Chương 1 BÀI TOÁN DỰNG HÌNH TRONG KHÔNG GIAN Ở CÁP ĐỘ TRI THỨC KHOA HỌC Mục đích của chương này chính là làm rõ ở cấp độ tri thức bài toán dựng hình trong không gian được định nghĩa như thế nào? nó có những đặc điểm gi? Dé đạt được mục đích trên chúng tôi tiến hành phân tích hai tài liệu sau: —.BAN (1974), Hình học sơ cấp tập II, NXB Giáo dục. (kí hiệu [a]) — Hamid Chaachoua (2006), Ecologie des problèmes de construction dans ['espace (kí hiệu [b]) Sở di chúng tôi chon hai tài liệu trên dé phan tich 1a boi cac If do sau: Tài liệu [a] là giáo trình hình học so cấp trình bày tương đối đầy đủ về bài toán dựng hình trong không gian so với các giáo trình khác (về dựng hình hoặc hình học sơ cấp) ở bậc đại học. Các giáo trình khác chỉ trình bày dựng hình trong mặt phẳng, hoặc có trình bày dựng hình trong không gian nhưng chỉ nêu hệ tiên đề về dựng hình mà không có một ví dụ hay bài tập nào kèm theo, còn giáo trình [a] ngoài trình bày hệ tiên đề về dựng hình còn có trình bày các ví dụ và các bài tập. Như vậy việc phân tích giáo trình [a] giúp chúng tôi biết được các tô chức toán học liên quan đến bài toán dựng hình trong không gian.
Từ đó, chỉ ra đặc điểm của bài toán dựng hình trong không gian. Tài liệu [b] là bài báo về “Sinh thái của những bài dựng hình trong không gian”. Qua tài liệu này sẽ giúp chúng tôi bổ sung thêm các tô chức toán liên quan đến bài toán dựng hình trong không gian. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích hai tài liệu trên chúng tôi có nhắc tới các khái niệm: Hình hình học và hình biéu diễn.
Chính vi thế trước khi đi phân tích hai tài liệu trên chúng tôi trình bày hai khái niệm này.1 Các khái niệm liên quan đến dựng hình trong không gian 1.1 Hình hình học Theo nghiên cứu của Pham Hoàng Nhi thi: Hình hình học là những hình được mô tả qua các tiên đề, định nghĩa, tinh chat. Các khái niệm hình học như điểm, đường thang là sự trừu tượng hóa của đối tượng hiện thực. Các hình hình học chỉ có trong ý thức con người.2 Hình biểu diễn Theo như Trần Văn Hạo thì hình biểu diễn của một hình trong không gian được hiéu như sau: Có nhiều phương pháp biểu diễn hình không gian lên mặt phẳng [. Thông thường muốn biểu diễn một hình nào đó, người ta chiếu hình đó lên một mặt phang chiếu bằng phép chiếu xuyên tâm hay phép chiếu song song[.
Ở trường THPT chương trình chi hạn chế dùng hình biéu diễn qua phép chiếu song song.2 Bài toán dựng hình trong không gian 1.1 Bài toán dựng hình trong không gian trong tài liệu [a] Ở tài liệu này, tác giả trình bày dựng hình trong không gian theo phương pháp tiên đề. Hệ tiên đề của dựng hình gồm hai phần, một phần là bao gồm các tiên đề chung về dựng hình trong mặt phẳng và dựng hình trong không gian, phần còn lại là bao gồm các tiên đề dụng cụ. I Mọi hình đã cho là đã dựng được. Nếu đã dựng được hai (hay nhiều) hình thì hợp các hình đó là đã dựng.
II Nếu hai hình đã dựng thì ta có thé xác lập rằng hiệu của chúng là một tập hợp rỗng hay không. Nếu hiệu của hai hình đã dựng là một tập hợp không rỗng thì hiệu đó là đã dựng. _ Nếu hai hình đã dựng thì ta có thé xác lập rằng giao của chúng là một tập hợp rỗng hay không. Nếu giao của hai hình đã dựng là một tập hợp không rỗng thi giao đó là đã dựng.
C6 thể dựng được điểm, cho biết là thuộc một hình đã dựng. Có thể dựng được điểm, cho biết là không thuộc một hình đã dựng. 50 — 52] Những tiên đề trên đóng vai trò quan trọng đối với lý thuyết dựng hình. Từ tiên đề I cho ta biết đối tượng nào đã dựng và đối tượng nào chưa dựng, hơn nữa những tiên dé này còn là yếu tổ lý thuyết dé chứng minh cho quá trình dựng hình mà ta đã thực hiện là đúng đắn, giải thích vì sao có thé thực hiện được các phép dựng đã dựng.
Chăng hạn, khi cần dựng một hình A bao gồm hai hình bộ phận: hình 1 và hình 2 sau khi ta thực hiện dựng hình 1 và dựng hình 2 thì có nghĩa ta đã dựng được hình A (theo tiên đề II), hoặc khi ta đã dựng được một đường tròn thì ta có thể dựng một điểm nằm ngoài đường tròn (hay nằm trên đường tròn) chính là nhờ tiên dé VII và VIII. Đồng thời, các tiên đề này còn góp phan trong việc chứng minh hình đã dựng là thỏa yêu cầu của bài toán. e Tiên dé dụng cụ. Đối với dựng hình trong không gian thì tác giả đưa ra bộ dụng cụ: thước kẻ, compa và hai dụng cụ tưởng tượng ra là thước phăng và compa cầu.
Dựng hình trong không gian dựa trên các tiên đê về dụng cu sau: I. Trên mỗi mặt phăng đã dựng, ta có thể dựng được hình nếu phép dựng hình đó trong mặt phăng thực hiện được bằng thước và compa. Nếu đã dựng được ba điểm không cùng thuộc một đường thắng thì có thể dựng được mặt phẳng đi qua các điểm đó. Nếu đã dựng được tâm hình cầu và một điểm nào đó của nó thì có thể dựng được hình cầu đó.115] Các phép dựng được thực hiện nhờ các tiên đề chung I — VIII cùng với các phép dựng được nêu trong các tiên đề về dụng cụ được gọi là những phép dựng hình cơ bản.
Từ hệ tiên đề này cho thấy khi phép dựng hình trong không gian được quy về phép dựng hình trên một mặt phẳng nào đó thì phép dựng đó được thực hiện bằng thước va compa, nghĩa là thỏa mãn các tiên đề của thudc và compa’. Như vậy, dựng hình bằng thước kẻ và compa được xem như một bộ phận của dựng hình trong không gian. Định nghĩa bài toán dựng hình (cả trong mặt phăng lẫn không gian) không nêu ra trong giáo trình này. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra yêu cầu của bài toán dựng hình như sau.
Van dé đặt ra đối với bai toán dựng hình là hãy dựng một hình nào đó với những dụng cụ đã được quy định trước, khi đã cho một hình khác nào đó và đã định rõ một sô hệ thức giữa các phân tử của hình muôn dựng với các phần tử của hình đã cho. 54] Dé làm rõ hơn về bài toán dựng hình trong không gian, chúng tôi sẽ trình bày các tô chức toán học liên quan đến dựng hình trong không gian có trong giáo trình này. ' Tiên dé thước: — Dựng nối liền hai điểm đã dựng. — Dung đường thang đi qua hai điểm đa dựng.
— Dựng tia phát xuất từ một điểm đã dựng và đi qua một điểm đã dựng. Tiên dé compa: — Dựng đường tròn nếu tâm đường tròn và đoạn thang bang ban kính đường tron đã dựng. — Dựng được bat kỳ cung nào trong hai cung bù nhau của một đường tròn và các điểm mút của các cung đó đã dựng. 52 — 53] Trong phần lý thuyết, tác giả trình bày 3 ví dụ thuộc hai kiểu nhiệm vụ: “Dựng một đường thắng thỏa mãn một số điều kiện cho trước” và “Dựng một điểm thỏa mãn một sô điêu kiện cho trước”.
> Kiểu nhiệm vụ 7; : “Dựng một đường thang thỏa mãn một số điều kiện cho trước” Kỹ thuật r,: — Giả sử dựng được đường thắng thỏa mãn yêu cầu bài toán. — Tìm các mối liên hệ giữa đường thăng cần dựng với các đối tượng khác đã cho. — Chỉ ra hai điểm phân biệt thuộc đường thắng cần dựng, hoặc một điểm thuộc đường thăng cần dựng và phương của đường thăng đó, hoặc đường thăng cần dựng thuộc hai mặt phẳng nào đó. — Dựng đường thăng đi qua hai điểm phân biệt trên, hoặc đi qua một điểm và có phương như trên, hoặc giao tuyến của hai mặt phẳng đã chỉ ra ở trên thì đường thắng đó là đường thăng cần dựng.116 — 117] Qua điểm P đã cho, nằm ngoài mặt phăng (a), hãy dựng đường thang vuông góc với mặt phăng đó.
Giả sử PM là đường thăng muốn tìm (hình 1. Ta có thé dựng được PM nêu dựng được mặt phang () nao đó đi qua đường thắng đó. Ta sẽ dựng được (£)va PM nếu dựng được đường thăng a. Gọi Q là một điểm trên a khác M.
Suy ra a là hình chiếu vuông góc của PQ trên (a). Nếu QN c(ø) thì OP và OM đồng thời vuông góc với ON hoặc đồng thời không vuông góc với ON. Từ đó suy ra cách dựng PM như sau: Cách dựng. — Trong (z) dựng đường thang » tùy ý.
— Dựng mặt phẳng (P,b). — Trong (a), qua điểm Q dựng a Lb. — Dựng mặt phẳng (P,a). Vậy PM là đường thang cần dựng.
PM La Biện luận. Bài toán đã cho bao giờ cũng có nghiệm và có một nghiệm duy nhất. Nhận xét: Ở ví dụ trên, chúng tôi nhận thấy lời giải bao gồm bốn bước: Phân tích, cách dựng, chứng minh và biện luận. Ở bước phân tích, tác giả sử dụng phương pháp phân tích đi xuống đề tim được đối tượng cần dựng.
Để dựng được hình H ta dựng hình H,, để dựng hình H; ta dựng hình Hạ. sau một số hữu hạn bước dẫn đến dựng hình Hạ, trong đó hình H, cần dựng là một trong các bài toán cơ bản hoặc các phép dựng hình co bản. Va bước cách dựng chỉ là việc trình bày ngược lại tiến trình trên mà thôi. Như vậy, bước phân tích là bước then chốt, đóng vai trò quyết định trong việc tìm ra cách dựng.
Bởi vì, bước phân tích cung cấp phương pháp và rèn luyện kỹ năng dé tìm ra cách dựng. Đồng thời nó cũng đóng vai trò là yêu tố công nghệ - lý thuyết giải thích cho việc tìm ra cách dựng. Vì vậy, nếu bước phân tích vắng mặt thì lời giải trở nên khó hiểu và cách dựng không biết xuất phát từ đâu mà có. > Kiêu nhiệm vu 7,điem : “Dựng một điêm thỏa mãn một sô điêu kiện cho trước”.
Giả sử dựng được điểm thỏa mãn yêu cầu bài toán. Tìm các mối liên hệ giữa điểm cần dựng với các đối tượng khác đã cho. Chỉ ra điểm cần dựng thuộc hai đường thăng, hoặc thuộc một đường thang và một mặt phăng. Dựng giao điểm của hai đường thắng trên, hoặc giao điểm của đường thang và mặt phang trên thì điểm đó là điểm cần dựng.117] Hai điểm A và B (hình 1.2) cùng năm về một phía đối với mặt phẳng (z).