Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây thanh long Cây thanh long có tên khoa học là Hylocereus sp., thuộc họ Xương Rồng (Cactaceae), bộ Cam Chướng (Cactales), lớp Song tử điệp (Dicotyledones), ngành Thực vật hạt kín (Angiospermea). Thanh long có nguồn gốc ở Trung Mỹ, là một trong những cây ăn quả quan trọng của nước ta, được trồng nhiều ở các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang và rải rác ở một số tỉnh khác. Thanh long đóng góp đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu quả tươi của Việt Nam trong những năm gần đây. Với ưu thế thị trường tiêu thụ 6n định và hiệu quả kinh tế cao, nông dân đang ngày càng chú trọng đầu tư vào sản xuất cây thanh long (Nguyễn Văn Kế, 2014).1 Nguồn gốc cây thanh long ruột đỏ Giống thanh long ruột đỏ LDI là giống lai hữu tính, có nguồn gốc từ lai giữa giống thanh long ruột trắng Bình Thuận (làm mẹ) và giống thanh long ruột đỏ Colombia (làm bố) từ năm 1998 và được Bộ NN và PTNT cho phép đưa vào sản xuất giống tại các tinh phía Nam từ tháng 11 năm 2005 (Viện cây ăn quả Miền Nam, 2010).2 Đặt điểm thực vật học của thanh long ruột đỏ 1.1 Rễ Rễ cây khác hắn với thân cành, rễ thanh long không mọng nước nên nó không phải là nơi tích trữ nước giúp cây chịu hạn.
Cây thanh long có hai loại rễ: địa sinh và khí sinh. Rễ địa sinh phát triển từ phần lõi ở gốc hom. Rễ địa sinh có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây. Rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt (0— 30 cm).
Rễ khí sinh mọc đọc theo thân cây phan trên không, bám vào cây chống dé giúp cây leo lên giá đỡ. Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất (Nguyễn Văn Ké, 2014).2 Thân, cành Thanh long (một loại xương rồng) trồng ở nước ta có thân, cành trườn bò (climbing cacti) trên trụ đỡ. Thân chứa nhiều nước nên có thể chịu hạn một thời gian dài. Thân, cành thường có ba cánh đẹp, xanh.
Tiết diện ngang cho thấy có hai phần bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ. Bìa mỗi cánh chia ra làm nhiều thùy (hay răng) có chiều dai 3 — 4 em. Day mỗi thùy có 2 — 5 gai ngắn. Mỗi năm cây cho 3 — 4 đợt cành (Nguyễn Văn Kế, 2014).
Kích thước cành thanh long thay đổi theo tuổi cây: Trung bình năm 1 dài khoảng 70 em, chiều dài cành tăng dần và ổn định ở năm thứ tư khoảng 110 em. Cành trưởng thành giống ruột đỏ trung bình dài 112,6 cm + 11,6 cm, bề rộng cành 5,6 em + 0,5 cm.3 Hoa Thanh long là cây ngày dai (trường quang kỳ). Tại Nam bộ hoa xuất hiện sớm nhất vào trung tuần tháng 3 dương lịch (DL) và kéo dai tới khoảng tháng 10 DL rộ nhất từ tháng 5 dương lịch tới tháng 8 dương lịch. Trung bình có từ 4 — 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm.
Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 — 35 cm, nhiều lá đài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và 1 nhụy cái dai 18 — 24 em, đường kính 5 — 8 mm, núm nhụy cái chia làm nhiều nhánh. Hoa thường nở tập trung từ 20 -23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn. Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 — 3 ngày. Thời gian từ khi xuất hiện nụ tới hoa tàn độ 20 ngày.
Các đợt nụ đầu tiên rụng từ 30% đến 40%, về sau tỉ lệ này giảm dan khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi (Nguyễn Văn Ké, 2014).4 Quả và hạt Sau khi hoa thụ, bầu noãn sẽ phát triển thành quả, thuộc loại quả mọng (berry, cactus pears), trong 10 ngày đầu tốc độ phát triển tương đối chậm, sau đó tăng rất nhanh về cả kích thước lẫn trọng lượng. Thời gian từ khi hoa thụ tới thu hoạch chỉ 22 — 25 ngày, trong thí nghiệm thắp đèn tạo quả trái vụ của Đỗ Văn Bảo ở Bình Thuận thì thời gian này là 25 — 28 ngày. Ở một số giống lai, thời gian này cũng chi từ 27 — 31 ngày (Nguyễn Văn Kế, 2014). Quả thanh long hình bâu dục có nhiêu tai lá xanh, đâu quả lõm sâu tạo thành “hôc mũi”.
Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyên sang màu đỏ. Thịt quả mau đỏ đậm. Mỗi quả có rất nhiều hạt nhỏ, mềm, màu đen nằm bên trong thịt quả.3 Giá trị dinh dưỡng Thanh long là quả của một loài cây thuộc họ xương rồng, chứa nhiều chất chống oxy hóa có lợi, vitamin, khoáng chất quan trọng cho cơ thể. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), một quả thanh long (khoảng 100 g) chứa 264 calo, 3,57 g sắt, 82,14 g carbohydrate, 1,8 g chat xo, 82,14 g duong, 107 mg canxi, 30 mg natri, 6,4 mg vitamin C, không cholesterol va chat béo.2 Nhu cầu sinh thái của cây thanh long Theo Nguyễn Văn Kế (2014), trình bay trong “Cây ăn quả nhiệt đới : Giống — Kỹ thuật trông và chăm sóc một sô cây đặc sản”: 1.1 Nhiệt độ Cây thanh long (Hylocereus undatus (Haw.
Et Rose) có nguồn gốc ở vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia, là cây nhiệt đới khô. Nhiệt độ thích hợp cho thanh long tăng trưởng và phát triển là 20 — 34°C và tối đa 38 — 40°C. Trong điều kiện có sương giá nhẹ với thời gian ngắn sẽ gây thiệt hại nhẹ cho thanh long 1.2 Ánh sáng Cây thanh long chịu ảnh hưởng của quang kỳ, ra hoa trong điều kiện ngày dài, cây sinh trưởng và phát triển tốt ở các nơi có ánh sáng đầy đủ, thiếu ánh sáng thân cây ốm yếu, lâu cho quả. Tuy nhiên, nếu cường độ ánh sáng quá cao, nhiệt độ cao sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của thanh long.3 Nước Cây có khả năng chịu hạn nhưng không chịu được ngập úng.
Cung cấp đầy đủ nước cây tăng trưởng và phát triển tốt, cho nhiều quả. Nước đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu ra hoa, nở rộ và giai đoạn hình thành quả. Nhu cầu về lượng mưa cho cây là 800 — 2.000 mm/năm, nếu vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng hoa và thối quả.4 Dat dai Thanh long trong được trên nhiều loại đất từ đất khô can, dat cát, đất xám bac màu, đất phèn đến đất phù sa, đất đỏ bazan, đất thịt, thịt pha sét. Tuy nhiên, đề trồng thanh long đạt hiệu quả cao đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, Ph thích hợp từ 5 — 7, hàm lượng hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn.3 Nhu cầu dinh dưỡng cây thanh long Cây thanh long đòi hỏi cung cấp đúng và đủ phân bón dé cho sản lượng tốt.
Các dé xuất bón phân cho thanh long có sự khác nhau đáng ké. Tuy nhiên, có điểm chung là thường bón tập trung ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Các giai đoạn được bón như sau: Cây dưới 3 năm tuôi thường được bón 10 — 15 kg phân chuồng va 100 g super lân/cây tại thời điểm trồng. Trong hai năm đầu, mỗi năm bón cho mỗi trụ 300 g urê và 200 g NPK 16 — 16 — 8, bón ba lần vào thời điểm sau trồng 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng.
Cây từ ba năm tuôi trở lên nên được bón 4 lân/năm như sau: 1.4 Quy trình kỹ thuật canh tác thanh long 1.1 Thiết kế vườn 1.1 Chuẩn bị đất trồng Vùng đất thấp như ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cần đào mương lên liép nhằm xả phèn, mặn và nâng cao tang canh tác: mương rộng 1 — 2 m, liép rộng 6— 7m. Sau đó trồng cây trụ, lên mô và bón lót. Kích thước mô: 80 x 30 em. Liếp nên thiết kế theo hướng Bắc — Nam va trồng cây theo kiểu nanh sau (cây giữa các hàng trồng so le nhau) nhằm tận dụng cao nhất ánh sáng mặt trời của hướng Đông — Tây giúp tăng năng suất.
Vùng đất cao nên đào hó, kích thước hồ 80 x 30 cm. Chon nơi có nguồn nước suối hoặc nước ngầm đề tưới cho cây vào mùa nắng ( Nguyễn Văn Kế, 2014).2 Trồng cây chắn gió Đối với thanh long trồng ở vùng duyên hải miền Trung nên trồng cây chắn gió, có thé trồng các loại cây như: Mit, dừa, trồng thắng góc với hướng gió dé làm giảm thiệt hại của gió bão đến cây thanh long.3 Trồng cây trụ Cần chuân bị cây trụ trước khi đặt hom giống một tháng, có thé dùng trụ xi măng cốt sắt, trụ gạch hoặc trụ gỗ. Đối với trụ xi măng có cạnh ngang hay đường kính 12 — 20 cm, trụ cao cách mặt đất 1,5 — 1,6 m, phần chôn sâu đưới mặt đất khoảng 0,5 m, phía trên tru có 4 cong sat 16 ra dai 30 — 40 em được bẻ cong theo 4 hướng dùng làm giá đỡ cho thanh long (Nguyễn Văn Ké, 2014).4 Chuẩn bị hom giống để trồng Cành được chọn làm giống cần chọn trên cây mẹ tốt, khỏe và phải đạt các tiêu chuẩn (Nguyễn Văn Kế, 2014): - Tuổi cành từ 6 — 24 tháng, cần chọn các cành có gốc cành đã bắt đầu hóa gỗ dé hạn chế thối cành. - Chiều dai cành tốt nhất từ 40 — 50 cm.
- Cành khỏe có màu xanh đậm, sạch sâu bệnh. - Các mắt mang chùm gai phải tốt, mây, khả năng nảy chéi tốt. Sau khi chọn cành xong, phần gốc cành 2 — 4 em được cắt bỏ phần vỏ cành chỉ dé lại lõi cành giúp cành nhanh ra rễ và tránh thối gốc. Cành được giâm nơi thoáng mát khoảng 10 — 15 ngày cho ra rễ hoặc có thé dem trồng thang không qua giai đoạn giảm cành.5 Mật độ, khoảng cách trồng Khoảng cách trồng 3,0 m x 3,5 m hay 3,0 m x 3,0 m.
Mật độ trong 70 — 100 trụ / 1. Có thé trồng xen với các loại cây khác. Tuy nhiên, cần bảo đảm cho thanh long nhận day đủ ánh sáng (Nguyễn Văn Kế, 2014).2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 1.1 Thời vụ trồng Tùy theo từng điều kiện cụ thé mà chọn thời vụ trồng thích hợp: - Tháng 10 — 11 DL: Thời gian này có thuận lợi là nguồn hom giống đồi dao vì đây là giai đoạn tỉa cành sau khi thu hoạch, các vùng đất thấp thì mùa này tránh được nguy cơ ngập ung. Tuy nhiên, phải đảm bảo có đủ nước tưới cho cây vào mùa nang.
- Tháng 5 — 6 DL: Đối với các vùng thiếu nước nên trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5 — 6 DL) nhưng sẽ gặp khó khăn về hom giống, dé bị ngập ung, thối gốc (Nguyễn Văn Ké, 2014).2 Cách đặt hom Đặt hom cạn 2 — 4 em, đặt phan lõi (đã gọt bỏ lớp vỏ bên ngoài) xuống dat dé tránh thôi gốc.