Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm an ninh lương thực và tạo sinh kế bền vững cho hàng triệu nông hộ. Năm 2020, tổng đàn gia cầm cả nước đạt mốc 512,69 triệu con với sản lượng thịt hơi xuất chuồng vượt 1,88 triệu tấn; riêng đàn gà chiếm hơn 409,5 triệu con. Tại Bình Định – trung tâm sản xuất gà giống hàng đầu cả nước – tổng đàn gà đạt 6,7 triệu con vào giữa năm 2022, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của ngành là chi phí thức ăn thường chiếm từ 60% đến 70% tổng giá thành sản xuất, trong khi giá thức ăn hỗn hợp công nghiệp liên tục tăng cao do đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.

Vấn đề cấp thiết đặt ra là tìm kiếm nguồn nguyên liệu bổ sung có sẵn tại địa phương, giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa nhằm giảm áp lực phụ thuộc vào cám công nghiệp mà vẫn duy trì tốc độ sinh trưởng và phẩm chất thịt đặc trưng của gia cầm bản địa. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu đánh giá toàn diện ảnh hưởng của khẩu phần ăn bổ sung 50% lúa nảy mầm ở giai đoạn từ 8 đến 16 tuần tuổi đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng khối lượng, năng suất thân thịt, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế trên giống gà ta chọn lọc MD1.BĐ.

Đề tài được triển khai thực nghiệm từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 8 năm 2022 tại trang trại chăn nuôi thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo phương thức bán chăn thả. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, mang lại giải pháp công nghệ thức ăn sinh học giúp người chăn nuôi tiết kiệm đáng kể chi phí đầu vào, hạ giá thành thịt thương phẩm và nâng cao hiệu quả kinh tế từ 15% đến 20% trên mỗi đầu gà xuất chuồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn của động vật do Hammond đề xuất, kết hợp quy luật tăng trưởng mô cơ theo thời gian của Midedorpho. Theo đó, quá trình phát triển của gia cầm trải qua các pha hình thành khung xương, phát triển hệ thống cơ bắp và tích lũy mỡ. Ở giai đoạn vỗ béo sau 8 tuần tuổi, nhu cầu trao đổi chất chuyển dịch dần từ phát triển kích thước sang tích lũy dinh dưỡng và định hình chất lượng cơ thịt.

Đồng thời, đề tài ứng dụng lý thuyết chuyển hóa sinh học trong quá trình nảy mầm của hạt ngũ cốc. Khi hạt lúa hấp thụ nước trong 24 đến 36 giờ, hệ enzyme nội sinh gồm amylase và protease được kích hoạt mạnh mẽ, phân cắt tinh bột dự trữ thành đường đơn và thủy phân protein phức tạp thành các chuỗi peptide cùng acid amin tự do. Hàm lượng acid amin hòa tan trong hạt lúa sau nảy mầm tăng từ 2 đến 3 lần so với lúa nguyên vỏ chưa xử lý, giúp gia cầm hấp thu dưỡng chất tối đa qua thành ruột non.

Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên lý thuyết di truyền tính trạng số lượng để phân tích các chỉ tiêu năng suất thịt và tương tác giữa kiểu gen của giống gà lai MD1.BĐ (bố là gà chọi nòi Bình Định, mẹ là gà Ri) với yếu tố ngoại cảnh là dinh dưỡng khẩu phần. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm: sinh trưởng tích lũy (tổng thể trọng qua các mốc tuần tuổi), sinh trưởng tuyệt đối (gam tăng trọng mỗi con trên ngày), hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR - lượng thức ăn tiêu thụ để tạo ra 1 kg thể trọng) và tỷ lệ thân thịt (tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt xẻ so với khối lượng sống trước giết mổ).

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với cỡ mẫu 120 cá thể gà MD1.BĐ một ngày tuổi có thể trọng ban đầu đồng đều từ 32 gam đến 36 gam, phân chia cân bằng giới tính gồm 60 con trống và 60 con mái. Mẫu nghiên cứu được chia đều vào hai lô:

  • Lô đối chứng (60 con): Nuôi hoàn toàn bằng 100% thức ăn hỗn hợp công nghiệp hoàn chỉnh từ 1 ngày tuổi đến 16 tuần tuổi.
  • Lô thí nghiệm (60 con): Giai đoạn 1 đến 7 tuần tuổi nuôi cùng chế độ thức ăn công nghiệp; từ 8 đến 16 tuần tuổi áp dụng khẩu phần phối trộn 50% thức ăn hỗn hợp công nghiệp kết hợp 50% lúa nảy mầm (chiều dài mầm từ 0,5 cm đến 1,0 cm) bố trí ở hai máng riêng biệt.

Quy trình theo dõi được thực hiện bán chăn thả đồng nhất về tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ duy trì từ 26 độ C đến 31 độ C, độ ẩm không khí trung bình 75% đến 82%). Số liệu tăng trọng được ghi nhận định kỳ 2 tuần một lần vào buổi sáng sớm trước khi cho ăn bằng cân kỹ thuật có độ chính xác 0,5 gam đến 5 gam.

Tại thời điểm kết thúc 16 tuần tuổi, 12 cá thể đại diện (mỗi lô 6 con gồm 3 trống và 3 mái) có khối lượng xấp xỉ giá trị trung bình được chọn để mổ khảo sát năng suất thịt theo tiêu chuẩn ngành. Chất lượng thịt được đánh giá qua chỉ số pH cơ ức tại 15 phút (pH15) và 24 giờ bảo quản lạnh ở 4 độ C (pH24) bằng máy đo chuyên dụng cầm tay, kết hợp phương pháp xác định tỷ lệ mất nước bảo quản và mất nước sau chế biến nhiệt ở 80 độ C trong 20 phút. Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học, so sánh giá trị trung bình và phương sai nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực nghiệm kéo dài 16 tuần cho thấy việc bổ sung lúa nảy mầm vào khẩu phần mang lại những chuyển biến tích cực trên các nhóm chỉ tiêu sinh học và kinh tế:

Thứ nhất, tỷ lệ sống của đàn gà ở cả hai lô thí nghiệm và đối chứng đều đạt mức ấn tượng 98,33% xuyên suốt từ 1 ngày tuổi đến 16 tuần tuổi. Điều này khẳng định lúa nảy mầm sạch, chuẩn kỹ thuật hoàn toàn an toàn cho hệ tiêu hóa của gia cầm, không gây tiêu chảy hay các chứng rối loạn chuyển hóa đường ruột.

Thứ hai, tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể đạt mức tương đương giữa hai nghiệm thức. Tại thời điểm kết thúc 16 tuần tuổi, khối lượng bình quân của gà ở lô thí nghiệm đạt 2.148,50 gam/con, trong khi lô đối chứng đạt 2.176,20 gam/con (chênh lệch không đáng kể, dưới 1,3%). Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân của lô thí nghiệm duy trì ổn định ở mức 18,85 gam/con/ngày, bám sát lô đối chứng là 19,10 gam/con/ngày.

Thứ ba, năng suất và phẩm chất thân thịt được cải thiện rõ nét. Tỷ lệ thân thịt của lô bổ sung lúa mầm đạt 72,45%, trong đó tổng tỷ lệ thịt đùi và thịt lườn chiếm trên 48,60% khối lượng thân thịt. Đặc biệt, tỷ lệ mỡ bụng ở gà ăn lúa mầm giảm xuống còn 1,12%, thấp hơn khoảng 18,5% so với mức 1,38% của gà ăn cám công nghiệp hoàn toàn.

Thứ tư, hiệu quả sử dụng thức ăn và bài toán chi phí ghi nhận lợi ích vượt bậc. Mặc dù lượng thu nhận thức ăn tính theo vật chất tươi ở lô thí nghiệm cao hơn do độ ẩm của lúa mầm, nhưng chi phí thức ăn trực tiếp trên mỗi kg tăng trọng giảm từ 18% đến 22%. Ước tính mỗi con gà xuất chuồng khi sử dụng 50% lúa mầm giúp người nuôi tiết kiệm từ 12.500 đồng đến 14.800 đồng chi phí thức ăn tinh.

Thảo luận kết quả

Khi mô hình hóa dữ liệu tăng trưởng theo thời gian dưới dạng biểu đồ đường cong sinh trưởng sigmoid, tốc độ tích lũy khối lượng của gà MD1.BĐ ở cả hai nghiệm thức thể hiện sự tương đồng gần như tuyệt đối từ tuần thứ 8 đến tuần thứ 14, trước khi đi vào pha tiệm cận ổn định ở tuần thứ 16. Kết quả này phản ánh rằng việc thay thế 50% thức ăn công nghiệp bằng lúa nảy mầm không hề làm suy giảm năng lượng trao đổi hay thiếu hụt acid amin thiết yếu cho sự phát triển của cơ thể.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở hoạt tính sinh học vượt trội của hạt lúa mầm. Quá trình ủ mầm ngắn ngày (0,5 cm đến 1,0 cm) đã chuyển hóa nguồn tinh bột thô khó tiêu thành đường maltose và glucose dễ hấp thu, đồng thời nâng cao hoạt tính enzyme protease nội sinh. Gia cầm thuộc nhóm dạ dày đơn với manh tràng ngắn; do đó, các dưỡng chất tiền tiêu hóa từ lúa mầm giúp hệ vi nhung mao ruột hấp thu triệt để dưỡng chất mà không tốn nhiều năng lượng tiêu tốn cho quá trình phân giải nội sinh.

Về chất lượng quầy thịt, các thông số thực nghiệm thể hiện qua bảng phân tích hóa lý cho thấy giá trị pH24 của cơ ức đạt mức tối ưu từ 5,65 đến 5,78, hạn chế tối đa hiện tượng thịt nhạt màu - mất dịch (PSE) hoặc thịt sẫm màu - khô cứng (DFD). Tỷ lệ mất nước sau bảo quản lạnh 24 giờ ở lô thí nghiệm chỉ ở mức 7,15% (so với 7,85% ở lô đối chứng) và tỷ lệ mất nước sau chế biến nhiệt duy trì ở mức 21,30%, giúp thớ thịt giữ trọn vị ngọt tự nhiên, độ săn chắc và dai giòn vừa phải. Điều này hoàn toàn phù hợp với thị hiếu ưa chuộng thịt gà thả vườn của người tiêu dùng Việt Nam, tạo lợi thế cạnh tranh thương phẩm vượt trội so với thịt gà công nghiệp nuôi nhốt chuồng kín.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng khoa học thu được từ đề tài, bốn nhóm giải pháp thực tiễn được đề xuất nhằm tối ưu hóa quy trình chăn nuôi gà thịt chất lượng cao:

  • Chuẩn hóa quy trình ủ lúa mầm quy mô nông hộ: Người chăn nuôi cần sử dụng các giống lúa thuần mới thu hoạch, tiến hành đãi sạch hạt lép, ngâm ngập nước sạch từ 24 đến 36 giờ (thay nước chua sau mỗi 10 đến 12 giờ) và ủ kín trong bóng tối từ 2 đến 3 ngày. Cần kiểm soát chặt chẽ để thu hoạch ngay khi mầm nhú đạt chiều dài từ 0,5 cm đến 1,0 cm, tránh để mầm phát triển quá dài làm tiêu hao lượng đường và protein dự trữ quý giá.

  • Áp dụng khẩu phần phối trộn theo tỷ lệ 1:1 từ tuần tuổi thứ 8: Thiết lập chế độ cho ăn linh hoạt từ 8 tuần tuổi đến khi xuất chuồng (16 tuần tuổi) với tỷ lệ 50% thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và 50% lúa nảy mầm. Nên bố trí hai máng ăn riêng biệt để tránh ẩm ướt làm hư hỏng cám viên công nghiệp, đặt mục tiêu cắt giảm ít nhất 20% tổng chi phí thức ăn tinh cho toàn chu kỳ chăn nuôi.

  • Triển khai mô hình bán chăn thả kết hợp an toàn sinh học: Duy trì mật độ chuồng nuôi phù hợp từ 8 đến 10 con/m2 trong chuồng kết hợp diện tích sân vườn tối thiểu 1,5 m2 đến 2,0 m2/con để gà vận động. Đảm bảo lịch tiêm phòng vaccine đầy đủ trong 6 tuần đầu đời nhằm giữ vững tỷ lệ nuôi sống trên 98%.

  • Chuyển giao công nghệ và nhân rộng mô hình: Các cơ quan khuyến nông địa phương phối hợp cùng các hợp tác xã và doanh nghiệp cung ứng con giống tổ chức tập huấn kỹ thuật chế biến thức ăn sinh học trong thời gian 6 đến 12 tháng tới, hướng đến xây dựng chuỗi liên kết sản xuất gà thịt thả vườn đạt tiêu chuẩn VietGAP giai đoạn 2023-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn phong phú, đặc biệt phù hợp với bốn nhóm đối tượng sau:

  • Nông hộ và chủ trang trại chăn nuôi gia cầm: Cung cấp giải pháp kỹ thuật tự phối trộn thức ăn tại chỗ đơn giản, dễ làm, giúp chủ động nguồn nguyên liệu, giảm chi phí chăn nuôi từ 12.000 đến 15.000 đồng/con và gia tăng biên lợi nhuận trực tiếp.

  • Cán bộ kỹ thuật và chuyên viên khuyến nông: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang kỹ thuật chuyển giao công nghệ chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, phát triển các mô hình kinh tế nông nghiệp tuần hoàn thích ứng với biến động giá vật tư đầu vào.

  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Sinh học, Chăn nuôi - Thú y: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp bố trí thí nghiệm dinh dưỡng, quy trình đánh giá năng suất thân thịt, kỹ thuật đo lường chỉ tiêu hóa lý và sinh lý cơ thịt gia cầm.

  • Các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh thực phẩm sạch: Nắm bắt cơ sở khoa học về chất lượng quầy thịt, độ săn chắc và tỷ lệ mỡ bụng thấp của gà ăn thức ăn sinh học để xây dựng thương hiệu thịt gà thảo mộc, gà ta thả vườn cao cấp phục vụ phân khúc tiêu dùng chất lượng cao.

Câu hỏi thường gặp

Bổ sung lúa nảy mầm từ tuần thứ mấy là đạt hiệu quả dinh dưỡng cao nhất? Nên bắt đầu bổ sung lúa nảy mầm từ tuần tuổi thứ 8 khi hệ tiêu hóa của gà đã hoàn thiện men phân giải và bước vào giai đoạn tăng trưởng cơ bắp mạnh mẽ. Ở giai đoạn 1 đến 7 tuần tuổi, gà con cần nguồn thức ăn công nghiệp đậm đặc để phát triển khung xương và hoàn thiện bộ lông.

Chiều dài mầm lúa bao nhiêu là tối ưu nhất cho gà thịt? Chiều dài mầm lý tưởng nhất là từ 0,5 cm đến 1,0 cm (thường đạt được sau 48 đến 72 giờ ủ). Khi mầm ở kích thước này, hoạt tính enzyme protease và hàm lượng acid amin hòa tan đạt đỉnh cao nhất, vỏ trấu mềm dễ tiêu hóa và không bị hao hụt chất hữu cơ như khi mầm mọc quá dài.

Việc thay 50% thức ăn công nghiệp bằng lúa mầm có làm kéo dài thời gian nuôi không? Không làm kéo dài thời gian xuất chuồng. Khối lượng xuất bán lúc 16 tuần tuổi của lô ăn lúa mầm đạt bình quân khoảng 2,15 kg/con, chỉ chênh lệch khoảng 1,3% so với lô ăn cám công nghiệp thuần túy, hoàn toàn đạt chuẩn thể trọng thương phẩm theo tiêu chuẩn giống của Công ty Minh Dư.

Thịt gà ăn lúa nảy mầm có sự khác biệt gì về mặt cảm quan và chất lượng? Thịt gà nuôi bằng lúa mầm có tỷ lệ mỡ bụng giảm khoảng 18,5%, thớ thịt săn chắc, giữ nước tốt sau chế biến (tỷ lệ mất nước chỉ 21,30%) và không bị mùi tanh cám công nghiệp. Khi luộc hoặc chế biến, thịt giữ được độ ngọt đậm đà, thơm giòn đặc trưng của gà ta truyền thống.

Chi phí đầu tư làm lúa nảy mầm có phức tạp và tốn kém không? Quy trình ủ lúa mầm vô cùng đơn giản, chỉ cần tận dụng nguồn lúa hạt sẵn có tại địa phương, ngâm nước sạch và ủ trong thùng xốp hoặc khay nhựa có lỗ thoát nước. Chi phí sản xuất 1 kg lúa mầm rẻ hơn từ 35% đến 45% so với mua cám hỗn hợp công nghiệp cùng khối lượng.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả vượt trội của việc bổ sung 50% lúa nảy mầm vào khẩu phần ăn cho giống gà ta chọn lọc MD1.BĐ giai đoạn 8 đến 16 tuần tuổi.
  • Đàn gà đạt tỷ lệ sống rất cao 98,33%, thể trọng bình quân xuất chuồng đạt 2.148,50 gam/con, tương đương nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.
  • Năng suất thân thịt đạt 72,45%, tổng tỷ lệ thịt đùi và thịt lườn đạt trên 48,60%, tỷ lệ mỡ bụng giảm 18,5%, chất lượng cơ thịt thơm ngon, săn chắc và giữ trọn độ ẩm tối ưu.
  • Tiết kiệm trực tiếp từ 18% đến 22% chi phí thức ăn giai đoạn vỗ béo, nâng cao lợi nhuận kinh tế từ 12.500 đồng đến 14.800 đồng trên mỗi cá thể gia cầm thương phẩm.
  • Nghiên cứu mở ra hướng đi bền vững cho ngành chăn nuôi gia cầm sinh thái tuần hoàn, chủ động nguồn dinh dưỡng cục bộ và giảm thiểu phát thải môi trường.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa cơ sở khoa học thực nghiệm và quy trình công nghệ ủ mầm ngũ cốc ứng dụng trực tiếp vào chăn nuôi gia cầm nông hộ. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng khảo nghiệm trên các giống gia cầm bản địa khác và tối ưu hóa quy mô ủ mầm tự động hóa trong giai đoạn 2023-2025. Hãy áp dụng ngay kỹ thuật bổ sung lúa nảy mầm vào quy trình chăn nuôi trang trại để tối ưu hóa chi phí sản xuất và nâng tầm giá trị thương phẩm đàn gia cầm của bạn.