MỞ ĐẦU Các bệnh lý liên quan đến rối loạn lipid máu gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhiều đối tượng người bệnh, đặc biệt ở nhóm trung niên và người cao tuổi. Nếu không được kiểm soát tốt, rối loạn tiến triển sẽ làm tăng nguy cơ bị xơ vữa động mạch, kèm theo đó là bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y Tế, có nhiều loại thuốc giảm lipid máu được chỉ định như nhóm statin, nhóm fibrat, nhóm resin, acid nicotinic, ezetimib và omega-3. Trong đó, nhóm fibrat được chỉ định ưu tiên hàng đầu trong xử lý tăng triglycerid máu với mục tiêu điều trị là phòng ngừa viêm tuỵ cấp và phòng ngừa biến cố tim mạch.
Nhóm fibrat giúp giảm 40 – 60 % lượng triglycerid so với acid nicotinic (giảm 30 – 50 %) và nhóm statin (giảm 37 %). Điều này cho thấy vai trò của nhóm fibrat nói chung và bezafibrat nói riêng trong chiến lược kiểm soát rối loạn lipid máu [1], [4]. Bezafibrat (BZF) dạng viên phóng thích tức thời được chỉ định trong điều trị rối loạn lipid máu với liều dùng ba lần trong ngày có một số nhược điểm như nồng độ thuốc trong máu dao động, sự khó tuân trị của bệnh nhân. Dạng bào chế phóng thích kéo dài (PTKD) giúp khắc phục những nhược điểm trên, cải thiện sinh khả dụng và ổn định trị liệu.
Hiện nay, trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu về viên BZF PTKD trong khi nhu cầu nâng cao hiệu quả trị liệu đối với bệnh lý rối loạn lipid máu rất lớn. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu bào chế viên nén bezafibrat 400 mg phóng thích kéo dài” được thực hiện nhằm mục tiêu bào chế viên BZF 400 mg PTKD có độ giải phóng hoạt chất (GPHC) tương đương thuốc đối chiếu Bezalip® Retard 400 mg (Actavis Group PTC ehf. Để giải quyết mục tiêu đề ra, các nội dung cần thực hiện gồm: 1. Nghiên cứu xây dựng công thức và quy trình bào chế viên BZF 400 mg PTKD có độ GPHC tương đương viên đối chiếu.
Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho viên nghiên cứu. Nâng cỡ lô 10.000 viên và đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn xây dựng kết hợp đánh giá tương đương hòa tan so với viên đối chiếu. Sơ bộ đánh giá độ ổn định của sản phẩm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
TỔNG QUAN VỀ BEZAFIBRAT 1. Cấu trúc phân tử Bezafibrat (BZF) có công thức cấu tạo như Hình 1. Công thức cấu tạo của bezafibrat [31] Công thức phân tử: C19H20ClNO4. Phân tử lượng: 361,82 g/mol.
Tên khoa học: 2-(4-{2-[(4-clorobenzoyl)amino]ethyl}phenoxy)-2-methylpropanoic acid [31]. Tính chất hoá lý và cơ lý Tính chất: Bột kết tinh màu trắng, không mùi, vị đắng sau ngọt [31], [32]. Độ tan: BZF dễ tan trong N,N-dimethylformamid (1 : 1,4 – 1,5), tan trong methanol (1 : 25 – 27), khó tan đến hơi tan trong ethanol tuyệt đối (1 : 38 – 54), thực tế không tan trong nước (1 : 10. Độ tan của BZF tăng theo nhiệt độ và giảm dần trong một số dung môi như cyclohexanon, alcol, methyl ethyl ceton, ester, acetonitril [38].
Độ tan của BZF phụ thuộc vào pH và tăng theo giá trị pH của môi trường hoà tan như Bảng 1. Độ tan của BZF trong các môi trường có pH khác nhau Môi trường Điều kiện thử Độ tan (µg/mL) của BZF theo pH môi trường Pha theo JP XVIII pH 1,2 Nước pH 6,8 pH 7,2 37 C (NIHS [45]) 2,54 34,3 2,05.103 Pha theo CP 2005 37 C, 24 giờ HCl 0,1 M Nước pH 6,8 pH 7,4 pH 7,6 (Yang X.103 Pha theo USP 32 40 C, 4 giờ HCl 0,2 M pH 3,0 pH 5,0 pH 7,4 pH 9,0 (Sarangdhar R. Độ tan của BZF thay đổi đáng kể trong một số dung dịch polyme như dextran, polyvinyl pyrrolidon, polyvinyl alcol, hydroxypropyl methylcellulose, carbomer, natri carboxymethylcellulose, hydroxypropylcellulose và một số dung dịch chất diện hoạt như natri docusat, polyoxyl 15 hydroxystearat, polysorbat, sorbitan ester, polyoxyl 35 castor oil, poloxamer, natri lauryl sulfat. Trong đó, phối hợp giữa polyvinylpyrrolidon và polyoxyl 35 castor oil cho hiệu quả cải thiện hơn cả [59].
Theo hệ thống phân loại sinh dược học (BCS), BZF thuộc nhóm II – dược chất có độ tan kém và tính thấm tốt [46], [59]. Hệ số phân bố P (cloroform/đệm Britton- Robinson) trong các môi trường pH 4,1; pH 5,9; pH 7,7; pH 10,0 (25 C) lần lượt có giá trị 76,6; 1,48; 0,016; 0 [14] và log P (n-octanol/đệm phosphat USP) có giá trị 1,5 ở pH 7,4 (25 C) [8]. Giá trị pKa của BZF khoảng 3,40 và nhiệt độ nóng chảy 181 – 186 C, góc quay cực riêng D +0,04 (dung dịch 1 g trong 40 mL methanol) [32]. Nguyên liệu BZF 20 không háo ẩm (< 0,5 % ở 90 % RH), không tồn tại ở dạng hydrat hoá, có tính đa hình (α và β), dạng α là nguyên liệu dược dụng được sử dụng chủ yếu trong sản xuất [37].
Một số đặc điểm khác nhau giữa hai dạng thù hình được trình bày ở Bảng 1. Đặc điểm các dạng thù hình của BZF [37] Đặc điểm Thông số Dạng α (-syn) Dạng β (-anti) Hình thái học Dạng tinh thể Hình kim Hình khối Điểm chảy Tm (℃) 184,8 - DSC-TGA Tonset; Tpeak (℃) 183,7; 184,8 157,2; 160,7 FT-IR Số sóng (cm-1) 529, 568, 760, 967, 606, 618, 821, 847, 1013, 1324, 1718, 3357 1328, 1740, 3387 PXRD 2θ (°) 19,53 ứng với 10,50; 17,55 cho cường độ mạnh nhất cường độ mạnh nhất Kết quả đánh giá tương tác dược chất – tá dược thông qua phân tích nhiệt vi sai cho thấy BZF không tương tác với một số tá dược thường dùng như cellulose vi tinh thể, lactose monohydrat, hydroxypropyl methylcellulose, polyvinylpyrrolidon, magnesi stearat [20]. Nguyên liệu BZF hoàn toàn không chảy qua phễu trên máy đo lưu biến hạt nên lưu tính được đánh giá gián tiếp thông qua một số thông số như khối lượng riêng thô (db) 0,422 g/mL, khối lượng riêng gõ (dt) 0,715 g/mL, chỉ số nén (CI) 40,959 % và tỉ số Hausner (HR) 1,684 [20]. Theo phân loại USP, lưu tính của BZF thuộc mức rất rất kém.
Nguyên liệu BZF có tính chảy và tính chịu nén kém do bản chất cố kết và kết dính cao, đây là vấn đề cần quan tâm trong quá trình phát triển viên nén. Độ ổn định Dữ liệu độ ổn định trong các môi trường hoà tan ở 37 C cho thấy BZF kém ổn định trong môi trường đệm pH 1,2 hơn so với các môi trường khác như nước, đệm pH 6,8 và đệm pH 7,2 [53]. Dữ liệu độ ổn định trong một số điều kiện bảo quản của nguyên liệu BZF và viên nén BZF PTKD được tóm tắt trong Bảng 1. Độ ổn định của nguyên liệu BZF ở các điều kiện bảo quản [32] Thử nghiệm Điều kiện Thời gian Kết quả BZF 60 C, 80 % RH 3 tháng Không biến đổi đáng kể rắn Ánh sáng 3 tháng Không biến đổi đáng kể Khắc Dung dịch 60 C 4 tuần Kết tủa nâu, có sản phẩm phân huỷ nghiệt BZF 2 %, pH 7 Ánh sáng 4 tuần Kết tủa, có sản phẩm phân huỷ lỏng Dung dịch 60 C 4 tuần Trong suốt, có sản phẩm phân huỷ 2 %, pH 12 Ánh sáng Cấp tốc 40 C, 75 % RH 6 tháng Không biến đổi đáng kể Dài hạn Nhiệt độ phòng 39 tháng Không biến đổi đáng kể Bảng 1.
Độ ổn định của viên nén BZF PTKD ở các điều kiện bảo quản [32] Hàm lượng Thử nghiệm Điều kiện Thời gian Kết quả 40 C 3 tháng Không biến đổi đáng kể 60 C 3 tháng Không biến đổi đáng kể 25 C, 75 % RH 3 tháng Tăng 2 – 3 mg Khắc nghiệt Tăng 2 – 3 mg và giảm tốc 200 mg 60 C, 80 % RH 4 tuần độ phóng thích dược chất Ánh sáng 4 tuần Không biến đổi đáng kể Cấp tốc 40 C, 75 % RH 6 tháng Không biến đổi đáng kể Dài hạn Nhiệt độ phòng 39 tháng Không biến đổi đáng kể 100 mg Cấp tốc 40 C, 75 % RH 6 tháng Không biến đổi đáng kể. Một số tạp chất liên quan đến độ ổn định của BZF được minh hoạ cấu trúc ở Hình 1.2 và giới hạn quy định cụ thể trong Dược điển Châu Âu (EP 10), Anh (BP 2021), Nhật Bản (JP XVIII), Hàn Quốc (KP XII), Trung Quốc (CP 2020), Ấn Độ (IP 2018) được tóm tắt ở Bảng 1. Giới hạn tạp chất liên quan BZF trong Dược điển EP 10 [22] BP 2021 [9] JP XVIII [31] KP XII [33] CP 2020 [13] IP 2018 [26] NL NL VNE, NL NL VNE NL VNE, NL VNE VNE PTKD VNA HPLC HPLC HPLC HPLC HPLC TLC HPLC HPLC HPLC HPLC • Tạp A, B, C, • Tạp (RRT 0,65 D, E ≤ 0,5 % và 1,86) ≤ 0,5 % • Tạp khác như •Từng tạp • Tạp khác như Tạp A • Từng tạp • Từng tạp như • Từng tạp ≤ 0,1 % EP ≤ 0,5 % ≤ 0,2 % JP ≤ 0,2 % ≤ 0,5 % ≤ 0,5 % EP ≤ 0,5 % • Tổng tạp •Tổng tạp • Tổng tạp • Tổng tạp • Tổng tạp • Tổng tạp ≤ 0,75 % ≤ 0,75 % ≤ 0,75 % ≤ 0,75 % ≤ 1,0 % ≤ 0,75 % NL: nguyên liệu; VNE: viên nén; VNA: viên nang A B C D E Trong đó: Tạp A : 4-cloro-N-[2-(4-hydroxyphenyl)ethyl]benzamid hay N-(p-clorobenzoyl)tyramin Tạp B : 4-clorobenzoic acid hay p-clorobenzoic acid Tạp C : Methyl 2-(4-{2-[(4-clorobenzoyl)amino]ethyl}phenoxy)-2-methylpropanoat Tạp D : Ethyl 2-(4-{2-[(4-clorobenzoyl)amino]ethyl}phenoxy)-2-methylpropanoat Tạp E : Butyl 2-(4-{2-[(4-clorobenzoyl)amino]ethyl}phenoxy)-2-methylpropanoat RRT tạp A (0,5), tạp B (0,6), BZF (1), tạp C (1,5), tạp D (2,3) và tạp E (6,2). Một số tạp chất liên quan đến độ ổn định của BZF [22] Các tạp định danh A, B, C, D, E được quy định giới hạn trong kiểm nghiệm nguyên liệu BZF theo EP 10, BP 2021 và IP 2018.
Về nguồn gốc phát sinh, tạp B có thể được hình thành do quá trình thuỷ phân BZF, trong khi tạp A được hình thành do quá trình nhiệt phân và quang phân BZF [32]. Dữ liệu nghiên cứu độ ổn định của nguyên liệu và thành phẩm cho thấy BZF ổn định ở điều kiện thông thường. Tuy nhiên, BZF có cấu trúc benzamid, liên kết amid và liên kết ether cũng như gốc clorid gắn trên nhân thơm do đó có thể không ổn định và phát sinh tạp chất trong các điều kiện khắc nghiệt. Sự thuỷ phân trong môi trường acid hay kiềm là quá trình thoái giáng mạnh mẽ nhất, ảnh hưởng lớn đến chất lượng của BZF.
Tương tự các fibrat khác, BZF rất kém ổn định khi ở trạng thái lỏng hoặc trong môi trường có độ ẩm cao, điều này góp phần giải thích sự thiếu vắng các chế phẩm dạng lỏng có chứa dược chất nhóm fibrat trên thị trường cũng như yêu cầu bảo quản tránh ẩm của những chế phẩm lưu hành [46].