Đặt vấn đề Lê là cây ăn quả ôn đới quan trọng thứ hai sau táo tây, sản lƣợng trên thế giới hàng năm khoảng 14 - 16 triệu tấn. Cây lê đƣợc trồng nhiều ở một số nƣớc và vùng lãnh thổ nhƣ: Trung quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Nga, cây thƣờng trồng ở các vùng ôn đới có khí hậu lạnh CU (Chilling Unit) ≥ 200. Quả lê có giá trị cao bởi trong thịt quả có chứa nhiều chất dinh dƣỡng, kết quả phân tích trong quả lê có chứa 9,44 % đƣờng tổng số,0,4 % axít nitric,14,9 mg/100g vitamin C, phần ăn đƣợc chiếm 89, 88%, theo (Võ Văn Chi. 1997) [2] thì công dụng chính của quả lê là ăn quả, quả khô dùng làm thuốc trị lỵ, quả tiêu thử, kiện vị, thu liễm, ngoài ra quả lê còn một số đặc điểm và tác dụng nhƣ sau: quả lê có vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, nhuận táo, sinh tân chỉ khát.
Nhà học giả Lê Quý Đôn ở thế kỷ 18 đã viết “Đi đƣờng khát nƣớc và mệt mỏi, đƣợc ăn mấy quả lê thấy đỡ khát ngay, lúc bấy giờ nghĩ là uống nƣớc Quỳnh tƣơng, Ngọc dịch cũng không hơn gì, mía và chuối so với lê chỉ là hạng đầy tớ, tay gọt quả lê thấy suốt ngày thấy hƣơng thơm”. Tại một số nƣớc châu Âu quả lê dùng chủ yếu để ăn tƣơi, sấy khô, làm nƣớc quả. Ở nƣớc ta quả lê chủ yếu dùng để ăn tƣơi, ngoài ra còn một số nơi còn phơi khô ngâm rƣợu, hoặc muối chua sử dụng làm thực phẩm thay rau xanh lúc giáp vụ… Quả lê chín kỹ thịt quả màu trắng, ăn giòn vị ngọt mát và đặc biệt có mùi thơm hấp dẫn, trong nhân dân còn gọi lê là “ quả 7 vị 5 mùi”. Trên thế giới có khoảng 78 nƣớc trồng lê, đƣợc trồng nhiều nhất ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dƣơng.
Trên thế giới Nga, Braxin, Đức, Pháp, Trung Quốc và các nƣớc vùng Địa Trung Hải rất chú trọng tới việc trồng lê, ở những nơi đó đƣợc trồng chủ yếu là những giống lê ngon và có giá trị kinh tế. , có rất nhiều tiềm năng về đất đai và khí hậu thích hợp với nhiều loại cây ăn quả có nguồn gốc á nhiệt 2 đới và nhiệt đới nhƣ: Vải, mơ, nhãn, cam, quýt… tuy nhiên cây lê chƣa đƣợc trồng tại Thái Nguyên bởi khí hậu của Thái Nguyên không phù hợp cho sự ra hoa, kết quả tự nhiên của lê. Để sản xuất lê ở các vùng thấp có điều kiện nhiệt độ cao, trên thế giới đã xuất hiện công nghệ ghép chồi hoa dựa trên cở sở là: Tại các vùng núi cao, nơi có mùa Đông lạnh, trồng các cây lê tốt có năng suất cao, chất lƣợng tốt, sau mùa Đông, cây đã phân hoá mầm hoa, có thể cắt các chồi mầm hoa này ghép trực tiếp lên các cây gốc ghép lê dại ở các vùng thấp, cây sẽ ra hoa, tạo quả theo đúng vị trí và số lƣợng quả mong muốn. Hiệu quả của kỹ thuật này là ngƣời sản xuất có thể chủ động tạo năng suất và chất lƣợng quả lê theo yêu cầu của thị trƣờng, tuy nhiên các vùng lạnh cây có nhiều yếu tố hạn chế nhƣ: Đất dốc, xấu, ngƣời dân hạn chế về kỹ thuật chăm sóc do vậy năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao, để khắc phục hiện tƣợng trên nếu lê đƣợc trồng và sản xuất ở vùng thấp, có điều kiện đất đai canh tác tốt, năng suất chất lƣợng sẽ cao, đặc điểm sinh lý của cây lê là phải phân hóa mầm hoa ở vùng lạnh và lợi dụng đặc điểm này dùng các mầm hoa đƣợc phân hóa ghép vào các gốc lê ở vùng thấp sẽ ra hoa, kết quả và cho thu hoạch ở vùng thấp, đây là công nghệ mới đã đƣợc áp dụng đối với táo lê tại Đài Loan và Nhật Bản, xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ và kỹ thuật ghép chồi hoa lê đến sinh trưởng phát triển của giống lê VH6 tại Thái Nguyên ”.
Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2. Mục tiêu Xác định kỹ thuật phù hợp trong ghép chồi hoa lê VH6 để sản xuất lê tại Thái Nguyên. Yêu cầu Thời vụ ghép, kỹ thuật ghép lê VH6 tại Trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên và xã La Bằng huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. 3 Nghiên cứu ảnh hƣởng của thời vụ và kiểu ghép đến khả năng tiếp hợp khả năng hình thành quả, thời gian ra hoa, quả, các chỉ tiêu về quả, chất lƣợng quả của lê VH6 tại một số vùng sinh thái tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp cho mỗi học viên cao học củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết đã học vào thực tế sản xuất, bƣớc đầu giúp học viên cao học làm quen với công tác nghiên cứu khoa học để hiểu sâu sắc hơn về cây trồng, cũng nhƣ kỹ thuật trồng trọt. Qua đó giúp giúp học viên cao học nâng cao trình độ chuyên môn và phƣơng pháp nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Các kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho việc chọn lọc các dạng lê có năng suất cao và phẩm chất tốt phù hợp cho sản xuất đồng thời nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống lê, nhằm tạo ra nhanh những giống lê tốt góp phần nâng cao diện tích, năng suất và chất lƣợng lê cho Thái Nguyên.
Mặt khác những kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy và tham khảo cho các nhà vƣờn, các hộ gia đình, các hộ khuyến nông, các nhà khoa học nông nghiệp nghiên cứu những vấn đề về chọn tạo, nhân giống lê và là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây lê ở tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Qua kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế xác định một số biện pháp kỹ thuật trong ghép chồi hoa lê VH6 để sản xuất lê tại Thái Nguyên. Góp phần giúp tỉnh Thái nguyên xác định thực trạng về tình hình sản xuất lê, làm cơ sở cho việc hoạch định kế hoạch phát triển cây lê và lựa chọn ra đƣợc những dạng lê tốt, phục vụ cho việc sản suất lê thực sự có hiệu quả, góp phần đa dạng hoá sản phẩm, tạo việc làm cho ngƣời lao động, tăng thu nhập và từng bƣớc nâng cao đời sống của đồng bào vùng trung du. - Xác định biện pháp nhân giống lê bằng phƣơng pháp ghép cành để áp dụng rộng rãi trong công tác nhân giống, nhằm nâng cao tỷ lệ sống sau ghép và tạo ra số lƣợng lớn những cây con có đủ tiêu chuẩn, chất lƣợng cao đƣa ra sản xuất.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của kỹ thuật ghép cây ăn quả 1. Cơ sở khoa học của sự tiếp hợp giữa gốc ghép và cành ghép Ghép cây là đƣa một đoạn cành hoặc mắt của cây này ghép lên gốc cây khác để tạo thành một cây mới hoàn chỉnh. Mắt ghép đƣợc gắn lền với gốc ghép là nhờ sự hoạt động và khả năng tái sinh của tƣợng tầng, ở cả hai bộ phận gốc ghép và mắt ghép.
Khả năng liền lại giữa hai bộ phận khác nguồn gốc là nhờ tế bào tƣợng tầng. Đó là những tế bào mô phân sinh nằm giữa vỏ và gỗ. Các tế bào này chƣa có vách xenlulo mà chỉ có màng protein. Vì vậy tế bào tƣợng tầng ngọn ghép có thể trộn sát, dính liền với tế bào tƣợng tầng gốc ghép.
Đồng thời, màng tế bào thực vật có tính thấm nên có sự trao đổi chất với tế bào tƣợng tầng gốc ghép và tế bào ngọn ghép. Sau khi liền, các mô mềm, mô phân sinh ở chố tiếp xúc (do tƣợng tầng sinh ra) phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn (gỗ và libe). Hệ thống này dẫn truyền nƣớc, chất khoáng (nhựa nguyên) và sản phẩm quang hợp (nhựa luyện) lƣu thông giữa gốc ghép và mắt ghép, cây phát triển bình thƣờng. Các tế bào phần tƣợng tầng có khả năng phân chia liên tục, tiếp tục sinh ra gỗ bên trong, sinh ra vỏ bên ngoài.
Cây lớn lên trong hình thức cộng sinh, mạch gỗ cung cấp nƣớc và muối khoáng làm nguyên liệu cho ngọn quang hợp, tạo ra chất hữu cơ nuôi toàn cây và tạo ra năng suất hoa quả. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp ghép 1. Ưu điểm Kết hợp ƣu điểm của cây mẹ làm ngọn có năng suất chất lƣợng quả cao đẹp và gốc ghép có bộ rễ khỏe (chịu hạn, lạnh, chua, sâu bệnh). Ngọn của cây ghép mang kiểu gen của cây mẹ nên khả năng giữ đƣợc đặc tính tốt của cây mẹ cả về năng suất và chất lƣợng quả.
Có thể sử dụng để khắc phục lại bộ 5 phận cây đã cỗi (cây đã già cỗi, ngọn bị sâu đục nhiều hoặc cao quá, dễ đổ gẫy). thậm chí có nhƣng vƣờn bƣởi chua, vải chua, có thể cải tạo thành bƣởi ngọt, vải ngọt. Hệ số nhân giống cao, nhanh ra quả. Cải tạo chiều cao và thời gian sinh trƣởng của cùng một giống.
Với cây ăn quả phát triển mạnh về chiều cao, dễ đổ gẫy thì lấy ngọn ghép vào gốc. khi đủ số cành và kích thƣớc để thay thế thi cắt ngọn cũ. Nhƣ vậy cây sẽ thấp xuống mà tránh đƣợc ảnh nhƣởng phẩm chất quả. Tạo gốc ghép lùn bằng giống lùn để có cây ghép thấp, dễ chăm sóc, thu hái.
Tăng cƣờng khả năng chống chịu của cây với điều khiện bất thuận ngoại cảnh, ngoài ra đây là hình thức tiếp cận vô tính trong lai xa. Cây ghép sinh trƣởng tốt, tuổi thọ cao nhờ rễ của gốc ghép hoạt động tốt, cây ghép giữ đƣợc đặc điểm tôt của cây mẹ, điều này có đƣợc do mắt ghép lấy trên cây giống đã thành thục, các đặc tính di truyền đã ổn định. Cây ghép sớm ra hoa kết quả vì tuổi của mắt ghép và cành ghép đã thành thục, có thể tiếp tục giai doạn phát dục của cây mẹ. Có hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn có thể tạo ra một số lƣợng lớn cây giống, duy trì đƣợc nòi giống đối với những giống không có hạt hoặc chiết, giâm cành khó ra rễ.
Nâng cao đƣợc sức chống chịu của giống: chịu han, chịu úng, chịu sâu bệnh… trên cơ sở trọn đƣợc giống ghép thích hợp. Cây thấp, có thể tạo tán cây ngay từ giai đoang vƣờn ƣơm, do vậy thuân tiện cho việc chăm sóc, thu hoạch ở vƣờn sản xuất. Nhược điểm Cây ghép dễ bị nhiễm bệnh nếu không chú ý chọn mắt ghép, gốc ghép sạch bệnh.