Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và phân hữu cơ bón lá đến sinh trưởng năng suất và chất lượng cây mướp đắng vụ xuân tại gia lâm hà nội

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây mướp đắng vụ xuân tại Gia Lâm, Hà Nội.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.1.1. Mục đích của đề tài

1.1.2. Yêu cầu của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về cây mướp đắng

2.2. Giá trị dinh dưỡng của cây mướp đắng

2.3. Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây mướp đắng

2.3.1. Nguồn gốc và phân bố của mướp đắng

2.3.2. Phân loại mướp đắng

3. PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH THÍ NGHIỆM

PHỤ LỤC 2: XỬ LÝ SỐ LIỆU

Tóm tắt

I. Phân hữu cơ và vai trò trong canh tác mướp đắng

Phân hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện đất và nâng cao năng suất cây trồng. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng phân hữu cơ bón gốcphân hữu cơ bón lá để đánh giá ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất, và chất lượng của cây mướp đắng trong vụ Xuân tại Gia Lâm, Hà Nội. Phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dưỡng mà còn cải thiện cấu trúc đất, tăng khả năng giữ ẩm và thúc đẩy vi sinh vật có lợi. Việc kết hợp giữa bón gốc và bón lá giúp cây hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng quả.

1.1. Phân hữu cơ bón gốc

Phân hữu cơ bón gốc bao gồm các loại như phân gà, phân trùn quế, và phân minori. Các loại phân này được bón trực tiếp vào đất, giúp cải thiện cấu trúc đất và cung cấp dinh dưỡng lâu dài. Tuy nhiên, nhược điểm của phân bón gốc là thời gian phân hủy chậm, đòi hỏi thời gian dài để cây hấp thụ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc sử dụng phân trùn quế cho kết quả tốt nhất trong các loại phân bón gốc, giúp cây mướp đắng phát triển mạnh mẽ và cho năng suất cao.

1.2. Phân hữu cơ bón lá

Phân hữu cơ bón lá như O-MIC và HB101 được phun trực tiếp lên lá, giúp cây hấp thụ dinh dưỡng nhanh chóng. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong giai đoạn cây cần dinh dưỡng gấp để phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân HB101 kết hợp với phân trùn quế cho năng suất cao nhất, đạt 57,03% so với công thức sử dụng phân vô cơ. Phân bón lá cũng giúp cải thiện chỉ số SPAD và diện tích lá, từ đó tăng khả năng quang hợp và tích lũy chất khô.

II. Sinh trưởng và năng suất của mướp đắng

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ đến các chỉ tiêu sinh trưởngnăng suất của cây mướp đắng. Kết quả cho thấy, việc sử dụng phân hữu cơ giúp cải thiện đáng kể chiều cao cây, số nhánh cấp 1, và hình thái quả. Công thức P1C2 (100% phân vô cơ + phân HB101) cho năng suất cao nhất với NSTT đạt 32,47 tấn/ha. Trong khi đó, công thức P4C2 (100% phân trùn quế + phân HB101) cũng cho kết quả khả quan, đạt 18,52 tấn/ha. Phân hữu cơ còn giúp giảm tỷ lệ quả bị đục và nhiễm bệnh phấn trắng, từ đó nâng cao chất lượng quả.

2.1. Chỉ tiêu sinh trưởng

Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, số lá, và số nhánh được theo dõi chặt chẽ. Kết quả cho thấy, phân hữu cơ giúp cây mướp đắng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là chiều cao cây và số nhánh cấp 1. Công thức P1C2 cho chiều cao cây đạt 146,15 cm, cao hơn so với các công thức khác. Số nhánh cấp 1 cũng tăng đáng kể, giúp cây tăng khả năng quang hợp và tích lũy chất dinh dưỡng.

2.2. Năng suất và chất lượng quả

Năng suấtchất lượng quả là hai chỉ tiêu quan trọng được đánh giá trong nghiên cứu. Công thức P1C2 cho năng suất cao nhất với NSTT đạt 32,47 tấn/ha. Các công thức sử dụng phân hữu cơ cũng cho kết quả khả quan, đặc biệt là P4C2 với NSTT đạt 18,52 tấn/ha. Chất lượng quả được cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ quả bị đục giảm đáng kể. Phân hữu cơ còn giúp tăng hàm lượng chất khô và cải thiện hình thái quả, từ đó nâng cao giá trị thương phẩm.

III. Ứng dụng thực tiễn và kết luận

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng phân hữu cơ trong canh tác mướp đắng mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao. Việc kết hợp phân hữu cơ bón gốcphân hữu cơ bón lá giúp cải thiện đất, nâng cao năng suất và chất lượng quả, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Kết quả nghiên cứu khẳng định, phân trùn quếphân HB101 là lựa chọn tối ưu cho canh tác mướp đắng tại Gia Lâm, Hà Nội.

3.1. Giá trị thực tiễn

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao, giúp nông dân áp dụng hiệu quả phân hữu cơ trong canh tác mướp đắng. Việc sử dụng phân hữu cơ không chỉ nâng cao năng suất mà còn cải thiện chất lượng quả, từ đó tăng giá trị thương phẩm. Ngoài ra, phương pháp này còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững.

3.2. Kết luận

Kết quả nghiên cứu khẳng định, việc sử dụng phân hữu cơ bón gốcphân hữu cơ bón lá có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng, năng suất, và chất lượng của cây mướp đắng. Công thức P1C2P4C2 cho kết quả tốt nhất, đặc biệt là phân trùn quếphân HB101. Nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để phát triển các biện pháp canh tác hiệu quả và bền vững cho cây mướp đắng tại Gia Lâm, Hà Nội.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Mướp đắng (Momordica charantia L.) hay còn gọi là khổ qua, thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), là cây rau ăn quả phổ biến ở châu Á và ở Việt Nam. Cây mướp đắng dễ trồng, dễ chăm sóc, năng suất cao và được người tiêu dùng sử dụng thường xuyên. Quả mướp đắng từ xưa đã được con người chọn làm nguồn thực phẩm không thể thiếu bởi lẽ nó chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ lại dễ chế biến, dễ trồng, dễ chăm sóc.

Mướp đắng là một loại rau ăn quả được sử dụng phổ biến với giá trị dinh dưỡng cao. Bên cạnh đó, quả cây mướp đắng còn có giá trị dược liệu và được sử dụng trong các bài thuốc y học cổ truyền, cũng như điều chế các loại thuốc trong y học hiện đại để chữa bệnh tiểu đường, bệnh gút, ung thư (Joseph et al., 2013; Arafat et al., 2016), phân tích hóa học cho thấy, mướp đắng có chứa các saponin (momordicin và momordin) và có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm và kháng virus cũng như kháng sâu. Hiện nay cuộc sống càng ngày càng phát triển, thu nhập càng ngày được nâng cao nên người tiêu dùng thông thái cũng có sự đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng cuộc sống đặc biệt là thực phẩm an toàn và có chất lượng cao. Hiện nay thực phẩm hữu cơ nói riêng và nông nghiệp hữu cơ nói chung đang là xu hướng mà con người hướng đến trong tương lai để bảo vệ môi trường và nâng cao sức khỏe cho chính mình, an toàn với con người.

Hiện nay các sản phẩm hữu cơ xuất hiện nhiều hơn và sắp, đang và sẽ thay thế dần một số sản phẩm có nguồn gốc vô cơ. Giá trị của sản phẩm hữu cơ hiện nay có thể gấp từ 2-2,5 lần sản phẩm thông thường. Tuy nhiên để sản xuất ra sản phẩm hữu cơ cần một thời gian dài và lượng công sức lớn, một trong số khó khăn đó là sử dụng phân bón hữu cơ. Hiện nay đa phần sản xuất hữu cơ người nông dân đều sử dụng phân bón gốc, nhược điểm của nó là lâu tan phân, lượng dinh dưỡng trong phân ít, cần phải một thời gian dài để giải phóng hết dinh dưỡng trong phân vào đất và 1 cây trồng.

Đối với những mảnh đất cằn cỗi, bạc màu thì việc bón phân hữu cơ qua gốc để cây hấp thụ sẽ mất một thời gian dài, hiệu quả mang lại kém, tốn nhiều chi phí. Tuy nhiên nếu ta kết hợp vừa sử dụng phân bón gốc hữu cơ và phân bón lá hữu cơ thì năng suất cây trồng sẽ được nâng cao, cải tạo lại đất đai, lượng dinh dưỡng cây trồng nhận được sẽ nhanh và nhiều hơn. Vì vậy việc tìm ra một công thức phân bón phù hợp giúp làm tăng năng suất và chất lượng của cây trồng đồng thời làm tăng giá trị nông sản cũng là một trong các biện pháp canh tác quan trọng. Xuất phát từ thực tế đó và được sực cho phép của bộ môn Canh tác học thuộc Khoa Nông Học, Học viện nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS.

Thiều Thị Phong Thu, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và phân hữu cơ bón lá đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây mướp đắng vụ Xuân tại Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích, yêu cầu của đề tài. Mục đích của đề tài. Xác định loại phân bón hữu cơ phù hợp với cây mướp đắng trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân bón qua gốc hữu cơ và phân bón qua lá hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây mướp đắng.2 Yêu cầu của đề tài.

Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân hữu cơ bón gốc và loại phân hữu cơ bón lá đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, giai đoạn sinh trưởng, sinh lý, hình thái quả, sâu bệnh, năng suất của cây mướp đắng. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây mướp đắng. Giá trị dinh dưỡng của cây mướp đắng.

Mướp đắng là một loại rau ăn quả thuộc họ bầu bí, vỏ quả có những nếp nhăn đặc thù, thịt quả vừa có vị ngọt vừa có vị đắng đặc biệt. Dinh dưỡng trong mướp đắng rất phong phú. Mướp đắng không chỉ là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn là một dược liệu quý. Trong nhiều thập niên vừa qua nhiều nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện và chứng minh trong quả mướp đắng có nhiều loại hợp chất có tác dụng sinh học, nổi bật là tác dụng hạ đường huyết (Viện dược liệu, 1993).

Mướp đắng chứa lượng vitamin C cao nhất trong các cây họ bầu bí, ngoài ra còn chứa rất nhiều hợp chất có thể tham gia vào thành phần của thuốc chữa bệnh ung thư và bệnh AIDS. Mướp đắng là một trong những cây rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, phần ăn được của mướp đắng chiếm khoảng 95%. Trong đó, lá mướp đắng cũng giàu dinh dưỡng, được ghi nhận như là một nguồn canxi (1%), magie (4%), kali (7%), photpho (5%) và sắt (3%). Quả và lá là nguồn tuyệt vời của vitamin B; Thiamine (vit.

Thành phần dinh dưỡng của mướp đắng đã được nhiều tác giả nghiên cứu và tổng hợp tại bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng có trong 100g mướp đắng. TT Thành phần Khối lượng 1 Nước 83mg - 92mg 2 Protein 1,5g – 2g 3 Lipit 0,2g – 1g 4 Carbonhydrat 4g – 10,5g 5 Chất xơ 0,8g – 1,7g 6 Năng lượng 16kcal 7 Caxi 20mg – 23mg 8 Fe 1,8mg – 2mg 9 P 38mg – 70mg 10 Vitamin C 88mg – 96mg 11 Complex 105KJ – 205KJ (Nguồn: Viện dược liệu, 1993). 3 Hạt mướp đắng chứa 32% dầu với các acid béo stearic, linoleic, oleic. Hạt cũng chứa nucleosid pyrimidin vicine.

Thành phần protein trong hạt dao động trong khoảng từ 16,9% đến 19,7% và protein trong cùi dao động từ 6,6% đến 9,5%. Thành phần protein trong dung dịch nước chiết xuất từ cùi dao động từ 5,7% đến 10,3% và thành phần protein trong dung dịch nước chiết xuất từ hạt dao động từ 19% đến 22%. Trong khi cùi có một thành phần độ ẩm tương đối, xấp xỉ 94%, hạt có thành phần độ ẩm khác nhau phụ thuộc vào độ chín. Ngoài ra, theo Raman A.

(1996) thì hàm lượng Vitamin C trong mướp đắng có thể giúp ngăn ngừa lão hoá da và giảm bớt mỡ trong máu. Nhưng Vitamin C không chịu được nhiệt độ cao, vì thế nếu đun nóng mướp đắng thì giá trị dinh dưỡng sẽ mất đi. Cách tốt nhất để ăn mướp đắng có hiệu quả là ép nước uống. Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây mướp đắng.1 Nguồn gốc và phân bố của mướp đắng.

Các nhà phân loại thực vật học cho rằng mướp đắng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á. Ngoài ra còn có thể từ vùng châu Phi và châu Mỹ. Mướp đắng là loại rau rất phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước Châu Á khác như Ấn Độ, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Úc, Châu Phi, Tây Á, Mỹ La Tinh, và vùng Caribê (Vũ Văn Chuyên, 1971; AVRDC, 1998). Loại cây này được coi là đã được thuần hóa ở châu Á như ở Bắc Ấn Độ hoặc Nam Trung Quốc bởi vì ở những vùng giáp ranh người ta đã tìm thấy quần thể hoang dại hay quần thể tự nhiên của mướp đắng.

Sau này mướp đắng được giới thiệu sang Tân thế giới (Nam Mỹ) thông qua việc buôn bán nô lệ và do sự phân tán hạt mướp đắng của các loài chim, 6 sau đó phát triển rộng rãi trên khắp các lục địa (Vũ Văn Liết, Nguyễn Văn Hoan, 2007). Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ Braxil đến Đông Nam nước Mỹ mướp đắng cũng rất phát triển. Ngày nay, mướp đắng đã được phân bố khắp mọi miền của vùng nhiệt đới, cả dạng hoang dại và dạng trồng trọt, mướp đắng là cây rau phổ biến ở Ấn Độ, Philippin, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, châu Phi, Trung Đông, châu Mỹ La tinh và vùng Caribê (Trần Khắc 4 Thi, Ngô Thị Hạnh, 2008). Theo nghiên cứu của Jeffrey, (1967) chỉ tính riêng ở châu Phi đã có tới 23 loài.

Các loài trồng trọt như Momordica charantia, hoặc Karela của Ấn Độ, Momordica cochinchineses, mướp ngọt (Sweet gourd), hoặc Gol kakola của Assa và NE States, Momordica dioica của vùng bộ lạc Bengal, Bihar và Orissa và kartoli của tỉnh Maharashtra, ngoài ra Momordica balsamina (Balsam apple) và Momordica cymbalaria (Syn. Ở Việt Nam, mướp đắng được trồng khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam, chỉ ở một số vùng núi cao và lạnh như Sa Pa (Lào Cai), Phó Bảng (Hà Giang), …thì mới không thấy có mướp đắng. Trên thế giới, cây mướp đắng có mặt ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tô, Triết Giang); một số nước đông nam châu Á như Ấn Độ, Malaysia, Philippin; châu Phi và vùng Caribbean. Cây mướp đắng có biên độ sinh thái tương đối rộng, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng từ 20 độ C – 35 độ C, lượng mưa hằng năm từ 1500 – 2500 mm.

Cây chịu được nhiều điều kiện đất khác nhau nhưng phát triển tốt nhất trong điều kiện thoáng nước và đất giàu chất hữu cơ. Mướp đắng có thể trồng quanh năm. Cây sinh trưởng nhanh trong mùa mưa ẩm, ra hoa sau 7 – 8 tuần gieo trồng. Sau khi quả già, cây sẽ tàn lụi và kết thúc vòng đời sau 4 – 5 tháng tồn tại.

Phân loại mướp đắng. Jansen, (1993) mướp đắng (Momordica charantia L.) thuộc: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Cucurbitales Họ: Cucurbitaceae Chi: Momordica 5 Chi mướp đắng Momordica thuộc họ Cucurbitaceae có khoảng 45 loài đã biết, chủ yếu tập trung ở châu Phi, một số loài ở châu Mỹ, châu Á chỉ có 5- 7 loài. Theo Phạm Hoàng Hộ (1991) và Nguyễn Hữu Hiến (1994), chi Momordica L. ở Việt Nam có 3 loài là: Momordica Charantia L, Momordica Cochinchinensis (Louor) Speng L, Momordica subangulata Blume L.

Trong các tài liệu nghiên cứu trên và các tiêu bản thu thập ở các địa phương trong nước của Viện Dược liệu, các tác giả thống nhất cây mướp đắng trồng ở Việt Nam đều thuộc loài Momordica charantia L, họ Cucurbitaceae (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Loài mướp đắng (Momordica charantia L.) nhiễm sắc thể 2n = 22, được biết đến như là một cây trồng đã được thuần hóa từ lâu. Jansen, 1993 thì loại cây này tồn tại hai quần thể hoang dại và trồng trọt. Dạng trồng trọt đã trở nên khá phong phú và là cây hàng năm.

Căn cứ vào kích thước màu sắc bên ngoài của quả để chia các dạng trồng trọt thành 2 nhóm chính: -Nhóm thứ nhất: (Var.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng mướp đắng vụ xuân tại Gia Lâm, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của phân hữu cơ đối với sự phát triển của mướp đắng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng phân hữu cơ không chỉ cải thiện sinh trưởng mà còn nâng cao năng suất và chất lượng của cây trồng. Điều này mang lại lợi ích lớn cho nông dân trong việc tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp canh tác hữu cơ và ảnh hưởng của phân bón đến cây trồng, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của liều lượng phân trùn quế phân gà đến sinh trưởng và phát triển của bưởi diễn giai đoạn chuyển đổi sang canh tác hữu cơ tại lệ chi gia lâm hà nội, nơi nghiên cứu về tác động của phân bón hữu cơ đến sự phát triển của bưởi. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ khác nhau đến sinh trưởng của giống bưởi đào thanh hồng tại thái nguyên, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các loại phân hữu cơ. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ phát triển sản xuất rau hữu cơ tại địa bàn thành phố bắc kạn tỉnh bắc kạn sẽ cung cấp thêm thông tin về phát triển sản xuất rau hữu cơ, một lĩnh vực liên quan mật thiết đến nghiên cứu của bạn.