Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu bào chế viên nén chứa cao Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum)

Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ nghiên cứu bào chế viên nén từ cao hà thủ ô đỏ Polygonum multiflorum, mang lại tiềm năng trong điều trị.

Trường đại học

Trường Đại Học Tây Đô

Chuyên ngành

Dược Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2017

65
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.2. DƯỢC LIỆU – HÀ THỦ Ô ĐỎ

1.2.1. Phân bố, sinh thái

1.2.2. Bộ phận dùng

1.2.3. Thành phần hóa học

1.2.4. Tác dụng dược lý

1.3. HÒA TAN CHIẾT XUẤT

1.3.1. Mục tiêu của hòa tan chiết xuất

1.3.2. Dược liệu và dung môi để điều chế dịch chiết

1.3.3. Các phương pháp hòa tan chiết xuất

1.3.4. Phương pháp điều chế

1.3.5. Yêu cầu chất lượng

1.3.6. Ưu, nhược điểm

1.4. Kỹ thuật bào chế viên nén

1.4.1. Các phương pháp sản xuất thuốc viên nén

1.4.2. Tiêu chuẩn chất lượng viên nén

1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.5.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

1.5.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

1.5.4. NGUYÊN VẬT LIỆU – TRANG THIẾT BỊ

1.5.5. Xác định phần trăm chất chiết được trong dược liệu theo DĐVN IV

1.6. Điều chế cao khô Hà thủ ô đỏ

1.7. Điều chế viên nén Hà thủ ô đỏ

1.8. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1.8.1. XÁC ĐỊNH PHẦN TRĂM CHẤT CHIẾT ĐƯỢC TRONG DƯỢC LIỆU

1.8.1.1. Theo DĐVN IV
1.8.1.2. Theo dung môi sử dụng

1.8.2. ĐIỀU CHẾ CAO KHÔ HÀ THỦ Ô ĐỎ

1.8.2.1. Lựa chọn dung môi và phương pháp chiết
1.8.2.2. Lựa chọn tá dược điều chế cao khô

1.8.3. BÀO CHẾ VIÊN NÉN HÀ THỦ Ô ĐỎ

1.8.3.1. Nghiên cứu công thức bào chế viên nén
1.8.3.2. Kiểm soát bán thành phẩm
1.8.3.3. Kiểm soát thành phẩm viên nén

1.9. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ

Nghiên cứu bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum Thunb.) là một bước tiến quan trọng trong việc hiện đại hóa y học cổ truyền. Hà thủ ô đỏ được biết đến với nhiều tác dụng dược lý quý giá như bổ huyết, điều hòa khí huyết và hỗ trợ tiêu hóa. Việc chuyển đổi dạng bào chế từ thuốc sắc sang viên nén không chỉ giúp tăng tính tiện lợi mà còn nâng cao hiệu quả điều trị.

1.1. Hà thủ ô đỏ và những tác dụng dược lý nổi bật

Hà thủ ô đỏ chứa nhiều thành phần hoạt chất như anthraglycosid, lecithin và stilben. Những hợp chất này có tác dụng làm tăng đường máu, cải thiện chức năng gan thận và hỗ trợ tiêu hóa. Nghiên cứu cho thấy, Hà thủ ô đỏ có khả năng chống viêm và cải thiện sức khỏe tâm thần.

1.2. Lý do cần nghiên cứu bào chế viên nén

Việc bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ giúp khắc phục nhược điểm của các phương pháp truyền thống. Viên nén dễ dàng sử dụng, bảo quản và sản xuất quy mô lớn, đồng thời giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị cho người dùng.

II. Thách thức trong nghiên cứu bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ

Mặc dù có nhiều lợi ích, nhưng việc bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ cũng gặp phải một số thách thức. Các vấn đề như lựa chọn tá dược phù hợp, kiểm soát chất lượng và đảm bảo hàm lượng hoạt chất trong viên nén là rất quan trọng.

2.1. Khó khăn trong việc lựa chọn tá dược

Việc lựa chọn tá dược phù hợp để bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ là một thách thức lớn. Tác dụng của tá dược ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của viên nén. Tinh bột bắp đã được chọn làm tá dược chính trong nghiên cứu này.

2.2. Kiểm soát chất lượng viên nén

Kiểm soát chất lượng viên nén là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Các chỉ tiêu như độ đồng đều khối lượng, độ cứng và độ hòa tan cần được kiểm tra kỹ lưỡng trong quá trình sản xuất.

III. Phương pháp bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ hiệu quả

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp dập thẳng để bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ. Phương pháp này cho phép tạo ra viên nén với độ cứng và độ đồng đều cao, đồng thời giữ nguyên được hàm lượng hoạt chất.

3.1. Quy trình điều chế cao khô từ Hà thủ ô đỏ

Quy trình điều chế cao khô từ Hà thủ ô đỏ bao gồm các bước chiết xuất, cô đặc và sấy khô. Dung môi ethanol 40% đã được lựa chọn để tối ưu hóa quá trình chiết xuất, giúp thu được cao khô với hàm lượng hoạt chất cao.

3.2. Quy trình bào chế viên nén

Quy trình bào chế viên nén từ cao khô Hà thủ ô đỏ được thực hiện bằng phương pháp dập thẳng. Các thành phần được trộn đều và nén thành viên, đảm bảo viên nén có độ cứng và đồng đều cao.

IV. Kết quả nghiên cứu bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ

Kết quả nghiên cứu cho thấy, viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ đạt tiêu chuẩn chất lượng với hàm lượng hoạt chất ổn định. Viên nén có độ cứng và độ đồng đều khối lượng tốt, phù hợp cho việc sử dụng trong điều trị.

4.1. Đánh giá chất lượng viên nén

Viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ được kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng như độ cứng, độ hòa tan và độ đồng đều khối lượng. Kết quả cho thấy viên nén đạt yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn dược phẩm.

4.2. Tác dụng dược lý của viên nén

Viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ không chỉ giữ nguyên được tác dụng dược lý của dược liệu mà còn tăng cường hiệu quả điều trị. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy bệnh nhân có cải thiện rõ rệt về sức khỏe sau khi sử dụng viên nén.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ mở ra hướng đi mới trong việc hiện đại hóa y học cổ truyền. Việc phát triển các sản phẩm từ dược liệu tự nhiên không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

5.1. Tương lai của bào chế viên nén từ dược liệu

Với xu hướng sử dụng sản phẩm tự nhiên ngày càng tăng, việc bào chế viên nén từ dược liệu như Hà thủ ô đỏ sẽ tiếp tục được nghiên cứu và phát triển. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn tạo ra sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện quy trình bào chế và mở rộng ứng dụng của viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ. Các nghiên cứu lâm sàng sâu hơn sẽ giúp khẳng định hiệu quả và độ an toàn của sản phẩm.

15/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ nghiên cứu bào chế viên nén chứa cao hà thủ ô đỏ polygonum multiflorum thunb polygonaceae

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Theo xu hướng chung hiện nay, con người ngày càng ưa dùng sản phẩm từthiên nhiên để chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ. Thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiênngoài những ưu điểm như ít tác dụng phụ, rẻ tiền thì hiện nay là hướng phát triểncủa Công nghiệp Dược trong nước và cũng là xu hướng của thế giới. Bên cạnh sự phát triển của thuốc tổng hợp hóa dược thì thuốc có nguồn gốc từ dược liệu cũng có những phát triển đáng kể và chiếm được lòng tin của người sử dụng. Theo đánh giá của WHO thuốc có nguồn gốc tự nhiên được sử dụng ở những nước đang phát triển với con số 80 % dân số sử dụng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, ở những nước phát triển thuốc thảo dược cũng được sử dụng rất phổ biến như là một biện pháp hỗ trợ và thay thế.

Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, đã cung cấp hàng ngàn loại dược liệu quý đáp ứng cho nhu cầu phòng và chữa bệnh. Vì vậy vấn đề nghiên cứu cây cỏ làm thuốc luôn được nhiều nhà khoa học quan tâm(Lê Thị Ánh, 2007). Theo quan điểm của y học cổ truyền, Hà thủ ô đỏ có nhiều tác dụng quý như bổ huyết, điều hoà khí huyết, bổ gan thận, mạnh gân cốt, nhuận tràng,giúp ích cho sự tiêu hoá. Y học hiện đại còn phát hiện Hà thủ ô đỏ có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu, có tác dụng tốt đối với các trường hợp suy nhược thần kinh và bệnh vềthần kinh, làm tăng hoạt động của tim làm tăng sự co bóp của ruột, có tác dụng chống viêm…Song song với hướng nghiên cứu sử dụng các dạng bào chế cổ truyền như thuốc sắc, rượu thuốc,ngành Y tế đã có chủ trương hiện đại hoá Y học cổ truyền trong đó có một nội dung quan trọng là nghiên cứu chuyển các dạng thuốccổ truyền thành các dạng thuốc hiện đại như viên nén, viên nang.

giúp gia tăng sự tiện lợi trong sử dụng, bảo quản thuốc và dễ dàng sản xuất ở quy mô công nghiệp (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006), (Lê Thị Ánh, 2007). Để góp phần hiện đại hóa dạng bào chế thuốc Hà thủ ô đỏ, cùng với xu thế chung, đề tài "Nghiên cứu bào chế viên nén chứa cao Hà thủ ô đỏ(Polygonum multiflorum Thunb.,Polygonaceae)" được thực hiện với các nội dung: 1. Lựa chọn phương pháp chiết xuất và điều chế cao lỏng Hà thủ ô đỏ. Nghiên cứu, lựa chọn tá dược điều chế cao khô Hà thủ ô đỏ.

Bào chế viên nén chứa cao khôHà thủ ô đỏ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. DƯỢC LIỆU – HÀ THỦ Ô ĐỎ Tên khoa học Polygonum multiflorum Thunb., Fallopia multiflora Thunb., họ Rau răm Polygonaceae. Tên Việt Nam: Dạ giao đằng, Giao đằng, Địa tinh, Dạ hợp, Má ỏn, Mằn năng ón (Tày), Khua lìn (Thái), Xạ ú sí (Dao), Mần đăng tua lình (Lào–Sầm Nưa).

Tên nước ngoài: Many – flowered knotweed, Multiflorous knotweed (Anh), Renouée multiflorée (Pháp) (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006); (Đỗ Tất Lợi, 2013). Mô tả Cây Hà thủ ô đỏ còn có tên là giao đằng vì dây leo xoắn vào nhau, dạ hợp vì đêm quấn vào nhau. Tên khoa học Polygonum multiflorum(Polygonumlà có nhiều đốt, nhiều mắt,multiflorumlà nhiều hoa, vì cây có nhiều đốt, nhiều hoa) (Đỗ Tất Lợi, 2013). Dây leo bằng thân quấn, sống lâu năm.

Thân mềm, nhẵn, mọc xoắn vào nhau; mặt ngoài thân có màu xanh tía có những vân hoặc bì khổng, mặt thân nhẵn, không có lông. Rễ phình thành củ, màu nâu đỏ, củ nguyên có hình giống củ khoai lang. Lá mọc so le, hình mũi tên, gốc hình tim, đầu thuôn nhọn, dài 5 – 8 cm, rộng 3 – 4 cm, 3 – 5 gân xuất phát từ gốc lá, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng; cuống dài khoảng 2 cm, phủ lông tơ; bẹ chìa mỏng, ngắn, có lông dài. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chùy phân nhánh, dài hơn lá; lá bắc ngắn; hoa nhỏ nhiều, màu trắng, nhị 8 với 3 nhị hơi dài hơn, thường dính vào gốc của bao hoa.Mùa hoa: Tháng 9 – 11.

Quả hình 3 cạnh, nhẵn bóng, nằm trong bao hoa mà 3 mảnh ngoài phát triển thành những cánh rộng. Mùa quả: Tháng12 – 2 (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).Toàncây Hà thủ ô đỏ 2 2. Phân bố, sinh thái Chi Fallopia Adans, gồm các loài là cây thân cỏ và dây leo nhỏ, phân bố rộng rãi ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Ở Việt Nam có một loài là cây Hà thủ ô đỏ.

Trên thế giới, Hà thủ ô đỏ có ở Trung Quốc, Bắc Lào, Nhật Bản và Ấn Độ. Ở Việt Nam, Hà thủ ô đỏ chỉ có ở một số tỉnh vùng núi cao (trên 1000 m) phía bắc. Cây mọc nhiều ở Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La. Các tỉnh khác ít gặp hơn như Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc); Thanh Hóa (Son Bá Mười); Nghệ An (Kỳ Sơn); Lạng Sơn (núi Mẫu Sơn); Cao Bằng (Bảo Lạc); Yên Bái (Mù Cang Chải).

Hà thủ ô đỏ là loài cây ưa khí hậu ẩm mát của vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới núi cao. Cây ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Nơi mọc tự nhiên thích hợp nhất là các quần hệ rừng núi đá vôi; độ cao tới 1700 m, nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng dưới 20 oC. Hà thủ ô đỏ thường mọc ở đất ẩm, xốp, nhiều mùn, nhất là loại đất ở chân núi đá.

Tuy nhiên, khi cây được trồng ở đất đồi vùng trung du (trạm nghiên cứu dược liệu Vĩnh Phú cũ) hay trên đất đỏ bazan (trại cải tạo Đắc Trung – Đắc Lắc) đều phát triển tốt. Hà thủ ô đỏ ra hoa và quả nhiều hằng năm. Sau khi quả già, phần thân leo trên mặt đất tàn lụi, hạt giống phát tán ra xung quanh và sẽ nảy mầm vào mùa xuân – hè năm sau. Hà thủ ô đỏ có khả năng tái sinh vô tính khỏe.

Từ một đoạn dây đem vùi xuống đất hoặc các củ con, cùng với các đoạn rễ còn sót lại trong khi khai thác, đều có khả năng mọc thành cây mới. Nguồn dược liệu Hà thủ ô đỏ ở Việt Nam trước đây khá dồi dào. Qua hàng chục năm khai thác liên tục và bị tàn phá do nạn phá rừng làm nương rẫy, vùng phân bố tự nhiên của cây dần dần bị thu hẹp. Theo kết quả điều tra gần đây của Viện Dược Liệu (1997 –1999), Hà thủ ô đỏ còn có thể tiếp tục khai thác ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Giang (Quảng Bạ, Đồng Vân, Mèo Vạc); Lai Châu (Sỉn Hồ, Tủa Chùa); Lào Cai (Than Uyên)…ước tính mỗi năm vài chục tấn Hà thủ ô đỏ đã đưa vào sách đỏ Việt Nam (1996) để bảo vệ (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).

Cách trồng Theo kinh nghiệm của nhân dân ở Sơn La, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà thủ ô đỏ được trồng bằng củ có đường kính 3 – 5cm hoặc bằng dây bánh tẻ dài 30 – 40cm, không có sâu bệnh. Trồng bằng củ thì đặt củ theo hốc ở độ sâu 5 – 7cm, trồng bằng dây thì đánh rạch, đặt dây và lấp đất như cách trồng khoai lang, để 1/3 dây thò lên khỏi mặt đất. Củ và dây đều trồng với khoảng cách 30 – 35cm (nếu trồng 2 hàng thì khoảng cách 40 x 35cm).Tưới và giữ ẩm cho tới khi cây mọc. Đất đồi, gò, nương, các chân ruộng cao nhiều mùn, thoát nước, giữ ẩm rất tốt cho việc trồng Hà thủ ô đỏ.Đất cần cày bừa, đập nhỏ, lên luống cao 25 – 30cm, ruộng 40cm nếu trồng một hàng hoặc 70 – 80cm nếu trồng 2 hàng.

3 Là cây lấy củ, Hà thủ hô đỏ cần được bón nhiều phân, nên bón lót mỗi hecta 20 – 25 tấn phân chuồng, 200kg supe lân và 100kg kali. Khi cây mọc, làm giàn cho dây leo. Dùng tre, sặt cấm chéo cánh sẻ, cao 1,5 – 2m dọc theo luống. Hàng tháng làm cỏ, xới xáo cho đất tơi thoáng, kết hợp bón thúc.

Tốt nhất là dùng nước phân chuồng, nước giải pha loãng. Nếu cần, có thể tưới đạm pha với nồng độ 2 %, mỗi lần 25kg đạm/ha. Việc bón thúc tiến hành từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm, mỗi tháng thúc một lần. Hà thủ ô đỏ ít bị sâu bệnh.

Cần chú ý phòng trừ dế hại mầm non. Cây trồng sau 2 – 3 năm thì thu hoạch, để lâu quá, củ dễ bị thối. Năng suất trung bình đạt 1,5 – 2,5 tấn củ khô/ha(Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Bộ phận dùng Rễ củ thu hái vào mùa thu, đào về rửa sạch đất, bỏ rễ con.

Củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi hoặc bổ tư, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi khô thì tốt hơn. Loại nguyên củ của Hà thủ ô đỏ có hình dáng hơi giống củ khoai lang, mặt ngoài có những chỗ lồi lõm đặc biệt, màu nâu đỏ(Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Củ Hà thủ ô đỏ 4 2.

Chế biến Hà thủ ô đỏ có thể được chế biến như sau: Rễ củ được rửa sạch, ngâm nước vo gạo trong 24 giờ, rửa nước lại một lần nữa. Cho dược liệu vào nồi, rồi cho nước đậu đen đến ngập với tỷ lệ 1 kg dược liệu và 100 g đậu đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn, đảo luôn cho thuốc chín đều. Khi rễ củ đã mềm, lấy ra bỏ lõi.

Nếu còn nước đậu đen thì tẩm phơi cho hết. Đồ phơi như vậy được chín lần là tốt (cửu chưng, cửu sái). Khi dùng thái lát hoặc bào thành phiến mỏng. Dược điển đông y Trung Quốc 1963 lại quy định thái Hà thủ ô đỏ trộn với nước đậu đen và rượu cho vào thùng, đậy kín, đun cách thủy cho đến khi rễ củ hút hết nước tẩm, phơi khô(Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).Hà thủ ô đỏ sau khi chế biến 2.

Thành phần hóa học Hà thủ ô đỏ đã được hai nhà nghiên cứu Nhật Bản nghiên cứu từ năm 1923 (Nhật Bản dược học tạp chí, 42: 144, 1923).Theo các tác giả, Hà thủ ô đỏ của Tứ Xuyên, Trung Quốc có các chất sau đây: Các chất anthraglucozit với tỷ lệ 1,7 % trong đó chủ yếu là chrysophanola, emodin và rhein. Ngoài ra còn có chất đạm 1,1 %, tinh bột 45,2 %, chất béo 3,10 %, chất vô cơ 4,5 %, các chất tan trong nước 26,40 %lecithin.Chúng ta đều biết rằng lecithin là một photphatit kết quả của sự kết hợp giữa axit glyxerophotphoric với một phân tử cholin và hai phân tử axid béo. 5 Lecithin thường được dùng trong những trường hợp thiếu dinh dưỡng, thần kinh suy nhược. Các anthraglucozit có tác dụng làm tăng sự bài tiết dịch tràng, xúc tiến sự co bóp của ruột giúp sự tiêu hóa và cải thiện dinh dưỡng (Đỗ Tất Lợi, 2013).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu bào chế viên nén từ cao Hà thủ ô đỏ" tập trung vào quy trình bào chế và các đặc tính của viên nén được chiết xuất từ cây Hà thủ ô đỏ, một loại thảo dược nổi tiếng trong y học cổ truyền Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thành phần hóa học và tác dụng của cao Hà thủ ô đỏ mà còn nhấn mạnh những lợi ích sức khỏe mà nó mang lại, như khả năng chống lão hóa và tăng cường sức đề kháng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách bào chế và ứng dụng của sản phẩm này trong ngành dược phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu bào chế viên nén diltiazem hydroclorid 60 mg, nơi cung cấp thông tin về quy trình bào chế viên nén khác trong ngành dược. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu bào chế vi cầu nổi trong dạ dày berberin clorid cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các phương pháp bào chế hiện đại. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu bào chế màng film chứa nano loratadin đặt dưới lưỡi sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các dạng bào chế mới và tiềm năng của chúng trong điều trị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực bào chế dược phẩm.