Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của các nồng độ nước dừa ba naa đến khả năng nhân chồi và sinh trưởng của lan hồ điệp thơm phalaenopsis violacea trong điều kiện in vitro

Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ nước dừa ba naa đến khả năng nhân chồi và sinh trưởng của lan hồ điệp phalaenopsis violacea in vitro.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2019 — 2023

135
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về cây lan hồ điệp (Phalaenopsis sp.)

1.2. Nguồn gốc và phân bố

1.3. Đặc điểm thực vật học

1.4. Điều kiện sinh trưởng

1.5. Giống lan hồ điệp thơm (Phalaenopsis violacea)

1.6. Vị trí của lan hồ điệp trên thị trường

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm thí nghiệm

2.2. Vật liệu thí nghiệm

2.3. Điều kiện nuôi cây in vitro

2.4. Môi trường nuôi cấy trong thí nghiệm

2.5. Trang thiết bị thí nghiệm

2.6. Phương pháp thí nghiệm

2.7. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát ảnh hưởng của môi trường nền và liều lượng nước dừa đến quá trình nhân chồi của lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro

3.1.1. Ảnh hưởng của môi trường nền và liều lượng nước dừa đến hình thành và phát triển chồi của lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro

3.1.2. Ảnh hưởng của môi trường nền và liều lượng nước dừa đến sự hình thành và phát triển lá của lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro

3.2. Ảnh hưởng của nồng độ BA và NAA đến khả năng nhân chồi của cây lan hồ điệp thơm

3.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ BA và NAA đến hình thành và phát triển chồi của cây lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro

3.2.2. Ảnh hưởng của các nồng độ BA và NAA đến sự hình thành và phát triển lá của lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro

3.3. Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến sự hình thành và phát triển rễ của lan hồ điệp thơm

3.3.1. Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến sự hình thành và phát triển rễ của lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro

3.3.2. Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến sự phát triển thân và lá của lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC HÌNH

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Nồng Độ Nước Dừa BA NAA

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nồng độ nước dừa, BA (Benzyladenine) và NAA (Naphthaleneacetic acid) đến khả năng sinh trưởng của lan hồ điệp thơm (Phalaenopsis violacea) là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực nông học. Lan hồ điệp không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn mang lại giá trị tinh thần cho con người. Việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của loài lan này sẽ giúp tối ưu hóa quy trình nhân giống và sản xuất.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Lan Hồ Điệp Trong Nông Nghiệp

Lan hồ điệp là một trong những loại hoa được ưa chuộng nhất trên thế giới. Với hương thơm đặc biệt và màu sắc phong phú, lan hồ điệp không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần làm đẹp cho môi trường sống.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Nồng Độ Nước Dừa BA NAA

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định nồng độ nước dừa, BA và NAA phù hợp nhất cho sự nhân chồi và sinh trưởng của lan hồ điệp thơm trong điều kiện in vitro, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất.

II. Vấn Đề Trong Quy Trình Nhân Giống Lan Hồ Điệp Thơm

Quy trình nhân giống lan hồ điệp thơm gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định môi trường dinh dưỡng phù hợp. Việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng như BA và NAA là cần thiết để tăng cường khả năng nhân chồi và phát triển rễ. Tuy nhiên, nồng độ và liều lượng của các chất này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.

2.1. Thách Thức Trong Việc Xác Định Môi Trường Dinh Dưỡng

Mỗi loại lan có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Việc xác định môi trường dinh dưỡng tối ưu cho lan hồ điệp thơm là một thách thức lớn, đòi hỏi nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng.

2.2. Ảnh Hưởng Của Nồng Độ BA Và NAA Đến Sinh Trưởng

Nồng độ BA và NAA có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhân chồi và phát triển của lan hồ điệp. Việc nghiên cứu các nồng độ khác nhau sẽ giúp tìm ra công thức tối ưu cho sự phát triển của cây.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Nước Dừa BA NAA

Nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện in vitro với các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên. Các mẫu cây lan hồ điệp được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung nước dừa, BA và NAA với các nồng độ khác nhau để đánh giá sự phát triển của chúng.

3.1. Thiết Kế Thí Nghiệm Và Phương Pháp Thực Hiện

Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Mỗi nghiệm thức sẽ được theo dõi và ghi nhận các chỉ tiêu sinh trưởng như số chồi, chiều cao chồi và chiều dài rễ.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Và Kết Quả

Dữ liệu thu thập từ các thí nghiệm sẽ được phân tích thống kê để xác định sự khác biệt giữa các nghiệm thức, từ đó đưa ra kết luận về ảnh hưởng của các yếu tố nghiên cứu.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ảnh Hưởng Của Nước Dừa BA NAA

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ nước dừa, BA và NAA có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng nhân chồi và sinh trưởng của lan hồ điệp thơm. Môi trường có bổ sung 120 ml/L nước dừa cho tỷ lệ mẫu tạo chồi cao nhất, đạt 71,4%.

4.1. Ảnh Hưởng Của Nước Dừa Đến Khả Năng Nhân Chồi

Nghiên cứu cho thấy nước dừa có tác dụng tích cực đến khả năng nhân chồi của lan hồ điệp. Môi trường có bổ sung nước dừa đạt tỷ lệ tạo chồi cao và hệ số nhân chồi tốt.

4.2. Ảnh Hưởng Của BA Và NAA Đến Sinh Trưởng

Nồng độ BA và NAA cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển chồi. Kết quả cho thấy nồng độ 0,5 mg/L BA kết hợp với 0,5 mg/L NAA cho tỷ lệ mẫu tạo chồi cao nhất.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Nước Dừa BA NAA

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ nước dừa, BA và NAA có ảnh hưởng lớn đến khả năng nhân chồi và sinh trưởng của lan hồ điệp thơm. Việc xác định nồng độ tối ưu sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất lan hồ điệp trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Lan Hồ Điệp

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho việc tối ưu hóa quy trình nhân giống lan hồ điệp, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

5.2. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong thực tiễn sản xuất, giúp các nhà nông tối ưu hóa quy trình trồng và chăm sóc lan hồ điệp, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của các nồng độ nước dừa ba naa đến khả năng nhân chồi và sinh trưởng của lan hồ điệp thơm phalaenopsis violacea trong điều kiện in vitro

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Tổng quan về cây lan hồ điệp (Phalaenopsis sp.1 Phân loại Theo Trần Hợp (1998), theo hệ thống thực vật học mới nhất về cây hoa lan được phân loại như sau: Giới (Kingdom): Plantae (thực vật) Ngành (Division): Magnoliophyta (Ngọc lan) “ea y Lớp (Class): Liliopsida (Hanh) rs Bộ (Order): Orchidales Ho (Family): Orchidaceae Ho phu (subfamily): Epidendroideae Tong (Tribe): Vandae Tông phụ (subtribe): Aeriadae Nhom (Alliance): Phalaenopsis „ Hình 1.) Blume Giông (Genus): Phalaenopsis Nguồn: Peggy Alrich, Wesley Higgins (2014) Loài: Phalaenopsis sp. Tén tiéng việt: lan hồ điệp, tiểu hồ điệp.2 Nguồn gốc và phân bố Các họ lan được đánh giá là các loài hoa cao cấp trong giới thực vật, bao gồm hơn 25.000 loài khác nhau, cùng với những loài mới được khám phá và mô tả theo từng năm. Do đó chúng được phân bố vùng rộng lớn, trải từ xích đạo đến bắc cực, từ đồng bằng tới các vùng núi băng tuyết, các loài lan rất khác nhau. Các loài lan chủ yếu sống trên cây cao sống biéu sinh lâu năm chúng được gọi chung là phong lan.

Các loài mọc trong đất gọi là địa lan và một số loài mọc trên núi đá gọi là thạch lan (Tran Hop, 1998). Lan hồ điệp là một trong những loại phong lan được trồng phổ biến trên thé giới. Hồ điệp, được mệnh danh là hoàng hậu của các loài phong lan, được phát hiện đầu tiên năm 1750, đến năm 1852 dùng từ Blume dé định danh. Đến nay đã phát hiện được hơn 70 loài.

Lan hồ điệp trồng thương phẩm đều là giống lai (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007). Hồ điệp Phalaenopsis sp. có tên từ chữ Hy Lap Phalaim - bướm và Opsis - giỗng, đa số loài của chỉ có hoa giống như con bướm. Lan hồ điệp có tên khoa học là Phalaenopsis sp., là loại lan có hoa lớn, đẹp, bền.

Lan hồ điệp có màu sắc phong phú, không thua kém giống lan nào khác từ trắng, hồng, đỏ, vàng, tím đến các loại lan hồ điệp có sọc nam ngang hoặc thang đứng hoặc có đốm to hay nhỏ. Giống Phalaenopsis có khoảng 70 loài trong đó có 44 chủng loại, mọc từ dãy Hymalaya đến châu Á có hơn 20 loài lan ưa nóng có ở các nước Đông Nam Á như bán đảo Mã Lai, Indonesia, Philippine, đông Ấn Độ (Nguyễn Công Nghiệp, 2004). Lan hồ điệp là những cây sống biểu sinh, trên những cây cao trong rừng dày có am độ cao hoặc rat gần dat, trên những cây nhỡ (arbuter), hay sống bám trên những hốc đá, hay trên những đám rêu dày, một vài loài sống ở vùng ven biển. Lan hồ điệp Phalaenopsis sp.

ít thích hợp với nắng hơn so với những loại phong lan có giả hành. Nhiệt độ thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển là 15 - 38°C và giống này thường sống ở cao độ 200 m - 400 m (Tran Hop, 1998). Hiện nay có nhiều chi lan khác nhau được lai với Phalaenopsis và lai ngay trong cùng một chi, tạo ra 40.000 loài lai (Nguyễn Thiện Tịch và ctv, 2006), chi lan hồ điệp có thê chia ra thanh 5 nhóm trong đó có 2 nhóm quan trọng đó là: - Nhóm Euphalaenopsis: nhóm này có đặc điểm nổi bật là cánh hoa dài và rộng hơn lá đài, cánh môi rộng và có hai phụ bộ riêng rẽ ở phía trước, bộ lá thường có màu lục đậm hơn ở mặt trên sam ở mặt dưới, hoa nhiều và mảnh mai, một vài loài tiêu biểu: Phalaenopsis amabilis, P. - Nhóm Stauroglottis: nhóm này có đặc điểm khác biệt như sau: lá dài và cánh hoa cùng một cỡ, cánh môi hẹp và không có bộ phụ ở phía trước, bộ lá có màu xanh lục nhạt ở cả hai mặt trên và dưới lá, hoa nhỏ hơn và cánh dày hơn thường có màu hoa văn, một vài loài tiêu biểu là Phalenopsis giganatea theo Phạm Hoàng Hộ, Việt Nam có 7 loài Phalaenopsis: P.

Theo Tran Hợp (1998), ở Việt Nam, đã ghi nhận có 6 loài hồ điệp rừng tự nhiên: 1. Phalaenopsis mannii Rchob. F (lan hồ điệp An) xuất hiện dọc từ Quảng Trị lên tới Tây Nguyên. Phalaenopsis gibbosa Sweet (lan hồ điệp Trung) xuất hiện ở Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Tây và Đà Lạt.

Phalaenopsis lobbii Rchob. F (lan hồ điệp Cúc Phương) có ở rừng Cúc Phương và Tây Nguyên. Phalaenopsis fuscata Rchob. Phalaenopsis cornu-cervi.

Phalaenopsis braceana (Hook.3 Đặc điểm thực vật học Lan hồ điệp (Phalaenopsis sp.) là cây đơn thân nhưng rất ngắn, có lá mọc khít nhau nên không có lóng, lá tương đối dày và mập, thường rộng ở phần trên, hẹp ở phần dưới, phát hoa ở nách lá, thường hay đứng có thé phân nhánh, hoa nhỏ hay khá to, mỗi hoa bền khoảng 2 - 3 tháng. Vì vậy, cành hoa nở liên tiếp hơn nửa năm, lá đài và cánh hoa gần như nhau, đôi khi cánh hoa lớn hơn nhưng nỗi bật là cánh môi. Môi gắn vào chân của trụ và không có cựa ở đáy, ba thùy với phụ bộ hay cục u ở đáy thùy giữa, hay thùy bên, một trong những bộ phận ấy là hai sợi râu của môi hay phiến nhỏ dựng đứng ở thùy môi. Trụ tương đối dài và nhỏ, hai khối phan tròn hay hình trứng, vĩ phan kéo dai và rộng ở phần trên và hẹp ở phần dưới, gót đẹp, nhiều loài thường cho cây con trên cọng phát hoa và nhiều loài cho vân màu trên lá (Đinh Thị Giang, 201 1).

Re Hệ rễ của lan hồ điệp không phân chia thành rễ chính, rễ phụ, rễ nhánh, lông hút rõ ràng mà rễ của lan hồ điệp thường có dang hình tròn, to, mập, có nhánh hoặc không phân nhánh. Rễ thường có màu trắng, đầu rễ có màu xanh, màu vàng trắng hoặc màu đỏ tối. Rễ của lan hồ điệp thường mọc tràn ra ngoài chậu, buông lơ lửng ra không khí, có lợi cho việc hút O2 và nước. Có những nghiên cứu cho thấy rễ cây thuộc nhóm phong lan cũng có khả năng quang hợp (Đào Thanh Vân và Đặng Tổ Nga, 2007).

Phần rễ trên thường sống cộng sinh với nắm, do hạt của hoa lan nói chung đều không có nội nhũ, không được cung cấp đủ dinh dưỡng khi nảy mầm, trong điều kiện nảy mam tự nhiên, cần dựa vào các mầm sống cộng sinh để hút chất dinh dưỡng. Trong quá trình sinh trưởng của cây, các loài nắm này sống cộng sinh tại rễ lan để tương trợ cho nhau, vì thế rễ của hoa lan còn gọi là rễ nắm. Việc tưới và bón phân cho hoa lan hồ điệp phải yêu cầu bón phân thật loãng, chính là vì trên rễ cây có nắm cộng sinh (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007). Thân Lan hồ điệp thuộc loại lan đơn thân, tức là thân của chúng rất ngắn không hề có giả hành, cũng không có thời kỳ ngủ nghỉ rõ rệt.

Lan đơn thân sinh trưởng rất chậm chạp, thân chính của nó trong môi trường thuận lợi hàng năm lại mọc ra các lá mới, chúng mọc theo hướng cao hơn theo phương thắng đứng còn cành hoa thì mọc ở rìa thân hoặc nảy ra từ nách lá, lá mọc xếp thành hai hàng, xen kẽ nhau. Theo sự sinh trưởng của cây, các lá già ở đưới gốc dần dần già héo và rụng đi, đến khi có chồi nách mọc ra nhưng thường không mọc đài ra được. Vì cây lan rất khó ra chồi nhánh nên không dùng phương pháp tách cây dé nhân giống. Thân của lan hồ điệp, ngoài tác dụng giữ cho cây thang đứng, còn có chức năng tích trữ chất dinh dưỡng và nước cho cây (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007; Dinh Thị Giang, 2011).

Lá Lá của lan hồ điệp to dày, đầy đặn, lá mọc đối xứng, ôm lấy thân cây. Số lá trên thân cây thường không nhiều, thông thường một cây lan trưởng thành có từ bốn lá trở lên. Trong nách lá có hai chéi phu, chéi phụ trên to hơn là chồi hoa sơ cấp, bên dưới là chỗồi dinh dưỡng sơ cấp. Các chdi sơ cấp này sinh trưởng đến một mức độ nào đó thì bắt đầu đi vào giai đoạn ngủ nghỉ.

Màu sắc của lá gồm 3 loại: lá màu xanh; mặt trên lá và mặt đưới lá màu đỏ; mặt trên của lá đốm và mặt dưới lá màu đỏ. Căn cứ vào mau sắc lá có thé phân biệt được màu sắc hoa của chính nó, lá màu xanh thường ra hoa mau trang hoặc hoa nhạt mau, còn các lá màu khác thường cho hoa màu đỏ (Dinh Thị Giang, 2011). Lan hồ điệp dé thích nghỉ với điều kiện sinh thái nguyên sinh, thông thường bề mặt trên của lá không có khí khổng, chỉ có mặt dưới của lá mới có khí không. Lan hồ điệp là loại thực vật CAM, giống như các thực vật CAM khác khí khong mo ra vao ban đêm dé thu nhận CO> dé tạo ra axit “Malic” dự trữ trong cơ thể, vào ban ngày CO2 được giải phóng, tham gia vào quá trình quang hợp.

Ưu điểm của loại thực vật này là khí khổng không mở ra vào ban ngày nên cây không bị mat nước, thoát hơi nước. Điều kiện này đối với những cây không được cung cấp nước đầy đủ thường xuyên là rất có lợi. Khi cây có đủ nước thì khí không cũng có thé mở ra vào ban ngày hút khí CO2 dé tiến hành quang hợp bình thường. Nếu gặp phải điều kiện khô hạn nghiêm trọng thì khí không sẽ đóng lai, quá trình quang hợp diễn ra chỉ vừa đủ cho lượng CO2 tạo ra trong chu trình hô hấp.

Đây chính là nguyên nhân khiến cho lan hồ điệp mặc dù không có giả hành nhưng lại có khả năng chịu hạn tốt (Đinh Thị Giang, 2011). Hoa Canh hoa của lan hồ điệp mọc ra từ nách lá, thông thường đếm theo thứ tự từ trên xuống thì cành hoa bắt đầu mọc ra từ lá thứ 3 hoặc thứ 4. Các cành hoa có thể phân nhánh hoặc không phân nhánh. Hoa lan to thường ít phân nhánh còn lan hoa nhỏ phân nhánh rất rõ thậm chí một số giống hoa lan nhỏ có thé nở đến 200 bông hoa.

Cành hoa khi chưa phân hoá các đốt hoa thường ở dạng tiền chdi nách hoặc tiền chỗồi hoa, ở nhiệt độ dưới 15°C và bi bam ngọn có nay thành chéi hoa, nhưng nếu nhiệt độ cao qua 28°C thì chỉ có thé nảy thành chdi nách (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007). Đa sô các giông hoa đơn cây chỉ ra một cành hoa, có một sô giông khác hoặc trong điều kiện tốt cho chồi hoa phân hoá có thé mọc ra 2 hoặc 3 cành hoa. Dé trồng được lan có bông hoa to đẹp, cần phải khống chế số bông trên một cành hoặc cắt bớt đi một số cành nhánh (Đào Thanh Vân và Đặng Tổ Nga, 2007). Quả Hoa lan hồ điệp chỉ tạo quả qua thụ phan nhân tao hoặc thu phan nhờ côn trùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Nồng Độ Nước Dừa, BA, NAA Đến Sinh Trưởng Lan Hồ Điệp Thơm" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của các yếu tố dinh dưỡng đến sự phát triển của lan hồ điệp thơm. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của nồng độ nước dừa, BA (Benzyladenine) và NAA (Naphthaleneacetic acid) trong quá trình sinh trưởng của cây mà còn mở ra hướng đi mới cho việc tối ưu hóa kỹ thuật trồng lan.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng nhân giống trà hoa vàng bằng phương pháp giâm cành tại yên bái, nơi nghiên cứu về các chất điều hòa sinh trưởng khác. Bên cạnh đó, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp công nghệ sinh học ảnh hưởng của một số chất hữu cơ bổ sung lên quá trình sinh trưởng và phát triển chồi lan kim tuyến anoectochilus setaceus blume in vitro cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về ảnh hưởng của các chất hữu cơ đến sự phát triển của cây lan. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Khóa luận tốt nghiệp nông học ảnh hưởng của năm loại dịch chiết hữu cơ đến khả năng nhân chồi cây lan gấm anoectochilus formosanus hayata trong nuôi cấy in vitro, để có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp nuôi cấy và ảnh hưởng của dịch chiết hữu cơ đến sự phát triển của cây lan.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng trong lĩnh vực nông học và công nghệ sinh học.