Đặt vấn đề Lúa là một trong những cây lƣơng thực quan trọng trên thế giới, chỉ sau lúa mỳ. Hơn 40% dân số thế giới sử dụng lúa gạo làm lƣơng thực chính, trên ½ khẩu phần lƣơng thực hàng ngày, đặc biệt là các nƣớc ở châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh. Viê ̣t Nam tƣ̀ mô ̣t nƣớc thiế u lƣơng thƣ̣c thƣờng xuyên, đến nay sản lƣợng lúa gạo của chúng ta không những đáp ứng đủ nhu cầu lƣơng thực ở trong nƣớc mà còn dƣ để xuất khẩu. Tuy nhiên giá gạo xuất khẩu còn rất thấp và chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của một số thị trƣờng tiềm năng, khó tính: Nhật bản, Hàn quốc.
nguyên nhân chủ yếu do chất lƣợng gạo còn thấp. Trên thực tế, sản xuất lúa chủ yếu ở nƣớc ta là các giống lúa lai năng suất cao nhƣng chất lƣợng còn hạn chế. Các giống lúa chất lƣợng cao ít đƣợc sử dụng và chƣa đƣợc khai thác hết tiềm năng của các giống lúa đặc sản làm cho chất lƣợng gạo thấp, giá thành bán chƣa cao, giống bị suy thoái. Do đó, trong những năm gần đây nhà nƣớc đã có các chính sách khuyến khích, ƣu tiên nghiên cứu, phục tráng, phát triển các giống lúa đặc sản chất lƣợng cao ở các địa phƣơng.
Hàm Yên là huyện miền núi phía Bắc tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang), phía Nam giáp huyện Yên Sơn, phía Đông giáp huyện Chiêm Hoá, phía Tây giáp huyện Yên Bình, Lục Yên (tỉnh Yên Bái). Diện tích đất nông nghiệp của huyện 11. Các cánh đồng phần lớn nhỏ hẹp, phân tán dọc các triền đồi. Hàm Yên có một số cánh đồng rộng từ 30 đến 70 ha nằm ở các xã: Hùng Đức, Đức Ninh, Thái Sơn, Thái Hoà, Nhân Mục, Yên Phú, Bình Xa, Minh Hƣơng và Phù Lƣu.039 ha đất đồi, thích hợp với các loại cây công nghiệp (sả, chè), cây ăn quả (cam, quýt, dứa.), cây lƣơng thực (ngô, sắn.
Khí hậu ở Hàm Yên hình thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 220c, độ ẩm là 87,07%, lƣợng mƣa bình quân là 162,40 mm. 1 c Khẩu Lƣờng Ván là giống lúa nếp thuần thuộc loài Oryza sativa L đƣợc trồng lâu đời ở huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang. Giống này cho gạo thơm, ngon, dẻo và đƣợc ngƣời dân tin dùng, lúa đƣợc bán với giá khá cao từ 20.
Thực tế những giống lúa đặc sản của tỉnh Tuyên Quang đƣợc ngƣời dân trồng và chăm sóc theo kinh nghiệm, nên kỹ thuật áp dụng chƣa hợp lý nhƣ: Lúa không đƣợc bón phân chuồng, phân khoáng chƣa cân đối, cấy mật độ thƣa. nên năng suất của giống lúa này còn thấp, chỉ đạt từ 25 – 30 tạ/ha, hiệu quả kinh tế không cao vì vậy giống Khẩu Lƣờng ván chỉ đƣợc trồng nhỏ lẻ. Việc cấy đúng mật độ không những tạo điều kiện tối ƣu việc hấp thu năng lƣợng ánh sáng mặt trời và tổng hợp chất hữu cơ, giúp cây sinh trƣởng tốt, cho năng suất cao, hạn chế sâu bệnh hại,còn có ý nghĩa lớn trong việc sử dụng giống, phân bón một cách hợp lý, góp phần nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế. Mật độ cấy thích hợp tùy thuộc vào giống, mùa vụ, tuổi mạ, điều kiện đất đai, phân bón và tập quán canh tác của từng địa phƣơng.Vì vậy để có mật độ thích hợp cho giống Khẩu Lƣờng Ván cần đƣợc nghiên cứu trong điều kiện cụ thể.
Xuất phát những thực trạng trên từ tình hình thực tiễn sản xuất lúa tại địa phƣơng chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Khẩu Lường ván tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu đề tài: Xác định đƣợc mật độ cấy thích hợp nhằm nâng cao năng suất của giống lúa Khẩu Lƣờng Ván tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.3 Yêu cầu: - Xác định ảnh hƣởng của mật độ cấy đến sinh trƣởng của giống lúa Khẩu Lƣờng Ván tại Xã Yên Thuận huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang. - Nghiên cứu ảnh hƣởng của mật độ cấy đến khả năng chống chịu của giống lúa Khẩu Lƣờng Ván. - Đánh giá ảnh hƣởng của mật độ cấy đến năng suất của giống lúa Khẩu Lƣờng Ván.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: - Giúp sinh viên tiếp cận và học tập đƣợc phƣơng pháp nghiên cứu khoa học. Sinh viên nắm vững thực hành và kiến thức thực tế trƣớc khi ra trƣờng. - Nghiên cứu để đánh giá khả năng sinh trƣởng, phát triển, khả năng chống chịu, năng suất và chất lƣợng của giống lúa Khẩu Lƣờng Ván.
Từ đó làm cơ sở để xác định đƣợc mật độ cấy cho năng suất, chất lƣợng cao phù hợp với điều kiện địa phƣơng. Ý nghĩa trong thực tiễn: - Xác định đƣợc mật độ trồng hợp lý nhất cho giố ng lúa đặc sản Khẩu Lƣờng Ván. - Nâng cao năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời dân, góp phần thúc đẩy sản xuất lúa tại huyện Hàm Yên phát triển. 3 c PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học Trong sản xuất giống là một yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lƣợng giống. Mỗi giống thích hợp với chế độ trồng trọt, canh tác nhất định. Các biện pháp kỹ thuật trồng trọt nhƣ mật độ trồng…đều ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, phát triển của giống. Chính vì vậy để phát huy đƣợc tiềm năng năng suất lúa của giống thì cần phải nghiên cứu các biện pháp kĩ thuật phù hợp với giống (Luyện Hữu Chỉ, 1997) [2].
Mật độ là biện pháp kĩ thuật có ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất lúa. Mật độ trồng phụ thuộc vào giống, mùa vụ và điều kiện canh tác. Mỗi giống đều có những đặc điểm riêng về sinh trƣởng, phát triển nhƣ: Sự phát triển của bộ rễ, nhu cầu dinh dƣỡng, ánh sáng đều rất khác nhau, có giống ƣa trồng dày, có giống ƣa trồng thƣa. Vì vậy xác định mật độ, khoảng cách phù hợp với mỗi giống là cần thiết giúp cây sinh trƣởng, phát triển tốt và phát huy tối đa tiềm năng năng suất giống.
Các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cũng khẳng định: Khi các biện pháp kĩ thuật khác đƣợc duy trì thì chọn mật độ cấy hợp lý là phƣơng án tối ƣu nhất để đạt đƣợc số hạt thóc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy từ đó năng suất.[7] Khẩu Lƣờng Ván là giống lúa đặc sản của huyện Hàm Yên, có chất lƣợng tốt thích hợp với điều kiện khí hậu tại địa phƣơng và đƣợc ngƣời dân tin dùng. Tuy nhiên cũng đã có nhiều nghiên cứu về phân bón, chế độ nƣớc tƣới về giống lúa này nhƣng về mật độ trồng chứ có các nghiên cứu đầy đủ. Do đó, làm hạn chế về năng suất cũng nhƣ chất lƣợng của giống lúa. Chính vì vậy nghiên cứu mật độ trồng phù hợp giống lúa Khẩu Lƣờng Ván là rất cần thiết, góp phần phát triển giống lúa đặc sản này ra thị trƣờng.
Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam: 2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới: Lúa là một trong năm loại cây lƣơng thực chính của thế giới, cùng với ngô (Zea Mays), lúa mì (Triticum sp, tên khác: tiểu mạch), sắn (Manihot esculenta Crantz, tên khác khoai mì) và khoai tây (Solanum tuberosum L. Theo quan niệm xƣa lúa cũng là một trong sáu loại lƣơng thực chủ yếu trong Lục cốc. Có trên 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lƣơng thực chính, trên 25% dân số sử 4 c dụng gạo trên ½ khẩu phần lƣơng thực hàng ngày.
Vì vậy, lúa gạo có ảnh hƣởng ít nhất đến 65% dân số thế giới. Phạm vi trồng lúa trên thế giới phân bố rất rộng, từ xích đạo đến 50o vĩ Bắc và 35o vĩ Nam, từ vùng thấp đến vùng cao, từ những vùng nóng ẩm của Ấn Độ đến các vùng sa mạc có tƣới nƣớc ở Pakistan và ở độ cao 2500m so với mực nƣớc biển. Lúa có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau từ phù sa màu mỡ đến các loại đất cát, đất sét, đất bạc màu, đất trũng úng ngập, nghèo dinh dƣỡng và pH 3-10. Chứng tỏ cây lúa có khả năng thích ứng rộng với những điều kiện khác nhau trên thế giới.
Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa trên thế giới giai đoạn 2005- 2014 Năm Diện tích Năng suất Sản lƣợng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 155,1 40,1 634,5 2006 155,8 41,2 641,1 2007 156,0 42,1 657,4 2008 159,0 43,1 685,0 2009 157,9 43,4 686,2 2010 161,5 43.4 701,2 2011 162,7 44,3 721,6 2012 162,2 45,1 733,0 2013 164,2 44,9 739,1 2014 162,7 45,5 741,4 Nguồn: FAOSTAT, 2017[24] Qua bảng 2.1 ta cũng thấy rằng: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa qua các năm có xu hƣớng tăng lên. Tuy nhiên, diện tích năm 2013 so với năm 2014 đã giảm đi 1,5 triệu ha nhƣng năng suất tăng thêm 0,6 tạ/ha. Nguyên nhân của việc này do năm 2014 chịu ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu, nhiều thiên tai xảy ra liên tiếp (lũ lụt, hạn hán, rầy nâu, khô vằn…) làm cho diện tích bị thu hẹp đáng kể. Song bên cạnh đó với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, diện tích trồng lúa lai đƣợc mở rộng làm cho năng suất lúa ngày một nâng cao.
Diện tích canh tác lúa toàn thế giới năm 2014 là 162,71 triệu ha giảm 1,5 so với diện tích canh tác năm 2013. Nhƣng năng suất trung bình là 45,56 tạ/ha, sản lƣợng 741,47 triệu tấn hơn hẳn so với năm 2013. Do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp nhƣờng chỗ cho các khu công nghiệp, khu đô thị, nhà ở nhƣng lại áp dụng các biện 5 c pháp kĩ thuật tiên tiến, thâm canh tăng vụ, cải tạo lựa chọn giống lúa mới cho năng suất cao chất lƣợng tốt.2 cho ta thấy các nƣớc trồng lúa điển hình trên thế giới là Châu Á. Trong những nƣớc trồng lúa có sản lƣợng lớn nhất thế giới có tới 9 nƣớc nằm ở khu vực châu Á, chỉ có Australia nằm ở châu Úc, Brazil nằm ở châu Mỹ.
Sản lƣợng lúa của 9 nƣớc Châu Á đã chiếm 83,36% tổng sản lƣợng lúa thế giới. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của một số nƣớc trên thế giới năm 2014 Tên nƣớc Diện tích Năng suất Sản lƣợng ( Triệu ha) ( tạ/ha) (Triệu tấn ) Trung Quốc 30,57 68,11 208,23 Ấn Độ 43,85 35,84 157,20 Indonesia 13,79 51,34 70,84 Bangladesh 11,31 46,22 52,32 Việt Nam 7,81 57,53 44,97 Thái Lan 10,66 30,58 32,62 Brazil 2,34 52,01 12,17 Nguồn:FAOSTAT, 2017[24] Ấn Độ là nƣớc có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới, năm 2014 là 43,85 triệu ha và năng suất là 35,84 tạ/ha.