Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu 1. Giới thiệu về giống gà Lạc Thủy Phân loài gà nuôi Gallus gallus domestica Về nguồn gốc, gà nuôi châu Á thuộc chủng gà rừng Gallus gallus, được chọn lọc hoặc phối hợp theo hướng khác nhau từ ba loại gà là: Gallus gallus murghi vùng ven Ấn Độ, Gallus gallus miền Mianma và Gallus gallus bankiva rải rác khắp vùng Đông Nam Á[32]. Chính nguồn gốc đa dạng đã tạo nên cho các giống gà địa phương một tiềm năng di truyền phong phú biểu hiện ra hình dạng, sắc lông, dạng mào, dái tai, dạng đuôi, kết cấu giữa cổ ngực,… khác nhau[32], [39] Về vị trí phân loại học: Phân loài: Gà nuôi (Gallus gallus domestica) Loài (species): Gà (Gallus gallus) Giống (genus): Gà (Gallus ) Họ (familia): Trĩ (Fasianidae) Bộ (ordo): Gà (Galliformes) Lớp (class): Chim (Aves) (Theo: Đào Đức Long, (2004); Nguyễn Thị Mai và cs, (2009)) Giống gà Lạc Thủy là một giống gà địa phương được phát hiện tại huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình vào năm 2012[10], [53].
Giống gà này được Viện chăn nuôi Quốc gia nhân thuần và bảo tồn thành công năm 2014, đến năm 2016 được đưa vào sản xuất đại trà[48] Gà Lạc Thủy là một giống gà bản địa của Việt Nam, đây được coi là một giống gà đặc hữu và quý hiếm có nguồn gốc từ huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình và được nuôi từ khá lâu đời, chúng được đưa vào đối tượng để bảo tồn nguồn gen. Sau khi phát hiện đây là giống gà quý, các nhà khoa học 5 thuộc Viện Nghiên cứu và Chăn nuôi Việt Nam đã quyết định đặt tên cho giống gà này theo địa danh Lạc Thủy và đề xuất đề tài khoa học bảo tồn, chọn lọc nhân giống, đây là giống gà ri bản địa có từ lâu đời tại xã Phú Thành huyện Lạc Thuỷ và xã An Phú huyện Mỹ Đức, Hà Nội, đang được nuôi phổ biến ở huyện Lạc Thủy. Đây là một trong những giống gà nội thuần nhất, đồng nhất về ngoại hình và có nguồn gen đặc hữu còn tiềm ẩn. Chúng là giống gà có mã đẹp, chất lượng thịt thơm ngon, dễ nuôi, được thị trường ưa chuộng, cho hiệu quả kinh tế cao, gà Lạc Thủy có khả năng chống chịu bệnh, thời tiết khí hậu, nhất là vào mùa lạnh khá tốt, dễ nuôi, lớn nhanh.
Đặc điểm ngoại hình Gà con 1 ngày tuổi có bộ lông đồng nhất màu trắng ngà, da vàng, mỏ và da chân màu vàng, tốc độ mọc lông nhanh, chỉ sau 1 tuần tuổi đã mọc hết lông cánh, sau 4 tuần tuổi có thể phân biệt trống, mái qua đặc điểm ngoại hình. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của giống gà này, mà không giống gà nào khác có được. Khi 4 tuần tuổi, con mái có lông trắng, hồng nhạt, con trống lông đã bắt đầu ngả màu đỏ tía. Gà Lạc Thủy trước 4 tuần tuổi có bộ lông trắng hồng, chưa phân biệt trống, mái.
Khi trưởng thành con mái có lông màu lá chuối khô, hơi giống với gà Mía, nhưng con trống thì hoàn toàn khác, rất đẹp với bộ lông màu mận chín, đỏ tím, da chân vàng, mào đơn, dái tai dài. Gà trống Lạc Thủy có đặc điểm hình dáng nổi bật với mào đỏ, dái tai dài và bộ lông màu tía. Không chỉ có ngoại hình đẹp mà chất lượng thịt cũng rất cao. Nhìn chung, khi trưởng thành quần thể gà có màu lông giống nhau.
Con mái màu lá chuối khô, con trống có màu đỏ mận chín.3 Một số đặc điểm sinh học của giống gà Lạc Thủy Theo Trần Thanh Vân và cs (2015), Vũ Ngọc Sơn và cs (2015) giống gà Lạc Thủy có các đặc điểm sinh học điển hình sau: 6 Khối lượng gà sơ sinh trung bình là 32,90g, ở thời điểm 5 tuần tuổi khối lượng trung bình đạt 258,34g, tăng gấp 7,8 lần so với mới nở. Khối lượng và chiều đo cơ thể giống gà Lạc Thủy ở 20 tuần tuổi con trống đạt trung bình 1910 g/con; vòng ngực 29,17 cm, dài lườn 18,27 cm, dài lưng 23,17 cm, cao chân 10,28 cm, dài đùi 15,3 cm, vòng ống chân 5,47 cm; gà mái nặng trung bình 1.606,7 gam/con; vòng ngực 27,8 cm, dài lườn 15,4 cm, dài lưng 17,6 cm, cao chân 8,33 cm, dài đùi 12,88 cm, vòng ống chân 4,4 cm. Khái quát điều kiện tự nhiên, dân số vùng nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Thị xã An Khê nằm ở phía Đông của tỉnh Gia Lai, có tọa độ địa lý: 108o38’ – 108o47’ Kinh độ Đông; 13o47’15’’ – 13o07’ Vĩ độ Bắc; Phía Đông giáp: Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; Phía Bắc giáp: Huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai; Phía Tây và phía Nam giáp: Huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai[67].
Đặc điểm địa hình - Phía Đông và Nam thị xã An Khê là vùng núi non hiểm trở có độ cao từ 410 - 900m so với mực nước biển. - Phía Tây, phía Bắc và trung tâm thị xã An Khê thuộc vùng núi tương đối bằng phẳng có độ cao từ 400 - 500m so với mực nước biển[67]. Đặc điểm khí hậu Thị xã An Khê nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn trên bậc thềm chuyển tiếp giữa vùng Cao nguyên và Duyên hải Trung bộ, nên khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Cao nguyên, mùa mưa thường đến và kết thúc muộn hơn bên sườn Tây Trường Sơn từ một đến hai tháng. - Nhiệt độ: Trung bình hàng năm: 23,6oC, trong đó: Cao nhất từ 27,9oC - 40,8oC và thấp nhất từ 8,5oC - 16,5oC.
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.225mm, trong đó: Cao 7 nhất từ 1.565mm và thấp nhất từ 681 - 794mm. Mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 8,9,10. Tuy nhiên, do đặc thù là bậc thềm chuyển tiếp giữa vùng Cao nguyên và Duyên hải Nam Trung bộ, nên tại An Khê thường có mưa giông từ tháng 4 - 7 (do ảnh hưởng của khí hậu Cao nguyên). Chính vì vậy, tổng số ngày mưa trong năm khoảng 150 ngày, đây là một trong những lợi thế trong phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Ẩm độ không khí trung bình: 80-81,5%, trong đó: Cao nhất là 94% và thấp nhất là 60%. - Hướng gió: Hướng gió thịnh hành theo hướng Đông - Bắc: Từ tháng 5 đến tháng 10; theo hướng Tây - Nam: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Tốc độ gió thịnh hành 3,5m/s, cao nhất có thể lên đến 20m/s; - Trong năm có hai mùa: Mùa mưa từ tháng 06 đến tháng 11, có khi kéo dài đến tháng 12. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 05 năm sau, khô nhất vào các tháng 02 và 03[67].
Dân số và đặc điểm dân số Theo thống kê của thị xã, dân số ở khu vực thành thị chiếm khoảng 55% và khu vực nông thôn chiếm 45% so với tổng dân số của thị xã. Dân số trong độ tuổi lao động chiếm trên 53% so với tổng dân số. Trong đó, trên 65% tham gia vào sản xuất nông, lâm nghiệp, đây chính là lực lượng lao động quan trọng trong phát triển sản xuất. Số nhân khẩu bình quân/hộ của thị xã An Khê là 5 người/hộ.
Như vậy, so với diện tích bình quân đầu người khoảng 3.000m2, lực lượng lao động/hộ trong sản xuất nông nghiệp ở thời điểm hiện nay cũng là một lợi thế[66]. Cơ sở khoa học 1. Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa , là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và 8 toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước. Qua đó ta có thể nói sinh trưởng như là kết quả của sự tác động tương hỗ của các hệ thống tổ chức và chức năng của cơ thể.
Sinh trưởng là tổng thể của các quá trình xảy ra đồng thời của việc tăng lên về mặt số lượng, thể tích bề mặt và kích thước, khối lượng của từng phần cũng như toàn bộ cơ thể con vật. Quá trình sinh trưởng trước hết là do kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích của tế bào tạo nên sự sống. Như vậy sự sinh trưởng của sinh vật phải thông qua 3 quá trình: - Phân chia tế bào bằng hình thức nguyên nhiễm để tăng số lượng tế bào. - Tăng thể tích của tế bào bằng quá trình sinh tổng hợp các chất trong tế bào, đặc biệt là quá trình sinh tổng hợp protein xảy ra tại ribosome.
- Tăng thể tích giữa các tế bào bằng cách tăng cường tổng hợp các chất gian bào. Cơ sở của quá trin ̀ h sinh trưởng gồm hai quá trình chính: tăng kích thước và khối lượng tế bào và tăng số lượng tế bào, trong đó phầ n lớn là do sự tăng kích thước và khối lượng của tế bào, vì nếu chỉ có sinh sản mà các tế bào con không lớn dần lên, không tăng dầ n khố i lươ ̣ng thì không thể tăng khố i lươ ̣ng của toàn cơ thể. Sự phát triển của cơ thể sống là ở chỗ tăng lên về khối lượng của các phần hoạt động trong cơ thể, từ đó mà năng lượng tự do trong cơ thể tăng lên. Sự phát triển được thực hiện qua việc tăng lên các chiều, sự sinh sản của tế bào và các chất khác giữa các tế bào.
Quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể đô ̣ng vâ ̣t là kết quả của diễn biến sự trao đổi chất bên trong cơ thể trên cơ sở dinh dưỡng được cung cấ p bởi thức ăn. Từ quá trình trao đổi chất mà tế bào có thể sinh sôi nảy nở, chuyể n hóa và hình thành các chất mới, đồ ng thời các chất giữa các tế bào hình thành tăng thêm cả về số lượng và khố i 9 lượng. Đây là cơ sở của sự sinh trưởng và phát triể n của cơ thể đô ̣ng vâ ̣t. Sự sinh trưởng của cơ thể là tăng thể tích, đây không phải là phát triển và phát dục.
Ðây cũng không phải là tăng khối lượng, mặc dù tăng khối lượng là một đặc trưng của sinh trưởng. Sinh trưởng tức là tăng các chiều do hình thành các chất mới qua sự tổng hợp của plasma - tức là nguồn nguyên liệu của đồng hóa - hoặc sự sinh trưởng cũng có thể thực hiện được qua sự hấp thu. Sự tăng lên này có thể nhất thời hoặc cũng có thể mãi mãi[23]. Như vâ ̣y, có thể khẳng định về mặt sinh học sự sinh trưởng được xem như là một sự gia tăng tổng hợp protein, vì vậy khi nghiên cứu về chỉ tiêu sinh trưởng các nhà khoa ho ̣c thường tìm hiể u việc tăng khố i lượng, lấ y khối lượng làm chỉ tiêu nghiên cứu.
Tăng trưởng thực sự là các tế bào mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và kích thước các chiều đo.