Đặt vấn đề Rừng là một tài sản vô cùng to lớn của nền kinh tế quốc dân, nó không những cung cấp gỗ, củi các loại lâm sản sử dụng thông thường, nó còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ môi trường, lá phổi xanh cho cuộc sống của con người, giá trị của rừng là rất to lớn. Nhưng do trình độ quản lý và nhận thức của nhiều người còn hạn chế nên diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp đến mức báo động, từ đó cuộc sống của nhiều người đang bị đe dọa. Vì vậy việc quản lý bảo vệ rừng phải đi đôi với việc nghiên cứu cấu trúc của rừng để không ngừng nâng cao năng suất, duy trì và thúc đẩy sự phát triển của rừng phát huy cao nhất khả năng phòng hộ cũng như cung cấp gỗ xây dựng, lâm sản và gỗ nguyên liệu giấy. Nên cần những biện pháp kĩ thuật tác động và xác định mật độ cho thích hợp với từng đối tượng trong rừng trồng.
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (acacia auricurifomis), keo lai có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh cho năng suất cao, nhưng mật độ trồng rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển của cây và năng suất của rừng, mật độ khác nhau sẽ làm suất đầu tư cho 1 ha rừng trồng về phân bón, cây con, nhân lực khác nhau và ảnh hưởng đến quy cách, năng suất chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy muốn có một mật độ thích hợp với từng loài cây trồng và mục đích sử dụng cần tìm ra những mật độ phù hợp tạo cho rừng sinh trưởng phát triển nhanh, cho hiệu quả kinh tế cao nhất đáp ứng được mục đích của chúng ta. Công ty Lâm nghiệp Hàm Yên trong những năm gần đây đang thí nghiệm mật độ như 1. Tuy nhiên những thí nghiệm đánh giá tình hình sinh trưởng và hiệu quả nhất chưa có kết quả cụ thể.
Để định hướng và đưa ra mật độ thích hợp cần phải thực hiện cụ thể. Xuất phát từ thực tế và nhu cầu trên tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng rừng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của keo lai tuổi 6 tại Công ty Lâm Nghiệp Hàm Yên huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển của rừng trồng keo lai 6 tuổi ở hai mật độ 1.333 cây/ha và 1.666 cây/ha nhằm xác định mật độ hợp lý ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng gỗ tại Công ty Lâm Nghiệp Hàm Yên huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang. Mục tiêu nghiên cứu So sánh được các chỉ tiêu sinh trưởng về: Đường kính 1.3m, Chiều cao vút ngọn, Chiều cao dưới cành, Đường kính tán và Chất lượng sinh trưởng của loài cây Keo lai rừng trồng 6 tuổi ở hai mật độ 1.333 cây/ha và 1.
Trên cơ sở đó lựa chọn được mật độ hợp lý cho rừng trồng Keo lai 6 tuổi đạt hiệu quả sử dụng cao nhất. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Qua thời gian nghiên cứu có thể giúp bản thân làm quen với thực tiễn, kiểm nghiệm giữa lý thuyết và thực tiễn, củng cố kiến thức đã học được trong trường và có điều kiện tích lũy thêm kiến thức thực tế. - Ý nghĩa trong khoa học: Thông qua kết quả nghiên cứu có thể cung cấp những cơ sở căn cứ khoa học cho việc đề xuất một số kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng nguyên liệu giấy trên địa bàn. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Đề tài là cơ sở để giúp cho các nhà trồng rừng lựa chọn được mật độ trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng để phát triển mở rộng quy mô góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu làm bột giấy.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Mật độ là số lượng cây trồng trên một đơn vị diện tích hay nói cách khác là sự sắp xếp không gian của một số lượng cây nhất định trên một đơn vị diện tích. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng gỗ rừng trồng.
Muốn có sản lượng gỗ cao, đảm bảo quy cách, phẩm chất đáp ứng được yêu cầu và mục đích sử dụng cần nghiên cứu mật độ thích hợp với mục đích trồng rừng, loài cây và điều kiện lập địa của nó. Vì vậy, có thể nói mật độ là một trong những biện pháp kĩ thuật quan trọng trong trồng rừng. Theo kết quả nghiên cứu của một số công trình cho thấy, giai đoạn cây 5 tuổi tỷ lệ sống của rừng trồng ở một số mật độ 1330 cây/ha và 1660 cây/ha so với tỷ lệ sống tại tuổi 3 là không khác nhau. Nhưng ở mật độ 2000 cây/ha thì tỷ lệ sống ở tuổi 5 và tuổi 3 là khác nhau nhiều (ở tuổi 3 là 90,74% và ở tuổi 5 là 87,04%)[2].
Sự ảnh hưởng của các mật độ này đến chất lượng gỗ keo lai như thế nào và sử dụng gỗ ở cấp mật độ đó như thế nào, cho đến nay chưa có công trình nào khẳng định chắc chắn. Chính vì vậy, để có cơ sở khẳng định mật độ có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng cũng như hiệu quả sinh trưởng của cây keo lai, tôi thấy việc nghiên cứu của tôi là cần thiết. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới Keo lai là giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (acacia auricurifomis), giống lai tự nhiên này được Messrs Herburn và Shim phát hiện ra lần đầu vào năm 1972 trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupit thuộc bang Sabah của Malayxia. Đến tháng 7 năm 1978 nhờ vào mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực ở Queensland (Autralia) thì Pedgley đã xác định đó là giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng và Keo lá tràm.
Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở vùng Banamuk va Old Toda của Papua New Guirea (Turnbull, 1986; Gunetal, 1987; Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987), và Ulukukut (Daus và Rasip, 1989) của Malayxia[2]. n 4 Ngoài ra, từ năm 1992 ở Indonexia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng keo lai từ nuôi cấy mô phân sinh, cùng keo tai tượng và keo lá tràm (Umboh et al,1993). Keo lai tự nhiên còn tìm thấy ở vườn keo tai tượng của trạm nghiên cứu Jon - pu của viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan (Kiang tao et al 1988) và ở vùng trồng keo tai tượng tại Quảng Châu (Trung Quốc)[2]. Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở Thái Lan (Kijkac, 1992), ở đây keo lai được gây trồng thành đám khoảng 30 cây tại trụ sở của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Asean - Canada ở Muak - Lek, Sarabari[2].
Người ta quan sát vườn ươm tại Sabah và thấy rằng tỉ lệ keo lai xuất hiện trong vườn keo tai tượng là 3,3 - 9,3%, cá biệt có thể tới 23%. Còn trong vườn ươm Keo lá tràm là 6,8% - 10,3%, cá biệt có thể đến 22,5% Gan và Simboonliany, 1991)[2]. Theo Rufelds, 1987, keo lai hơn keo tai tượng về độ tròn thân, khả năng tỉa cành khá hơn keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và góc phân cành kém hơn keo tai tượng. Nhưng Piso và Nasi, 1991, đã kiểm nghiệm ở keo tai tượng độ thẳng thân của đoạn thân dưới cành, độ tròn dài thân tốt hơn loài bố mẹ, keo lai có đỉnh ngọn phát triển tốt hơn, thân đơn trục tỉa cành tốt (Pinyosarerk, 1990) cũng vì vậy keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom (Griffin, 1988), nuôi cấy mô phân sinh (Darus, 1991)[2].
Năm 1988 theo Pong - Arant đã nhân hom thành công 8 dòng keo lai có khả năng sinh trưởng tốt hơn bố mẹ chúng. Các kết quả nghiên cứu trong nước Ở nước ta keo lai tự nhiên được trung tâm nghiên cứu giống cây trồng Việt Nam phát hiện, nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái và sinh trưởng (Lê Đình Khả và những cộng sự, 1993) Tiềm năng bột giấy (Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc, 1995; Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc, 1999) khảo nghiệm dòng vô tính, (Lê Đình Khả, 1966) cũng như nghiên cứu đặc điểm thoái hóa phân ly ở đời F2 khi dùng hạt của cây lai F1 để trồng rừng (Lê Đình Khả và những người khác, 1999). Keo lai cũng được nghiên cứu về khả năng cải tạo đất, (Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải và Ngô Đình Quế, 2000) và khả năng gây trồng ở các vùng sinh thái (Lê Đình Khả và những người khác, 1999; Nguyễn Ngọc Giao, 2003). Ở Việt Nam năm 1993 công tác khảo nghiệm dòng vô tính keo lai được tiến hành ở Đông Nam Bộ.
(Trong Lê Đình Khả và cộng tác viên, 2005) n 5 Keo lai tự nhiên ở Ba Vì (Hà Tây) được xác định đã xuất hiện trong khu vực trồng keo tai tượng lấy giống từ khu trồng thử keo tai tượng nằm cạnh khu trồng keo lá tràm. Còn keo lai tại Đông Nam Bộ xuất hiện là do lai tự nhiên giữa xuất sứ Mossman (Ald) của tai tượng với keo lá tràm. Ở Việt Nam vào năm 1993 công tác khảo nghiệm dòng vô tính keo lai được tiến hành ở Đông Nam Bộ. Các kết quả chọn giống và nhân giống đã được công bố trên Tạp chí Lâm Nghiệp số 07/1993 và thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế Lâm Nghiệp số 02/1995[2].
Vào ngày 17/01/2000 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định công nhận chính thức 3 dòng keo lai: BV10, BV16, BV32 của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam để đưa vào sản xuất. Vào ngày 09/08/2000 tại Hà Nội. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định công nhận 4 dòng keo lai TB03, TB05, TB06, TB12 của trung tâm Khoa học sản xuất nông nghiệp Đông Nam Bộ thuộc Viện Khoa Học Việt Nam đưa vào trồng với diện tích rộng ở các tỉnh phía Nam. Ngoài các dòng keo lai đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận, có một số dòng keo lai được đánh giá là có triển vọng là các dòng BV71, BV75…đã được chọn và đưa vào khảo nghiệm.
Năm 2004 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận thêm dòng KL2 cho vùng Đông Nam Bộ, Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh, ban quản lý đã trồng mới 40 vạn keo lai hom dòng BV10, BV16 trên 13 xã khu vực. Đặc tính ưu thế lai của keo lai 2. Đặc điểm sinh trưởng của keo lai Đặc điểm nổi bật của keo lai ưu thế lai hết sức rõ rệt.