhu cầu phòng và chữa bệnh. Vì vậy vấn đề nghiên cứu cây cỏ làm thuốc luôn được nhiều nhà khoa học quan tâm(Lê Thị Ánh, 2007). Theo quan điểm của y học cổ truyền, Hà thủ ô đỏ có nhiều tác dụng quý như bổ huyết, điều hoà khí huyết, bổ gan thận, mạnh gân cốt, nhuận tràng,giúp ích cho sự tiêu hoá. Y học hiện đại còn phát hiện Hà thủ ô đỏ có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu, có tác dụng tốt đối với các trường hợp suy nhược thần kinh và bệnh vềthần kinh, làm tăng hoạt động của tim làm tăng sự co bóp của ruột, có tác dụng chống viêm…Song song với hướng nghiên cứu sử dụng các dạng bào chế cổ truyền như thuốc sắc, rượu thuốc,ngành Y tế đã có chủ trương hiện đại hoá Y học cổ truyền trong đó có một nội dung quan trọng là nghiên cứu chuyển các dạng thuốccổ truyền thành các dạng thuốc hiện đại như viên nén, viên nang.
giúp gia tăng sự tiện lợi trong sử dụng, bảo quản thuốc và dễ dàng sản xuất ở quy mô công nghiệp (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006), (Lê Thị Ánh, 2007). Để góp phần hiện đại hóa dạng bào chế thuốc Hà thủ ô đỏ, cùng với xu thế chung, đề tài "Nghiên cứu bào chế viên nén chứa cao Hà thủ ô đỏ(Polygonum multiflorum Thunb.,Polygonaceae)" được thực hiện với các nội dung: 1. Lựa chọn phương pháp chiết xuất và điều chế cao lỏng Hà thủ ô đỏ. Nghiên cứu, lựa chọn tá dược điều chế cao khô Hà thủ ô đỏ.
Bào chế viên nén chứa cao khôHà thủ ô đỏ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. DƯỢC LIỆU – HÀ THỦ Ô ĐỎ Tên khoa học Polygonum multiflorum Thunb., Fallopia multiflora Thunb., họ Rau răm Polygonaceae. Tên Việt Nam: Dạ giao đằng, Giao đằng, Địa tinh, Dạ hợp, Má ỏn, Mằn năng ón (Tày), Khua lìn (Thái), Xạ ú sí (Dao), Mần đăng tua lình (Lào–Sầm Nưa).
Tên nước ngoài: Many – flowered knotweed, Multiflorous knotweed (Anh), Renouée multiflorée (Pháp) (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006); (Đỗ Tất Lợi, 2013). Mô tả Cây Hà thủ ô đỏ còn có tên là giao đằng vì dây leo xoắn vào nhau, dạ hợp vì đêm quấn vào nhau. Tên khoa học Polygonum multiflorum(Polygonumlà có nhiều đốt, nhiều mắt,multiflorumlà nhiều hoa, vì cây có nhiều đốt, nhiều hoa) (Đỗ Tất Lợi, 2013). Dây leo bằng thân quấn, sống lâu năm.
Thân mềm, nhẵn, mọc xoắn vào nhau; mặt ngoài thân có màu xanh tía có những vân hoặc bì khổng, mặt thân nhẵn, không có lông. Rễ phình thành củ, màu nâu đỏ, củ nguyên có hình giống củ khoai lang. Lá mọc so le, hình mũi tên, gốc hình tim, đầu thuôn nhọn, dài 5 – 8 cm, rộng 3 – 4 cm, 3 – 5 gân xuất phát từ gốc lá, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng; cuống dài khoảng 2 cm, phủ lông tơ; bẹ chìa mỏng, ngắn, có lông dài. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chùy phân nhánh, dài hơn lá; lá bắc ngắn; hoa nhỏ nhiều, màu trắng, nhị 8 với 3 nhị hơi dài hơn, thường dính vào gốc của bao hoa.Mùa hoa: Tháng 9 – 11.
Quả hình 3 cạnh, nhẵn bóng, nằm trong bao hoa mà 3 mảnh ngoài phát triển thành những cánh rộng. Mùa quả: Tháng12 – 2 (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).Toàncây Hà thủ ô đỏ 2 2. Phân bố, sinh thái Chi Fallopia Adans, gồm các loài là cây thân cỏ và dây leo nhỏ, phân bố rộng rãi ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Ở Việt Nam có một loài là cây Hà thủ ô đỏ.
Trên thế giới, Hà thủ ô đỏ có ở Trung Quốc, Bắc Lào, Nhật Bản và Ấn Độ. Ở Việt Nam, Hà thủ ô đỏ chỉ có ở một số tỉnh vùng núi cao (trên 1000 m) phía bắc. Cây mọc nhiều ở Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La. Các tỉnh khác ít gặp hơn như Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc); Thanh Hóa (Son Bá Mười); Nghệ An (Kỳ Sơn); Lạng Sơn (núi Mẫu Sơn); Cao Bằng (Bảo Lạc); Yên Bái (Mù Cang Chải).
Hà thủ ô đỏ là loài cây ưa khí hậu ẩm mát của vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới núi cao. Cây ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Nơi mọc tự nhiên thích hợp nhất là các quần hệ rừng núi đá vôi; độ cao tới 1700 m, nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng dưới 20 oC. Hà thủ ô đỏ thường mọc ở đất ẩm, xốp, nhiều mùn, nhất là loại đất ở chân núi đá.
Tuy nhiên, khi cây được trồng ở đất đồi vùng trung du (trạm nghiên cứu dược liệu Vĩnh Phú cũ) hay trên đất đỏ bazan (trại cải tạo Đắc Trung – Đắc Lắc) đều phát triển tốt. Hà thủ ô đỏ ra hoa và quả nhiều hằng năm. Sau khi quả già, phần thân leo trên mặt đất tàn lụi, hạt giống phát tán ra xung quanh và sẽ nảy mầm vào mùa xuân – hè năm sau. Hà thủ ô đỏ có khả năng tái sinh vô tính khỏe.
Từ một đoạn dây đem vùi xuống đất hoặc các củ con, cùng với các đoạn rễ còn sót lại trong khi khai thác, đều có khả năng mọc thành cây mới. Nguồn dược liệu Hà thủ ô đỏ ở Việt Nam trước đây khá dồi dào. Qua hàng chục năm khai thác liên tục và bị tàn phá do nạn phá rừng làm nương rẫy, vùng phân bố tự nhiên của cây dần dần bị thu hẹp. Theo kết quả điều tra gần đây của Viện Dược Liệu (1997 –1999), Hà thủ ô đỏ còn có thể tiếp tục khai thác ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Giang (Quảng Bạ, Đồng Vân, Mèo Vạc); Lai Châu (Sỉn Hồ, Tủa Chùa); Lào Cai (Than Uyên)…ước tính mỗi năm vài chục tấn Hà thủ ô đỏ đã đưa vào sách đỏ Việt Nam (1996) để bảo vệ (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).
Cách trồng Theo kinh nghiệm của nhân dân ở Sơn La, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà thủ ô đỏ được trồng bằng củ có đường kính 3 – 5cm hoặc bằng dây bánh tẻ dài 30 – 40cm, không có sâu bệnh. Trồng bằng củ thì đặt củ theo hốc ở độ sâu 5 – 7cm, trồng bằng dây thì đánh rạch, đặt dây và lấp đất như cách trồng khoai lang, để 1/3 dây thò lên khỏi mặt đất. Củ và dây đều trồng với khoảng cách 30 – 35cm (nếu trồng 2 hàng thì khoảng cách 40 x 35cm).Tưới và giữ ẩm cho tới khi cây mọc. Đất đồi, gò, nương, các chân ruộng cao nhiều mùn, thoát nước, giữ ẩm rất tốt cho việc trồng Hà thủ ô đỏ.Đất cần cày bừa, đập nhỏ, lên luống cao 25 – 30cm, ruộng 40cm nếu trồng một hàng hoặc 70 – 80cm nếu trồng 2 hàng.
3 Là cây lấy củ, Hà thủ hô đỏ cần được bón nhiều phân, nên bón lót mỗi hecta 20 – 25 tấn phân chuồng, 200kg supe lân và 100kg kali. Khi cây mọc, làm giàn cho dây leo. Dùng tre, sặt cấm chéo cánh sẻ, cao 1,5 – 2m dọc theo luống. Hàng tháng làm cỏ, xới xáo cho đất tơi thoáng, kết hợp bón thúc.
Tốt nhất là dùng nước phân chuồng, nước giải pha loãng. Nếu cần, có thể tưới đạm pha với nồng độ 2 %, mỗi lần 25kg đạm/ha. Việc bón thúc tiến hành từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm, mỗi tháng thúc một lần. Hà thủ ô đỏ ít bị sâu bệnh.
Cần chú ý phòng trừ dế hại mầm non. Cây trồng sau 2 – 3 năm thì thu hoạch, để lâu quá, củ dễ bị thối. Năng suất trung bình đạt 1,5 – 2,5 tấn củ khô/ha(Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Bộ phận dùng Rễ củ thu hái vào mùa thu, đào về rửa sạch đất, bỏ rễ con.
Củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi hoặc bổ tư, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi khô thì tốt hơn. Loại nguyên củ của Hà thủ ô đỏ có hình dáng hơi giống củ khoai lang, mặt ngoài có những chỗ lồi lõm đặc biệt, màu nâu đỏ(Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Củ Hà thủ ô đỏ 4 2.
Chế biến Hà thủ ô đỏ có thể được chế biến như sau: Rễ củ được rửa sạch, ngâm nước vo gạo trong 24 giờ, rửa nước lại một lần nữa. Cho dược liệu vào nồi, rồi cho nước đậu đen đến ngập với tỷ lệ 1 kg dược liệu và 100 g đậu đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn, đảo luôn cho thuốc chín đều. Khi rễ củ đã mềm, lấy ra bỏ lõi.
Nếu còn nước đậu đen thì tẩm phơi cho hết. Đồ phơi như vậy được chín lần là tốt (cửu chưng, cửu sái). Khi dùng thái lát hoặc bào thành phiến mỏng. Dược điển đông y Trung Quốc 1963 lại quy định thái Hà thủ ô đỏ trộn với nước đậu đen và rượu cho vào thùng, đậy kín, đun cách thủy cho đến khi rễ củ hút hết nước tẩm, phơi khô(Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).Hà thủ ô đỏ sau khi chế biến 2.
Thành phần hóa học Hà thủ ô đỏ đã được hai nhà nghiên cứu Nhật Bản nghiên cứu từ năm 1923 (Nhật Bản dược học tạp chí, 42: 144, 1923).Theo các tác giả, Hà thủ ô đỏ của Tứ Xuyên, Trung Quốc có các chất sau đây: Các chất anthraglucozit với tỷ lệ 1,7 % trong đó chủ yếu là chrysophanola, emodin và rhein. Ngoài ra còn có chất đạm 1,1 %, tinh bột 45,2 %, chất béo 3,10 %, chất vô cơ 4,5 %, các chất tan trong nước 26,40 %lecithin.Chúng ta đều biết rằng lecithin là một photphatit kết quả của sự kết hợp giữa axit glyxerophotphoric với một phân tử cholin và hai phân tử axid béo. 5 Lecithin thường được dùng trong những trường hợp thiếu dinh dưỡng, thần kinh suy nhược. Các anthraglucozit có tác dụng làm tăng sự bài tiết dịch tràng, xúc tiến sự co bóp của ruột giúp sự tiêu hóa và cải thiện dinh dưỡng (Đỗ Tất Lợi, 2013).