Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan sơ lược về cây cà tím 1.1 Nguồn gốc phân loại cà tím Cà tím (Solanum melongena var. sepentinum Bailey) là một loài cây được sử dụng làm một loại rau trong âm thực. Cà tím có nguồn gốc từ An Độ và Trung Quốc, cà tím hoang dai là loại quả có gai, có vi dang, mau cam, nho bang hat đậu được trồng khắp Ấn Độ và Trung Quốc. Ngày nay cà tím được trồng nhiều ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và các vùng ấm của khu vực ôn đới (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005).
Loài cà tím có nhiều giống khác nhau, từ quả tròn, hình trứng, hình dái đê và máu sắc từ trắng, xanh, vàng và tím (hay nâu). Quả cà tím là loại quả mọng nhiều cùi thịt, đường kính nhỏ hơn 3 cm ở cây mọc hoang dai, nhưng lớn hơn rất nhiều ở các giống trồng. Quả chứa nhiều hạt nhỏ và mềm.2 Đặc điểm thực vật học Ré: rễ cà tím thuộc rễ cọc, phát triển mạnh, bộ rễ trường thành thường ăn sau 1 m, rộng 1,2 m. Rễ chính phân bố tập trung ở tầng đất 0 - 30 cm, khỏe, hút nước mạnh, chịu hạn tốt.
Tuy nhiên, do phương thức cay chuyền (ươm trong khay sau đó đem trồng làm hệ thống rễ đứt một phần) nên rễ cọ biến thành hệ thông rễ chùm, gần giống với rễ cả chua và ớt (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Thân: thân cà tím có tính phân cành mạnh và tán lá rộng, cây cao từ 0,75 - 2,5 m. Thân cứng khỏe, mọc thang, vững chắc. Thân phân cành, các chỗi bên phát triển mạnh (đặc biệt chồi dưới chùm hoa thứ nhất và thứ hai) và cho năng suất tương đương thân chính.
Vì thế trong canh tác loại cây trồng này cần chú ý khoảng cách trồng cho phù hợp dé cây có thé phát triển tốt nhất (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007). Lá: lá cà tím to, chia nhiều thùy và mặt dưới có nhiều gai. Lá mọc so le nhau, mỗi nách lá thường có một chỗi (Mai Thi Phương Anh và ctv, 1996). Hai mắt lá phủ đầy lông mịn, mặt trên màu lục sậm hơn mặt dưới, đầu thuôn dài, đáy không đối xứng, bìa có thùy cạn hình lông chim nôi rõ ở mặt dưới cuông lá.
Hoa: hoa to, có màu tìm, thuộc loại hoa lưỡng tinh. Bao phan nở cùng lúc với sự tiếp nhận phan của vòi nhụy dé đảm bảo khả năng tự thụ. Hoa nở vào lúc 7 - 11 giờ sáng và sự thụ phan xảy ra từ lúc 9 - 10 giờ sáng. Việc nở hoa và tung phan phụ thuộc vào độ chiếu sáng ngày dai, nhiệt độ và độ 4m (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).
Quả: quả cà tím thuộc loại quả mọng, kích thước thay đổi từ hình trứng đến hình trụ dài, phan đầu phình to hơn. Mau sắc quả thay đồi tùy theo giống và điều kiện thời tiết (Tím, đen, trắng, có sọc). Thịt quả mềm và giàu giá trị đinh dưỡng.3 Yêu cầu ngoại cảnh Nhiệt độ: nhiệt độ tối ưu cho cà tím sinh trưởng, phát triển tốt nhất từ 21 - 29°C. Nhiệt độ ban ngày 25 - 35°C, ban đêm là 20 - 27°C.
Cây không thể chịu được trong sương giá. Nhiệt độ dưới 20°C thì quá trình thụ tinh và lớn lên bị trở ngại, dưới 15°C thì xảy ra hiện tượng rụng nụ, hoa. Ánh sáng: cà tím là cây ưa ánh sáng mạnh nhưng lại ít phản ứng với thời gian chiếu sáng nên có thê tạo quả ở nơi có nhiệt độ thích hợp quanh năm (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005). Thiếu ánh sáng kết hợp nhiệt độ không khí thấp thì cây con sinh trưởng kém, bị vóng.
Độ am: cà tím có khả năng chịu han và lượng mưa cao nhưng lại không chịu được dat sũng nước trong một thời gian dài vì thời gian dài khiến cây bị bệnh nam thối rễ. Độ am đất 60 - 80%, độ âm không khí 65 - 75% là thích hợp cho cây sinh trưởng va phát triển (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Tuy có bộ rễ khỏe, ăn sâu nhưng có bộ lá lớn, hệ số tiêu hao nước cao, cây cần đủ độ ẩm dat (80%) dé đảm bảo tỉ lệ đậu quả cao (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005). Đất đai: cà tím phát triển tốt trên các loại đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất phù sa.
Nếu là đất sét nặng hay đất thịt thoát nước khó, dé ứ đọng sẽ làm cho rễ bị thôi va cây dé bị các tác nhân gây bệnh phá hoại. Cà tím có thé sinh trưởng và phát triển trên đất hơi chua hoặc hơi kiềm tuy nhiên pH thích hợp là từ 6,5 - 7. 4 Đất là yếu tố quan trọng trong suốt quá trình gieo hạt, sinh trưởng và phát triển đến thu hoạch của cây cà tím.2 Tổng quan về phân bón lá 1.1 Khái niệm phân bón lá Phân bón lá là những hợp chất dinh dưỡng dùng hòa tan trong nước, có thé là các nguyên tố đa lượng, trung lượng hoặc vi lượng được hòa tan trong nước và phun lên cây dé cây hap thụ. Phân bón lá phát huy hiệu lực nhanh.
Ti lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng đạt ở mức cao lên tới 90% trong khi bón qua đất cây chỉ sử dụng 45 - 50% (Đường Hồng Dật, 2003). Phân bón lá là loại phân thuộc các nhóm phân hóa học, phân bón hữu cơ, phân bón sinh học mà các loại phân bón này được sử dụng để cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân, lá (Bộ NN và PTNT, 2019).2 Đặc điểm phân bón lá Phân bón lá là loại phân bón được sử dụng dưới dạng dung dịch để tưới hoặc phun trực tiếp lên cây nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân, lá. Trong thành phần của phân bón lá tùy đặc điểm của phân bón được sản xuất, bên cạnh các chất dinh dưỡng khoáng đa lượng (N, P, K) còn thường chứa các chất trung, vi lượng (Ca, Mg, Si, Zn, Cu, Bo, Mo) và các chất cần thiết khác nhằm dam bảo cung cấp đủ và kịp thời chất dinh dưỡng khoáng theo yêu cầu cân đối của cây trồng, tạo khả năng sử dụng hiệu quả phân bón, tăng sức đề kháng và chống chịu cho cây dé dat năng suất cao pham chất tốt. Trong một số loại phân bón lá còn có thêm các chất kích thích sinh trưởng hay các vi sinh vật hữu ich tao khả năng kích thích sinh trưởng, tang khả nang dam chéi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả hay kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm.
Vì thế nên sử dụng phân bón lá là cần thiết và có hiệu quả cao khi: việc hấp thụ dinh dưỡng qua rễ củ cây trồng bị hạn ché, cây trồng ở giai đoạn có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt cao hoặc trong điều kiện bất lợi của thời tiết (rét, hạn, ngập úng, thiếu ánh sáng) hoặc sinh trưởng bắt lợi của cây trồng (rễ, lá bị tác động).3 Phân loại phân bón lá Phân bón lá có thê chia thành các nhóm theo dạng, thành phần dinh dưỡng và theo cơ chế liên kết các nguyên tố dinh dưỡng (Bùi Văn Hiền và ctv, 2013). Theo dạng thì phân bón lá được chia thành: dạng rắn và dạng lỏng. Theo thành phần có thé chia phân bón lá thành 3 nhóm: chỉ có các yêu tố đinh dưỡng vô cơ riêng lẽ hoặc phối hợp (đa lượng, trung lượng và vi lượng), có bé sung chat điều hòa sinh trưởng (kích thích, ức chế), có thuốc bảo vệ thực vật. Theo cơ chế liên kết các nguyên tô dinh dưỡng thì phân bón lá được chia thành 2 nhóm: dạng vô cơ và dạng hữu cơ (trong đó có chelate) và hữu cơ - khoáng.4 Cơ sở sử dụng phân bón lá Phân bón lá được sử dụng như một cách bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng một cách nhanh chóng.
Việc bón phân qua lá có thể xem là cách nhanh nhất mà cây có thể hấp thụ. Hiện nay việc sử dụng phân bón lá được xem như một công cụ quản lý hiệu quả và bền vững đối với cây trồng. Một trong những nguyên nhân cơ bản là cây trồng tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15 - 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ. Phân bón lá là loại phân lý tưởng trong ngành nông nghiệp vì hiệu quả cao nhưng đòi hỏi người sử dụng phải có hiểu biết cơ bản để đạt lợi tức kinh tế cao.
Hầu hết các loại phân bón lá cho hiệu quả nhanh hơn, kinh tế hơn. Nếu như việc cung cấp dinh dưỡng qua lá, cây có thể hấp thụ đến 95% thì việc cung cấp dinh dưỡng qua đất con số này chỉ đạt 45 - 50% thậm chí thấp hơn (Đường Hồng Dật, 2003).5 Vai trò của phan bón lá Phân bón lá có vai trò ngày càng quan trọng trong canh tác hiện nay, việc canh tác liên tục sẽ khiến cho môi trường đất thiếu hụt các nguyên tố đa lượng, trung lượng đặc biệt là các nguyên tô vi lượng, hơn nữa các nguyên tổ vi lượng sẽ dé bị kết tủa trong môi trường và chịu sự rửa trôi nên việc đưa các nguyên tô này thông qua lá sẽ mang lại sự hiệu quả hơn việc cung cấp chúng qua đất. Vi vậy mục tiêu chính khi sử dụng phân bon lá: - Bồ sung thêm các chất dinh dưỡng còn thiếu mà đất và phân bón đa lượng không thé cung cấp đủ. - Giúp cây trồng khắc phục các hạn chế khi việc cung cấp dinh dưỡng qua đất bị ảnh hưởng của nhiệt độ, cường độ chiếu sáng, phản ứng của đất, hoặc xuất hiện các yếu tố dinh dưỡng đối kháng.
- Cung cấp các chất dinh dưỡng theo hướng tăng cường chức năng, nhất là trong các giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây trồng (hình thành quả, củ, chỉ tiêu chất lượng). - Hạn chế mất chất dinh dưỡng trong đất do bị có định hoặc bị rửa trôi. Một số nguyên tổ dinh dưỡng, thậm chí được khuyến cáo chỉ nên bón qua lá như bón sắt vào dat kiềm, bón các nguyên tô vi lượng (Bùi Huy Hiền và ctv, 2013).6 Cơ sở tác động của phân bón lá Vì phân bón lá là loại phân bón được sử dụng dưới dạng dung dịch dé tưới hoặc phun trực tiếp lên cây nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân, lá. Nên chất dinh dưỡng mà cây hap thụ nhanh hơn,tốt hơn so với bón phân qua rễ.
Có 2 con đường chính cây hấp thụ phân bón lá là: Qua khí không: bên cạnh quá trình hút chất dinh dưỡng, nước từ rễ, cây một phần dinh dưỡng bằng bộ lá và các bộ phận khác trên mặt đất, kế cả vỏ cây cũng có thể hấp thu trực tiếp các dưỡng chat. Ở trên lá có rất nhiều lỗ nhỏ (khí khổng).