Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Tổng quan ngành may Việt Nam và thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và mô hình nghiên cứu bao gồm các nội dung chính như sau: (I) Cơ sở lý thuyết – (1) lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, áp lực cạnh tranh, (2) Một số lý thuyết và nhận định về các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình cạnh tranh của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước và (3) Bài học rút ra cho các DNMXK tại TP.HCM; (II) Mô hình nghiên cứu: Mô hình lý thuyết và mô hình thực tế.1 Lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, áp lực cạnh tranh.1 Khái niệm về cạnh tranh Mỗi khái niệm và định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định vì mỗi tác giả đứng trên những quan điểm khác nhau khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu để phát biểu. - Từ điển kinh tế học: Cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, các tập đoàn hay các quốc gia, đồng thời sự cạnh tranh nảy sinh khi hai hoặc nhiều bên cùng quyết tâm giành lấy các thứ mà không phải ai cũng có thể giành được. - Theo đại từ điển kinh tế thị trường: Cạnh tranh hữu hiệu là một phương thức hoạt động thích ứng với thị trường có mục tiêu chính là tranh giành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho con người tương đối thỏa mãn đạt được một lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh.
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1): Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. - Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp: “Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường”. Đối với bên mua mục đích là tối đa 7 hoá lợi ích của những hàng hoá mà họ mua được còn với bên bán thì ngược lại phải làm sao để tối đa hoá lợi nhuận trong những tình huống cụ thể của thị trường. - Theo lý thuyết cạnh tranh của Michael E.Porter: Cạnh tranh là giành lấy thị phần trong kinh doanh.
Bản chất của cạnh tranh là để tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Porter, 1980).2 Các quan điểm về cạnh tranh - Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là động lực của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thông qua cạnh tranh, sẽ kích thích các doanh nghiệp năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, nghiên cứu, ứng dụng và cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế nhằm tạo ra được những sản phẩm tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn. Bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những mặt tiêu cực như sự cạnh tranh không bình đẳng, không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại,…) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái; tình trạng cá lớn nuốt cá bé, thiệt hại quyền lợi của người tiêu dùng,.
Cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến khủng hoảng thừa, thất nghiệp,…Vì vậy, chấp nhận cạnh tranh như là sự tất yếu của nền kinh tế thị trường. - Quan điểm về cạnh tranh lành mạnh: Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn, doanh nghiệp nào bằng lòng với vị thế hiện tại trên thị trường mà không có sự cải tiến hoặc thay đổi phát triển sẽ nhanh chóng bị rơi vào tình trạng tụt hậu và bị đào thải. - Quan điểm về cạnh tranh không lành mạnh: Cạnh tranh không lành mạnh là các hoạt động kinh tế trong kinh doanh trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh 8 doanh hoặc khách hàng. Trong cạnh tranh không lành mạnh sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộc chiến.
Hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi. - Đứng trên quan điểm vì lợi ích của khách hàng, theo TS. Tôn Thất Nguyễn Thiêm - cạnh tranh trên thương trường được hiểu không phải là sự diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn đối thủ cạnh tranh của mình.3 Khái niệm về lợi thế cạnh tranh: - Lợi thế cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để nắm bắt cơ hội, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh tranh của họ.
Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia), vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp). - Theo quan điểm của Michael Porter, doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp. Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững - có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. - Theo Micheal Porter, để tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững các doanh nghiệp có thể thực hiện những hành động sau: nâng cao hiệu quả các hoạt động (tạo ra hiệu suất lớn hơn với chi phí thấp hơn dựa vào hiệu suất lao động và vốn), nâng cao chất lượng (tạo ra những sản phẩm hay dịch vụ tin cậy, an toàn và khác biệt nhằm đem lại những giá trị cao hơn trong nhận thức của khách hàng), đổi mới (khám phá những phương thức mới và tốt hơn để cạnh tranh trong ngành và thâm nhập vào thị trường) và nâng 9 cao sự thỏa mãn khách hàng (làm tốt hơn đối thủ trong việc nhận biết và đáp ứng các nhu cầu của khách hàng).
[13] - Theo Micheal Porter, để duy trì lợi thế cạnh tranh phải đáp ứng được ba điều kiện: + Thứ nhất, hệ thống cấp bậc của nguồn gốc (tính bền vững và tính bắt chước), những lợi thế cấp thấp hơn như chi phí lao động thấp thì rất dễ bị các đối thủ bắt chước trong khi những lợi thế cao hơn như độc quyền về công nghệ, danh tiếng thương hiệu, hay đầu tư tích lũy và duy trì các mối quan hệ với khách hàng thì các đối thủ khó có thể bắt chước được. + Thứ hai, số lượng của những nguồn gốc khác biệt, càng nhiều thì các đối thủ càng khó bắt chước. + Thứ ba, không ngừng cải tiến và nâng cấp, luôn tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới ít nhất là nhanh hơn đối thủ để thay thế những cái cũ. Vì vậy: Lợi thế cạnh tranh là những thế mạnh mà các doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất nào đó có hoặc sẽ có bằng sự khai thác, huy động các nguồn lực để đạt được mục tiêu trong cạnh tranh so với đối thủ cạnh tranh.
Nó vốn hình thành và tồn tại trong các nguồn lực thông qua tài năng của nhà quản trị đánh thức nó dậy, phát huy nó lên để giành lấy những thắng lợi trước đối thủ. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành là không cố định. Nó luôn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế cùng với sự thay đổi cơ cấu các nguồn lực và phụ thuộc vào hiệu quả khai thác lợi thế cạnh tranh sẵn có của nền kinh tế. Đặc biệt lợi thế cạnh tranh của DN hay ngành thường dễ bị xói mòn do các đối thủ cạnh tranh lấy cắp, bắt chước,… do đó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững đòi hỏi các DN phải cảnh giác, bảo vệ những bí mật sản xuất kinh doanh từ nội bộ cũng như bên ngoài, thực hiện đúng đắn các giải pháp khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh, chọn lựa hợp lý các chiến lược và đề ra các sách lược chính xác, phù hợp trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.
Những lợi thế cạnh tranh được các doanh nghiệp sử dụng thường gặp như sau: 10 * Lợi thế về giá cả; * Lợi thế về chất lượng, thời gian giao hàng; * Lợi thế về giao dịch đối ngoại; * Lợi thế về kỹ thuật, công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực; * Lợi thế về độ nhạy bén, mềm dẻo thích ứng trước sự thay đổi chiến lược, mục tiêu của ngành cũng như sự thay đổi nhu cầu của thị trường; Tóm lại: Lợi thế cạnh tranh được nhìn từ góc độ tìm kiếm điểm mạnh nhằm giúp DN phát huy thế mạnh của mình để phát triển. Nhưng để phát triển bền vững thì bên cạnh việc tìm ra những lợi thế còn phải tìm ra những ALCTR nào mà ngành/DN đang phải đối mặt để có biện pháp hạn chế các ALCTR này nhằm giúp doanh nghiệp có thể hội nhập vững chắc trên trường quốc tế (chi tiết về các ALCTR được trình bày trong mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter).4 Khái niệm về áp lực cạnh tranh: Michael E.Porter đã đưa ra mô hình 5 lực lượng cạnh tranh như sau: Hình 2.1: MÔ HÌNH 5 LỰC LƯỢNG CẠNH TRANH CỦA MICHAEL. Porter: - Bất cứ ngành nghề nào cũng chịu sự tác động của năm lực lượng cạnh tranh, đó là: sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp, sức mạnh mặc cả của khách hàng, sức ép cạnh tranh của đối thủ cùng ngành, mối đe dọa của đối thủ tiềm ẩn, mối đe dọa của sản phẩm thay thế.