Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tống quan về cây cải mù tat 1.1 Phân loại Tên tiếng Anh: Giant red Mustard Tên khoa học: Brassica juncea var.2 Dac điểm thực vật hoc Cây thân thảo sống 1 năm hoặc 2 năm, cao 25 — 70 cm, có thé cao tới 1,5 m (Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, 2011). Rễ: Không phình thành cu, rễ chùm, ăn nông, kém phát triển, đôi khi có thể ăn sâu đến 50 cm nhưng không rộng qua 30 em, chịu hạn kém (Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, 2011). Lá: Lá thon dài với rìa lượn sóng. Lá thường có màu xanh nhưng cũng có thể có màu xanh lá cây nhạt hoặc tím, tùy thuộc vào từng giống (Trung tâm đữ liệu thực vật Việt Nam, 2011).
Hoa: Mau vàng tươi hop thành chùm ở ngọn; hoa dai 1 — 1,4 cm, có 6 nhị. Ra hoa vào mùa xuân (Trung tâm dt liệu thực vật Việt Nam, 2011). Quả: Quả cai dài 4— 11 cm, có mỏ (Trung tâm dir liệu thực vật Việt Nam, 2011). Hat: Hạt tròn, đường kính 1 — 1,5 mm, màu nâu tim, hạt nhỏ, trọng lượng 1000 hạt bằng 2,3 — 2,5 g (Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, 2011).3 Nhu cầu sinh thái Nhiệt độ: Hạt cải nảy mầm ở nhiệt độ 15 — 20°C, nhiệt độ > 30°C hoặc < 10°C thì hạt không nảy mầm hoặc tỉ lệ nảy mầm thấp.
Cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 15 — 20°C (Mai Thị Phương Anh, 1997). Dat: Cai có thé trồng trên mọi loại đất nếu đảm bảo được 4m độ nhưng thích hợp với đất nhẹ, phù sa và nhiều dinh dưỡng, giữ ẩm tốt. pH thích hop từ 6,0 — 6,7 (Mai Thị Phương Anh, 1997). Am độ: Yêu cau độ âm đất khoảng 60%, độ 4m không khí khoảng 70 — 80% (Mai Thị Phương Anh, 1997).
Ánh sáng: Là cây ưa thích ánh sáng ngày dài, cây quang hợp ở cường độ ánh sáng 20. Nếu cường độ ánh sáng mạnh sẽ làm ảnh hưởng đến phẩm chất và sinh trưởng của cây. Ngược lại nếu thời gian chiếu sáng ngắn, cường độ chiếu sáng quá yếu cũng làm giảm hàm lượng dinh dưỡng trong sản phẩm (Mai Thị Phương Anh, 1997). Nước: Cải là loại cây yêu cầu 4m độ đất và âm độ không khí khá cao.
Do có bộ rễ phân bó cạn, bộ lá lớn nên cải cần được cung cấp nước thường xuyên. Thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến phẩm chat cải, các bó gỗ sẽ phát triển mạnh làm lá cứng và dang, năng suất cải sẽ thấp vì chất lượng vật chất tạo ra thấp, lá héo do quá trình bốc thoát hơi nước của cây, đầy đủ nước thì lượng vật chất tạo ra sẽ cao. Tuy nhiên, nhiều nước quá cũng làm cho lượng đường trong sản phẩm giảm, khả năng chống chịu sâu bệnh kém và cây dé bi ung nước (Mai Thị Phuong Anh, 1997).4 Sâu, bệnh hại trên cây cải mù tạt tím 1.1 Sâu hại trên cây cải mù tạt Các đối tượng sâu hại chính trên cải mù tạt tím thường thấy trên đồng ruộng bao gồm: Bọ nhảy sọc cong (Phyllotreta striolata): Trưởng thành ăn lá non tạo thành những lỗ tròn nhỏ khắp mặt lá, hại nặng trong mùa khô, là loại sâu hại tương đối khó phòng trị do ấu trùng thường nằm trong dat, con trưởng thành có khả năng di chuyền. Do vậy dé 4 phun thuôc có hiệu quả nên phun vao buôi chiêu tôi có hiệu quả cao hon.
Dùng các loại thuốc như Dibonin, Polytrin, Sokupi, Vibame (Lê Minh Dũng, 2008). Sâu tơ (Plutella xylostella): Phá hoại chủ yêu ở giai đoạn sâu non. Sâu tuéi 1, tuổi 2 gặm nhu mô lá hay phần mềm của lá non, lá bánh tẻ chừa lại lớp biéu bì trên mặt lá tạo thành những đốm trong mờ. Sang tuổi 3, sâu gam lá tạo thành những lỗ thủng.
Tập trung chủ yếu mặt dưới lá non, lá ngọn. Sâu tơ thường hại nặng vào cuối mùa khô (Lê Minh Dũng, 2008). Sâu khoang (Spodoptera litura): Âu trùng phá hoại cây trồng là chủ yếu. Tuy nhiên, triệu chứng phá hoại còn phụ thuộc vào độ lớn của sâu.
Sâu non tuổi càng lớn ăn phá càng mạnh, lúc đầu ăn thủng lỗ sau có thé ăn hết từng mảnh lớn có khi chỉ chừa lại gân chính. Khi mật số cao chúng ăn hết cả lá, chỉ còn lại cuống. Sâu khoang phát triển mạnh vào đầu mùa mưa. Có nhiều loại thuốc phòng trừ sâu tơ, sâu khoang có hiệu quả, Tuy nhiên, cần phải phát hiện sớm khi sâu còn nhỏ.
Lưu ý dùng luân phiên các loại thuốc, thời gian gần thu hoạch cần dùng các chế phẩm vi sinh, ít độc, đảm bao thời gian cách ly. Dùng thuốc trị như Atabron 5EC, Polytrin P 440EC, Sherpa 25EC (Lê Minh Dũng, 2008). Sâu đục noãn (Hellula undalis F): Sâu non nha to tạo thành một lớp màng phủ lên ngọn cải, trong đó ăn đỉnh sinh trưởng và đục vào trong ngọn cây cải, thường hại khi cây còn nhỏ và mùa nóng am. Khi phát hiện cần phải phòng trừ sớm, thời điểm 7 — 10 ngày sau khi trồng.
Các loại thuốc thường dùng như: Actamec, Alphago, Success (Lê Minh Dũng, 2008).2 Bệnh hại trên cây cải mù tạt Bệnh đốm lá (Alternaria brassicae): Thời tiết nóng âm rat thích hợp các loại bệnh do nam phát triển mạnh, do vậy cần áp dụng các biện pháp ngăn ngừa ngay từ đầu, lưu ý thoát nước, không bón phân đạm quá nhiều. Sử dụng chế phẩm Trichoderma có hiệu quả ngăn ngừa bệnh. Khi phát hiện cây bị bệnh như cây bị vàng, lá có những đốm vệt 5 mau nâu vàng cần sử dụng thuốc để phòng trừ, dùng các loại thuốc như Validan, Carban (Lê Minh Dũng, 2008). Bệnh thối nhữn (Erwinia carotovora): Dễ nhận biết bệnh này lá có những vệt đen, héo rũ, có mùi khó chịu, phát triển mạnh trong mùa mưa.
Dùng các loại thuốc như: Kasumin, Kasuran, Ditacin, Starner (Lê Minh Dũng, 2008). Bệnh cháy lá (Xanthomonas campestris): vết bệnh hình chữ "V" trên ria lá và có quang vàng, nâu nhạt không đều, thịt lá xung quanh bị vàng, cây thường bị tan công trong suốt giai đoạn sinh trưởng, thoạt nhìn trông giống hiện tượng thiếu dinh dưỡng, nếu cây con bị bệnh sẽ bị vàng lá, các lá ở gốc bị rụng và có thé bị chết. Sử dung thuốc có nồng độ Streptomycin 72,0%, bronopol, thuốc gốc đồng, thuốc diệt nam. Bệnh sưng rễ (Plasmodiophora brassicae.
W): Đây là loài nam ký sinh bắt buộc. Trong tế bào ký chủ còn sống, chúng mới phát triển và sinh sản, hoàn tất vòng đời. Bệnh gây hại trên bộ rễ của cây làm rễ biến dang sưng phông, có kích cỡ khác nhau tùy thuộc thời kỳ và mức độ nhiễm bệnh. Cây bệnh sinh trưởng chậm, căn cỗi, lá có biểu hiện héo vào trưa nắng, sau đó phục hồi vào lúc trời mát, khi bị nặng toàn thân cây héo rũ cả khi trời mát, lá chuyên mau nhợt nhạt, héo vàng và chết hoàn toản.2 Tình hình sản xuất rau họ thập tự trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tinh hình sản xuất rau họ thập tự trên thế giới Sản lượng rau cải tập trung chủ yếu ở 5 quốc gia: Trung Quốc, An Độ, Nga, Hàn Quốc và Ukraine chiếm 70,5% tổng sản lượng toàn cầu.
Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nhất (chiếm 47,8% so với sản lượng toàn thế giới), Ấn Độ xếp thứ 2 với 13,0%, kế tiếp là Nga, Hàn Quốc và Ukraine. Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản là những quốc gia có năng suất rau cải cao nhất. Đây là các nước tiên tiến, áp dụng máy móc, cơ giới hóa và công nghệ cao và sản xuất nên năng suất cao hơn nhiều so với các nước như Trung Quốc, An Độ mặc du có diện tích lớn nhưng năng suất lại thấp. Mỹ có điện tích 411.660 ha nhưng năng suất đạt đến 984.568 kg/ha trong khi Trung Quốc diện tích lên đến 992.358 ha nhưng năng suất chi đạt 337.1 Danh sách 10 quốc gia trồng rau họ thập tự nhiều nhat trên thế giới năm 2019 Diéntich Năngsuất Sảnlượng Sản lượng so với thế giới Hung (ha) (kg/ha) (tấn) (%) Trung Quốc 992358 337717 33.100 L3 Toàn thé gidi 2.2 Tinh hình sản xuất rau họ thập tự ở Việt Nam Bang 1.2 Tình hình sản xuất rau họ thập tự tại Việt Nam 2016 — 2019 Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tan) 2016 34.316 (FAO, 2021) Kết quả bảng 1.2 cho thấy: Giai đoạn từ năm 2016 — 2019 tình hình sản xuất rau họ thập ở nước ta có sự biến động.
Từ năm 2016 — 2017, điện tích sản xuất tăng (tăng 2.781 ha) nhưng từ năm 2017 — 2018 thì điện tích sản xuất lại giảm (giảm 544 ha), từ năm 2018 — 2019 diện tích lại tăng (tăng 1. Năm 2019 năng suất rau cải ở nước ta đạt 273.631 kg/ha trong khi năm 2018 chỉ đạt 238.721 kg/ha (cao hơn 34.910 kg/ha) và sản lượng đạt 1.316 tấn so với 2018 chỉ đạt 872. Sản xuất rau cai ở nước ta hiện nay gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Giá cả bap bênh là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính bền vững trong sản xuất.
Do dịch bệnh, chuỗi cung ứng bị hạn chế trong khi nơi sản xuât thì không bán được và người mua lại mua với gia cao.3 Giới thiệu tong quan về phân bón lá và phân Sagiko Bo (là loại phân có nguồn gốc từ dịch cá bỗ sung vi lượng Bo) 1.1 Giới thiệu tông quan về phân bón lá 1.1 Sơ lược về phân bón lá Phân bón lá được cây trồng hap thu rất nhanh, tỉ lệ cây sử dụng chất dinh đưỡng đạt tỉ lệ cao (đến 90% chất bón qua lá). Khoảng 80% lượng Phốt pho có trong các loại phân bón thông thường có thể bị đất giữ lại, nhưng lên tới 80% lượng Phốt pho thêm vào phân bón lá được hấp thu trực tiếp trên cây (Kizza, 2018). Phân bón lá được sử dụng rộng rãi để bù đắp những thiếu hụt dinh dưỡng trong cây do việc cung cấp các chất dinh dưỡng vào gốc không đáp ứng đầy đủ. Ngoài ra sử dụng phân bón lá ít hao tổn hơn so với bón vào dat và do dùng với lượng ít nên hiệu qua kinh tế cao hơn.
Bon phân qua lá là một tiến bộ kỹ thuật được áp dụng nhiều trong những năm gần đây. Trong thành phần phân bón lá có các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng, do vậy phân bón qua lá giúp tăng chất lượng va giá trị thương phẩm của sản phẩm (Nguyễn Trâm Anh, 2010). Theo Bosland và ctv (2000), việc đánh giá hiệu quả của Kẽm, Đồng và Bo trên cây hành tây cho kết quả sau: kích thước và năng suất cũng như chất lượng của củ hành 8 đã tăng lên khi áp dụng trong việc kết hợp các loại vi lượng hơn là sử dụng riêng lẻ. Công thức áp dụng là 3 ppm Zn, 1 ppm Cu và 0,5 ppm Bo đã đạt năng suất cao nhất.