MỞ ĐẦU Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhu cầu của con người về thực phẩm ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn. Ngoài tính ngon miệng, vấn đề thành phần dinh dưỡng và sự phân bố hợp lý của chúng trong thực phẩm đang được đặc biệt chú trọng. Ngoài ra, yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là một tiêu chí bắt buộc trong lựa chọn thực phẩm. Trứng gia cầm có thể đáp ứng được yêu cầu đó.
Trứng gia cầm là một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe. Protein của trứng không những chứa đầy đủ các axit amin không thay thế mà tỉ lệ của chúng rất cân đối. Hàm lượng lipit trong trứng cao đặc biệt là trong lòng đỏ của trứng, chúng thường ở dạng nhũ hóa, dễ tiêu hóa và có hàm lượng axit béo không no rất cao. Hàm lượng khoáng cao, đặc biệt là Fe và P.
Hàm lượng vitamin cao như vitamin A, D, B1…. Trứng gia cầm được sử dụng làm thực phẩm hàng ngày ở hầu hết các quốc gia, tôn giáo và tín ngưỡng trên thế giới. Hiện nay, trứng gia cầm sản xuất ra không những dùng cho chế biến thực phẩm mà còn được dùng cho rất nhiều ngành khác như sản xuất mỹ phẩm, vác-xin. Mặc dù có hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao nhưng trứng gia cầm lại rất khó bảo quản vì vỏ trứng ở trạng thái xốp, và có nhiều lỗ khí nên khả năng bốc hơi nước rất cao.
Trứng gà, trứng vịt sau khi đẻ vào mùa nóng, chỉ sau 5 - 7 ngày đã có hiện tượng hư hỏng. Trứng muốn bảo quản được lâu ngày phải có kho mát, nhiệt độ thấp hơn 100C. Ở Việt Nam, do khí hậu nóng ẩm, hiện trạng vệ sinh môi trường chưa tốt, trứng gà, vịt thương phẩm lại chưa có biện pháp xử lý, bảo quản khi bán ở chợ, cửa hàng nên chất lượng trứng bị giảm đi là điều không tránh khỏi, vì vậy việc nghiên cứu sự biến đổi chất lượng của trứng theo thời gian và xác định thời gian tối đa sau khi đẻ đến khi trứng bị 1 Luận văn thạc sỹ Lại Mạnh Toàn hỏng không sử dụng được. Từ đó có biện pháp xử lý kịp thời làm giảm thiệt hại kinh tế cho người sản xuất và tiêu dùng là điều cần thiết và cấp bách.
Rất nhiều nước trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về chế biến trứng gia cầm, một phương pháp chế biến được sử dụng từ lâu và phổ biến ở các nước châu Á là chế biến trứng muối. Chế biến trứng muối không những có thể kéo dài thời gian sử dụng đến 5 - 6 tháng mà còn cho chúng ta 1 sản phẩm thực phẩm ngon với hương vị béo, ngậy, bùi. Có nhiều phương pháp chế biến trứng muối khác nhau nên việc khảo nghiệm để chọn lọc một số phương pháp thích hợp, đơn giản, hạ giá thành và phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng là điều cần thiết chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đến chất lượng của trứng thương phẩm và quy trình công nghệ chế biến trứng muối” • Mục đích của đề tài - Xác định thời gian bảo quản trứng và những biến đổi chất lượng của trứng thương phẩm ở nhiệt độ thường vào mùa hè và mùa đông ở Hà Nội, qua đó, đưa ra những kiến nghị cần thiết trong quá trình bảo quản và lưu thông trứng trên thị trường. - Xác định được hiện trạng chất lượng trứng muối trên thị trường Hà Nội.
- Đưa ra quy trình chế biến sản phẩm trứng muối đơn giản, dễ thực hiện phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và vệ sinh an toàn thực phẩm. 2 Luận văn thạc sỹ Lại Mạnh Toàn Phần 1 TỔNG QUAN 1. Trứng thương phẩm và chất lượng trứng thương phẩm 1. Trứng thương phẩm Trứng thương phẩm là trứng của đàn gia cầm thương phẩm không có trống và trứng của các đàn giống sau khi chọn trứng giống để ấp, còn những quả không đủ tiêu chuẩn (bé quá, to quá, vỏ xấu, hình thù không cân đối…) bị loại ra đưa sang làm trứng thương phẩm [].
Hiện nay trên thị trường, trứng thương phẩm chủ yếu là trứng vịt và trứng gà, ngoài ra còn có trứng ngỗng, trứng chim… 1. Cấu tạo của trứng thương phẩm Trứng gia cầm là tế bào sinh dục phức tạp được biệt hoá rất cao, gồm các phần (tính từ trong ra): lòng đỏ, lòng trắng, màng dưới vỏ, vỏ cứng và có một lớp nhầy (màng mỡ) bao bọc, phủ ngoài vỏ trứng khi được đẻ ra. Tỉ lệ tương đối (%) giữa các thành phần của trứng tuỳ thuộc vào loại gia cầm, mùa vụ, tuổi sinh sản. Thông thường với trứng gà và trứng vịt, lòng đỏ chiếm 32 - 35%, lòng trắng 54 - 58%, vỏ cứng 11 - 14% so với khối lượng trứng.
Sự sai khác phụ thuộc vào loài gia cầm, tuổi đẻ, mùa vụ, chất lượng thức ăn v.v… Tỉ lệ thành phần cấu tạo trứng thay đổi tuỳ thuộc giống, tuổi, chế độ dinh dưỡng…. Quá trình hình thành một quả trứng có thể được tóm tắt như sau: Lòng đỏ được hình thành trong buồng trứng. Sau khi lòng đỏ "trưởng thành", nó sẽ rời khỏi buồng trứng, rồi từ trong miệng phễu ở phần trên của ống dẫn trứng đi vào trong ống dẫn trứng và di chuyển về phía dưới đến chỗ phình to của ống dẫn trứng. Ở đây một lượng lớn abumin được tiết ra, bao bọc bên ngoài lòng đỏ, hình thành một lớp lòng trắng dày trong suốt.
Sau khoảng 2 3 Luận văn thạc sỹ Lại Mạnh Toàn đến 3 giờ, từ chỗ phình to của ống dẫn trứng, trứng bị ép vào phần ống hẹp, và tại đây hình thành màng vỏ. Sau một giờ, trứng lại bị ép vào tử cung và chính tại đây vỏ trứng và cả quả trứng hoàn chỉnh được hình thành. Trong quá trình hình thành, quả trứng này phải nằm lại trong tử cung từ 18 đến 20 giờ, rồi sau đó cơ tử cung co bóp, đẩy trứng qua xoang bài tiết sinh dục rồi ra ngoài cơ thể. Màng trong vỏ 3.
Màng ngoài lòng trắng 4, 13. Lòng trắng loãng ngoài 6. Lòng trắng đặc 7. Màng noãn hoàng 9.
Lòng trắng loãng trong Hình 1.1: Cấu tạo trứng gia cầm 14. Buồng khí Trứng thường có một đầu to một đầu nhỏ là do trong quá trình hình thành bị đầu trên của ống dẫn trứng dồn ép từng đoạn một đi xuống. Đầu nhỏ của quả trứng hướng xuống đoạn dưới của ống dẫn, do đó vừa đi nó vừa chèn vào ống dẫn trứng, làm cho ống này mở rộng để trứng dễ di chuyển xuống tử cung. Lực dồn ép của ống dẫn trứng vào quả trứng làm cho đầu nhỏ hình 4 Luận văn thạc sỹ Lại Mạnh Toàn thành rồi định hình dần.
Khi trứng vào đến tử cung, đầu nhỏ hướng về phía dưới và đầu to hướng lên trên.1 Vỏ trứng - Màng nhầy (màng mỡ): Bên ngoài cùng của vỏ trứng được phủ một lớp màng nhầy (màng mỡ) được hình thành trong thời gian trứng nằm ở âm đạo, trước khi đẻ ra. Màng nhầy (màng mỡ) có cấu tạo từ protein (sợi muxin) có những hạt mỡ nhỏ li ti., độ dày của màng nhầy 0,05 - 0,01mm. Màng nhầy có tác dụng: + Giảm ma sát khi đẻ. + Hạn chế sự bốc hơi nước của trứng.
+ Hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn từ bên ngoài vào bên trong trứng. Thời gian bảo quản trứng càng lâu độ bóng và tác dụng của màng mỡ càng giảm đi. - Vỏ cứng (vỏ đá vôi): Trong tử cung của gia cầm có tuyến tiết ra một lớp dịch nhờn và trắng, dịch này tạo ra từ cacbonat canxi và các bó protein. Chất này nhanh chóng cứng lại tạo thành lớp vỏ bao quanh trứng.
Thời gian tạo vỏ là một quá trình kéo dài từ 9 - 12 giờ. Vỏ cứng của trứng rắn, dễ vỡ, có tác dụng bảo vệ các thành phần bên trong của trứng khỏi các tác động bên ngoài như nhiệt độ, áp suất, đồng thời là nguồn cung cấp canxi, phốt pho cho phôi để tạo xương. Để hình thành xương phôi nhận 75% canxi từ vỏ, còn lại 25% lấy từ lòng trắng. Vỏ cứng được tạo thành bởi 93,5% muối canxi (cacbonat canxi); 4,09% protein (chủ yếu là collagen và keratin); 0,14% chất béo; 1,2% nước; 0,5% oxit magiê; 0,25% photpho; 1,2% dioxit silic; 0,03% natri; 0,08% kali và các chất sắt, nhôm.
Trên bề mặt của vỏ có các lỗ khí có kích thước rất nhỏ (khoảng 7000 - 7600). Đường kính lỗ khí khoảng 4 - 42µm; trung bình khoảng 18 - 24 µm. Lỗ khí có tác dụng giúp cho hoạt động hô hấp của phôi. 5 Luận văn thạc sỹ Lại Mạnh Toàn Độ dày vỏ cứng của từng loại gia cầm không giống nhau.
Vỏ trứng gà có độ dày từ 0,2 - 0,4mm, đầu nhọn dày hơn đầu tù. Trứng có vỏ dày chịu lực cao hơn trứng có vỏ mỏng. - Màng dưới vỏ trứng gồm 2 lớp dính sát vào nhau, được cấu tạo từ sợi keratin đan chéo vào nhau, protein, chất keo dính chứa nhiều lưu huỳnh. Một lớp màng dính sát vào vỏ còn lớp bên trong dính sát vào lớp lòng trắng ngoài, độ dày của hai lớp màng này khoảng 0,057 - 0,069mm.
Màng dưới vỏ bao bọc lấy lòng trắng. Khi trứng mới đẻ, màng vỏ và màng ngoài lòng trắng dính sát vào nhau. Sau một thời gian nhiệt độ trong trứng giảm dần, đặc biệt do hiện tượng thoát hơi nước và khí CO2 , thể tích của ruột trứng thu hẹp lại, không khí sẽ xâm nhập vào trong trứng làm cho ở phía đầu tù hai lớp màng này tách ra khỏi nhau và chúng hình thành buồng khí, kích thước của buồng khí sẽ tăng dần theo thời gian bảo quản. Trứng để càng lâu thì buồng khí càng lớn, sự thoát hơi nước càng lớn tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh xâm nhập, do vậy trứng sẽ nhanh chóng bị hỏng, giảm chất lượng.
Buồng khí có chức năng cung cấp oxy cho phôi trong giai đoạn đầu của sự hô hấp bằng phổi. Trong quá trình bảo quản trứng, buồng khí rộng ra do sự bốc hơi nước của trứng qua lỗ khí. Lòng trắng trứng Lòng trắng trứng bao bọc bên ngoài lòng đỏ. Lòng trắng gồm nhiều lớp có độ quánh khác nhau, lớp ngoài cùng loãng, đến lớp giữa đặc và trong cùng là một lớp loãng, lớp thứ 4 gọi là lớp lòng trắng đặc bên trong.
Tỉ lệ các lớp lòng trắng như sau: + Lòng trắng loãng phía ngoài 23,2% + Lòng trắng đặc giữa 57,3% + Lòng trắng loãng trong 10,8% + Lòng trắng đặc trong 7,2% + Dây chằng 1,5% 6 Luận văn thạc sỹ Lại Mạnh Toàn Lòng trắng đặc có tác dụng ngăn không cho lòng đỏ dính vào vỏ trứng bằng cách hạn chế sự di động của lòng đỏ.