phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục ra, nội dung luận văn đƣợc chia ra làm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cấp Tiểu học và môn Bắc sử cho cấp Tiểu học trong chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử (1906) Nội dung trọng tâm của chƣơng 1 là đi vào trình bày những điểm cơ bản về chƣơng trình cải lƣơng giáo dục chữ Hán năm 1906; phân tích về môn Bắc sử ở cấp Tiểu học; giới thiệu văn bản Bắc sử tân san toàn biên về các vấn đề văn bản học, hình thức, bố cục và nguồn tƣ liệu đƣợc sử dụng để biên soạn. Chƣơng 2: Tính tân san của Bắc sử tân san toàn biên – sách giáo khoa môn Bắc sử cho cấp Tiểu học trong chƣơng trình giáo dục khoa cử cải lƣơng (1906) Trọng tâm của chƣơng 2 là tiến hành khảo sát hệ vấn đề về nội dung của Bắc sử tân san toàn biên để từ đó làm sáng tỏ các vấn đề có tính chất tân san của nó, nhƣ tính tân san đƣợc thể hiện qua tuyên ngôn của bài tựa; tính tân san đƣợc thể hiện qua kết cấu của văn bản; tính tân san đƣợc thể hiện qua các bài tổng luận cũng nhƣ sự cập nhật về ngôn từ mới. Đóng góp mới của đề tài Đề tài lần đầu tiên đề cập đến môn học Bắc sử trong chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906. Nghiên cứu toàn diện về một văn bản đƣợc Hội đồng Bắc kỳ duyệt làm sách giáo khoa môn học Bắc sử, và xem đó là minh chứng tiêu biểu nhất cho 13 z sự đổi mới của việc biên soạn và học Bắc sử, đó là văn bản Bắc sử tân san toàn biên.
Dịch, chú Bắc sử tân san toàn biên để đóng góp về mặt tƣ liệu nghiên cứu Lịch sử Trung Quốc. NỘI DUNG Chƣơng 1 CẤP TIỂU HỌC VÀ MÔN BẮC SỬ CHO CẤP TIỂU HỌC TRONG CHƢƠNG TRÌNH CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ (1906) Chƣơng này có nhiệm vụ đi vào trình bày những điểm cơ bản về môn Bắc sử ở cấp Tiểu học thông qua việc phân tích những điểm chính yếu nhất của cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906; giới thiệu văn bản Bắc sử tân san toàn biên về các vấn đề văn bản học, hình thức, bố cục và nguồn tƣ liệu đƣợc sử dụng để biên soạn bộ sách giáo khoa này. Hai hệ thống giáo dục trong chế độ thực dân – phong kiến những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã song hành tồn tại hai hệ thống giáo dục. Hai hệ thống giáo dục đó là: - Hệ thống giáo dục khoa cử.
- Hệ thống giáo dục Pháp – Việt. Hai hệ thống giáo dục này khác nhau về một loạt vấn đề. Hệ thống giáo dục khoa cử vốn là hệ thống giáo dục Nho học, lấy thánh kinh hiền truyện làm đối tƣợng, lấy Hán văn làm ngôn ngữ, lấy Quốc Tử Giám làm trƣờng trung tâm, lấy dân gian làm trƣờng thiên thành, lấy Hƣơng thí, Hội thí, Điện thí làm kỳ thi, lấy cử nghiệp làm mục đích. Hệ thống giáo dục Pháp – Việt lấy khoa học châu Âu làm đối tƣợng, lấy Pháp ngữ làm ngôn ngữ giáo dục, lấy quốc ngữ làm chuyển ngữ, lấy chia 15 z trƣờng làm cấp học.
Nền giáo dục ấy chia làm hai loại: Giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp. Trong hoàn cảnh của chế độc thực dân, giáo dục trong hệ thống trƣờng Pháp – Việt là giáo dục hiện đại, là lối thoát, lối đi lên cho giáo dục bản xứ. Hai hệ thống giáo dục nói trên khác nhau về chiều hƣớng phát triển. Hệ thống giáo dục Pháp – Việt khởi đầu từ năm 1867 ở 6 tỉnh Nam Kỳ, học quốc ngữ và sau đó chuyển quốc ngữ sang Pháp ngữ.
Lúc đầu, loại trƣờng này bị tẩy chay. Thực dân Pháp đã phải bắt ngƣời đi học, cấp tiền, cấp mọi vật liệu, sách vở cho ngƣời đi học, thuê tiền cho ngƣời đi học nhƣng vẫn chẳng có mấy ngƣời. Ngƣợc lại, trƣờng chữ Nho – trƣờng thầy đồ lúc đó dù bị cấm đoán, hạn chế nhƣng lại đông ngƣời đến học vì đi học ở đây đƣợc coi là “giữ đạo nhà”. Thế nhƣng, năm 1874 và 1879, thực dân Pháp đã ban hành quy chế giáo dục.
Cùng với những thay đổi đó là những quy định mới về các loại ngôn ngữ văn tự dung trong văn bản hành chính. Theo đó, các văn bản hành chính phải viết bằng mẫu tự Latinh, bản chữ Nho chỉ có giá trị tham khảo. Chữ Hán vì thế đã bị loại khỏi lĩnh vực hành chính và giáo dục ở Nam Kỳ. Sau Hòa ƣớc 1884, những kinh nghiệm trong giáo dục ở Nam Kỳ đã đƣợc áp dụng ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Các vấn đề của giáo dục khoa cử và chữ Hán đƣợc giải quyết dƣới sự chi phối của hai đƣờng lối cai trị của bọn thực dân: đồng hóa (assimilation) hay hợp tác (association). Giáo dục khoa cử kiểu cũ vẫn đƣợc duy trì trong khoảng thời gian hai mƣơi năm nữa. Đến năm 1906, Toàn quyền Paul Beau mới ra Nghị định Cải tổ giáo dục ở Bắc Kỳ, trong đó chủ yếu là cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán theo hƣớng tạo nên một bƣớc quá độ để đi đến loại bỏ khoa cử chữ Hán. Cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán (1906) Nền giáo dục khoa cử từ chƣơng chữ Hán bộc lộ rõ nét và tận cùng những hạn chế, không hợp thời chính là vào những thập niên cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, song chế độ thực dân phong kiến vẫn duy trì.
Gƣơng Nhật Bản duy tân, Trung Quốc phế bỏ văn bát cổ đã truyền đến nƣớc ta. Chính những ngƣời sĩ phu Việt Nam yêu nƣớc đã hô hào phế bỏ khoa cử, đòi mở mang dân trí, chấn hƣng dân khí, nuôi dƣỡng dân tài. Chính điều này đã buộc chính quyền thực dân phong kiến phải có những hành vi điều chỉnh trong chính sách giáo duc. Cải lƣơng giáo dục khoa cử là cải lƣơng các vấn đề liên quan đến hệ thống nhà trƣờng, chƣơng trình môn học, các ngôn ngữ văn tự đƣợc sử dụng trong hệ thống nhà trƣờng đó, hệ thống giáo viên và sách giáo khoa, phép thi, hệ thống văn bằng đƣợc cấp và vấn đề sử dụng sản phẩm đào tạo sau khi thi đỗ.
Ngày 27 - 04 - 1904 (Thành Thái năm thứ 16), ban hành nghị định thiết lập Nha Học chính Bắc Kỳ. Tháng 2 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18), ban hành nghị định thiết lập Nghị học Hội đồng, cải định các khoản về phép học phép thi ở Bắc Kỳ. Ngày 31- 05- 1906, phụng thƣợng dụ cải định Trung Kỳ Học pháp. Cũng trong năm này, vào ngày 14 tháng 9, toàn quyền phụng dụ thi hành.
Lại ngày 16 tháng 11 năm ấy, thống sứ Bắc Kỳ tuân phụng các khoản của nghị định thƣợng dụ. Đó là thời kỳ biến đổi thứ nhất của học hiệu. Sau khoa thi Hƣơng năm Bính Ngọ (1906) là thời kỳ cáo chung của văn bát cổ. Theo tấu chƣơng ngày 06 tháng 7 năm 1906 (Thành Thái năm thứ 18) của Viện Cơ Mật về cải lƣơng giáo dục và quy thức phép thi mà Nghị học Hội đồng thƣơng nghĩ và đã đƣợc phê chuẩn.
Nếu nhƣ trong cải cách của hệ thống trƣờng Pháp – Việt chỉ là hoàn chỉnh thêm một bƣớc, chƣơng trình trung học (mà thực ra cũng chƣa đầy đủ) 17 z để đào tạo những nhân viên cho các ngành kinh tế, hành chính và sƣ phạm thì việc cải cách trong hệ thống trƣờng chữ Hán sẽ làm thay đổi khá nhiều cơ cấu của nền giáo dục cổ truyền này. Chính vì vậy mà trƣớc khi đƣa ra chƣơng trình cải cách giáo dục chữ Hán, không những các chuyên gia kinh tế, chính trị, văn hóa…bàn cãi rất sôi nổi mà các sĩ quan trong quân đội cũng có ý kiến. Tuy nhiên, có 2 điểm cơ bản quán triệt trong toàn bộ việc cải cách hệ thống trƣờng chữ Hán là: Trong khi chƣa có điều kiện xóa bỏ, phải giữ lại nền giáo dục chữ Hán cổ truyền ở mức độ nào? Làm thế nào để đƣa vào một chƣơng trình khoa học, nhƣng lại phải dùng chữ Quốc ngữ làm chuyển ngữ? Trên cơ sở của hai yêu cầu đó, chƣơng trình cải lƣơng giáo dục chữ Hán đã đƣợc chia ra các cấp học: Bậc thứ nhất gọi là Ấu học. Bậc thứ hai gọi là Tiểu học.
Bậc thứ ba gọi là Trung học. Bậc Ấu học: Do các xã thôn tự trù thiết lập để dạy những trẻ em nam và nữ, từ 6 tuổi đến 12 tuổi. Còn những ai đứng ra mời thầy, lập trƣờng tƣ cũng cho phép. Các sĩ tử trƣờng tƣ cũng đều đƣợc tham dự sát hạch ứng thí cũng nhƣ sĩ tử trƣờng công.
Các xã thôn đƣợc tự lựa chọn giáo sƣ nhƣng cần phải có chính quyền công nhận. 18 z Các viên giáo huấn của các phủ huyện có chức vụ trong việc kiểm sát trƣờng Ấu học ở hƣơng thôn. Ở các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trƣờng Ấu học, theo quy thức của trƣờng Ấu học. Kinh phí của các trƣờng ấy do các tỉnh chi cấp.
Giáo quy của trƣờng Ấu học có hai loại: Một là giáo quy chữ Hán, hai là giáo quy chữ Nam. Giáo quy chữ Hán nhằm dạy những chữ Hán thƣờng dùng và những chữ Hán thiết dụng về các lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý. Giáo quy chữ Nam thì dạy chữ Quốc ngữ và các bài đọc chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, lễ phép, thiên văn, địa lý và vệ sinh. Tốt nghiệp Ấu học thì đƣợc cấp văn bằng Tuyển Sinh.
Còn nhƣ phép đào tạo các giáo sƣ cho hệ Ấu học thì ở tỉnh lỵ của các tỉnh có thiết lập một trƣờng quốc ngữ để dạy cho các hƣơng sự không biết chữ quốc ngữ. Bậc Tiểu học Các phủ huyện đều thiết lập trƣờng Tiểu học (tức trƣờng giáo thụ, huấn đạo). Bậc Tiểu học thu nhận đến những ngƣời dƣới 27 tuổi. Việc mở rộng tuổi cho ngƣời nhập học Tiểu học đến mức nhƣ thế này nhằm tạo ra lối thoát cho cả một thế hệ những ngƣời đã có thâm niên hang chục hoặc hơn chục năm đi học chữ Hán theo lối khoa cử truyền thống, làm giảm áp lực xã hội đối với các chính sách phế bỏ khoa cử mà chính quyền thực dân phong kiến sắp thực hiện trong tƣơng lai gần.
Các trƣờng Tiểu học, học 2 năm ở các phủ huyện do các giáo thụ, huấn đạo chịu trách nhiệm.