ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo thống kê, ở nước ta hiện có 3.948 loài cây được dùng làm thuốc với khoảng trên dưới 300 loài thường xuyên được khai thác sử dụng cho thị trường trong nước. Nhu cầu về thị trường dược liệu ở nước ta hiên nay khoảng 50.000 tấn dược liệu mỗi năm, trong đó khoảng 2/3 được khai thác tự nhiên và trồng trọt.000 tấn dược liệu cho nhu cầu thuốc y học cổ truyền, bao gồm cả số liệu nhập khẩu qua nhiều con đường. Mặc dù Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về nguồn nguyên liệu làm thuốc nhưng theo điều tra của viện dược liệu, nhiều loài cây thuốc có giá trị chữa bệnh và kinh tế cao trước đây có trữ lượng lớn cho khai thác thì nay đã bị giảm sút và trở nên hiếm như : Hà thủ ô đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên, Ngũ gia bì gai, Ba kích, Đảng sâm, Hoàng tinh.
Đã có 123 loài thuộc 53 họ được đưa vào danh mục đỏ, sách đỏ việt nam và danh mục thuốc nghị định 48CP/2002 của chính phủ. Trong đó có tới 55 loài được phân hạng theo I UCN ở mức bị đe dọa tuyệt chủng. Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn cây dược liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách được đặt lên hàng đầu. Bởi vì bảo vệ tài nguyên sinh vật là chúng ta đang bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo vệ sự đa dạng sinh học và môi trường, bảo vệ chính chúng ta về sức khỏe, kinh tế, văn hóa,.
Hơn nữa, phát triển dược liệu trong giai đoạn tới cũng mở ra cơ hội rất lớn cho việc giao thương, tham gia thị trường quốc tế về dược liệu và dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên. Nhưng hàng năm nguồn dược liệu trong nước chỉ đáp ứng được 26% còn lại chúng ta phải nhập từ nước ngoài, trong đó chủ yếu từ Trung Quốc chiếm 54% mà chất lượng dược liệu nhập khẩu chưa được kiểm tra và quản lý chặt chẽ nên vẫn bị hiện tượng nhập n 2 “dược liệu rác” (Hoàng Khánh Toàn, 2012). Theo Cục Quản lý dược (2012), năm 2010 nước ta nhập khẩu 16.790,38 tấn dược liệu thô với tổng giá trị nhập khẩu dược liệu 15.143,39 nghìn USD và năm 2011 nhập 18.772,48 tấn dược liệu thô, tăng 11,81% so với năm 2010 và tổng giá trị nhập khẩu dược liệu năm 2011 đạt 16.445,86 nghìn USD, tăng 8,6% so với năm 2010. Theo báo cáo của Cục quản lý dược, nhu cầu sử dụng Sơn đậu căn làm thuốc hàng năm là 150 tấn, trong đó lượng nhập từ Trung Quốc là 98,5%.
Cây Sơn đậu căn là một cây thuốc có vai trò quan trọng trong y học cổ truyền. Phát triển cây Sơn đậu căn có ý nghĩa cả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường và y học, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao. Cây Sơn đậu căn đã được phát hiện là một cây thuốc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, lợi hầu họng. Trong y học cây Sơn đậu căn được coi là dược thảo quý với nhiều tác dụng bảo vệ sức khỏe con người như chữa các bệnh bệnh sốt do viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan, viêm họng, các bệnh mụn nhọt, đặc biệt nhọt độc, phù thũng, răng lợi sưng đau; còn dùng trị kiết lỵ, dùng ngoài trị côn trùng, rắn, rết cắn.
Do vậy Sơn đậu được rất nhiều nước chú trọng và phát triển. Chính vì vậy, để có cơ sở cho việc phát triển nguồn dược liệu Sơn Đậu Căn trên quy mô lớn một cách hiệu quả, bền vững, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt và thời gian bảo quản hạt giống đến khả năng nẩy mầm và chất lượng cây giống Sơn Đậu căn trong giai đoạn vườn ươm tại huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Xác định được thời điểm gieo hạt thích hợp nhất đến khả năng nẩy mầm và chất lượng cây giống trong vườn ươm.
Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến thời gian nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm - Đánh giá được ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt đến động thái tăng trưởng chiều cao cây, số lá trên cây trong giai đoạn vườn ươm 1.3 Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất: - Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế. Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm thực tế. Biết cách thực hiện một khoá luận tốt nghiệp, có thêm kiến thức và kinh nghiệm sản xuất. - Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo đúc rút được những kinh nghiệm thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Qua kết quả nghiên cứu xác định được thời vụ gieo trồng thích hợp nhất nhằm nâng cao tỷ lệ nẩy mầm, rút ngắn thời gian nẩy mầm và nâng cao chất lượng cây giống. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài Việt Nam là nước nhiệt đới có nguồn tài nguyên động thực vật đa dạng. Có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Sơn đậu căn. Cây Sơn đậu căn chủ yếu được trồng ở vùng núi cao và duy trì rải rác ở 1 số vùng và các trung tâm, trạm trại của Viện dược liệu.
Sơn đậu căn là loại cây quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại thường bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu căn có tên trong sách đỏ Việt Nam. Ở Việt Nam, Sơn đậu căn có ở: Hạ lang, Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng; Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ tỉnh Hà Giang; các đảo thuộc Vịnh Hạ Long tỉnh Quảng Ninh; Nho Quan tỉnh Ninh Bình; Sơn Trà tỉnh Đà Nẵng.2 Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây sơn đậu căn 2. Nguồn gốc của cây sơn đậu căn Giống sơn đậu căn ban đầu là giống nguyên thủy thu trong tự nhiên (cây hoang dại) Tên khoa học: Sophora tonkinensis Gapnep Tên đồng danh: Sophora subprostrata( Chun et T. Thuộc họ Đậu Fabaceae.
Sơn đậu căn là cây có nguồn gốc ở nhiệt đới nóng ẩm, sơn đậu căn mọc hoang dại đã được tìm thấy ở Nam Trung Hoa và các tỉnh miền Bắc nước ta cho đến tận Đà Nẵng. Sơn đậu căn là cây ưa sáng, chịu hạn nhưng không chịu được ngập úng, thường mọc ở núi đá vôi hay các sườn đồi khô cằn ở độ cao dưới 1000m. Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới (nguyên sản là Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc) [15]. n 5 Tên Việt nam: Hòe Bắc Bộ, Hòe bắc Biệt Nam; Tên khác: Sơn đậu, quảng đậu căn, hoàng kết, khổ đậu căn.
Hiện tại ở Việt Nam ngoài tài liệu về thực vật, thì chưa có bất cứ công trình nghiên cứu khoa học chính thức nào về cây này. Phân bố của cây sơn đậu căn Sơn Đậu Căn có mọc rải rác trên các sườn núi đá vôi thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm phía nam Trung Quốc và phía bắc Việt Nam Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới (nguyên sản của Sophora tonkinensis là Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Trước năm 1950, Sophora tonkinensis được phân bố ở 21 huyện của tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc. Nhưng sau đó, các nguồn tài nguyên Sophora tonkinensis hoang dã giảm nhanh chóng do sự gia tăng của việc khai thác để sử dụng làm thuốc và xuất khẩu.
Cho nên, trong những năm của thập niên 1980, Sophora tonkinensis hoang dã chỉ còn ở 10 huyện và đến năm 2002 chỉ còn ở 4 huyện của tỉnh Quảng Tây. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho giá của Sơn đậu căn tăng nhanh. Trước thực tế đó, để đáp ứng nguồn nguyên liệu dược Sơn đậu căn trong nước và xuất khẩu, chính phủ Trung Quốc đã và đang có nhiều chính sách khuyến khích trồng Sơn đậu căn với quy mô lớn. Nhưng vấn đề này hiện nay vẫn đang gặp khó khăn do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cây giống.
Sơn đậu căn là loài quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại thường bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu Căn có tên trong sách đỏ Việt Nam [20]. n 6 Ở Trung Quốc phân bố địa lí của cây Sơn đậu căn chủ yếu ở các tỉnh Quảng tây (từ Tây nam sang Tây bắc), tỉnh Quý Châu và vùng Đông nam của tỉnh Vân nam, các khu vực có vị trí 22°21'~26°6' độ vĩ Bắc, 103°20'~108°45' độ kinh Đông. Đặc điểm sinh vật học của cây sơn đậu căn Sơn đậu căn có tên khoa học là Sophora tonkinensis Gapnep và tên đồng danh là Sophorasub subprostrata Chu etT Chen, thuộc họ đậu (Fabaceae) [16], [15]. Ngoài ra, Sơn Đậu còn có tên khoa học là Pophorasub subprorslata Chu etT Chen thuộc họ đậu Lleguminosae [15].
- Thân Sơn đậu căn: Sơn Đậu thuộc loại cây bụi, mọc thẳng đứng hoặc nằm sát mặt đất. Cao 1-2m, thân hình trụ có lông mềm. - Rễ Sơn đậu căn: Bộ rễ có từ 2 - 5 rễ nhỏ, hình trụ, màu vàng nâu, dài 30 - 40cm (có trường hợp đạt 80 - 100cm). - Lá Sơn đậu căn: Lá kép lông chim lẻ, mỗi lá kép có từ 9 - 15 lá chét mọc đối.
Lá chét dầy, thuôn hay hình bầu dục dài 3 - 4 cm, rộng 1 - 2 cm, mặt trên nhẵn và óng ánh, mặt dưới có lông. - Hoa Sơn đậu căn: Cụm hoa mọc thành chùm ở nách lá, dài 12 - 15cm, hoa cánh bướm màu vàng trắng, đài hoa hình chuông bên ngoài có lông. Tràng hoa mầu vàng. Quả màu tím đen, thành chuỗi, dài 4 cm, có lông, tự mở, có chứa hạt hình trứng, đen bóng.
Thời kì hoa là tháng 5 – 7 [15]. - Quả Sơn đậu căn: Quả Sơn đậu căn có hình trái xoan đen, bóng khi khô, dài 1,2 - 1,8cm, rộng 0,8 - 1cm; hạt to, cứng. Thời kì quả là tháng 8 - 12 [15]. Yêu cầu sinh thái của cây sơn đậu căn căn Sơn đậu căn trên vùng đồi núi đất, núi đá vôi, trồng ở độ cao 500 - 800m so với mực nước biển.
Thường sinh trưởng trong điều kiện đủ ánh sáng (cây ưa sáng) trên sườn núi hoặc đỉnh núi.