Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu về ảnh hưởng của thiên tai và dịch bệnh đến CCVL ở một số quốc gia 9 Chương 3: Cơ sở lý thuyết về CCVL và các nhân tố ảnh hưởng đến CCVL ở một số quốc gia Chương 4: Phương pháp, mô hình và kết quả nghiên cứu tác động của thiên tai và dịch bệnh đến CCVL ở một số quốc gia Chương 5: Đề xuất chính sách, giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của thiên tai và dịch bệnh đến CCVL ở một số quốc gia 10 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN TAI VÀ DỊCH BỆNH ĐẾN CCVL Ở MỘT SỐ QUỐC GIA 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CCVL 2. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của thiên tai đến CCVL Gassebner, M. Theo một ước tính thận trọng, một thảm họa bổ sung làm giảm trung bình NK 0,2% và XK giảm 0,1%.
Bất chấp khối lượng thương mại song phương vẫn tồn tại rõ ràng, chúng tôi thấy rằng động lực quyết định tác động của các sự kiện thảm khốc là mức độ dân chủ và quy mô địa lý của quốc gia bị ảnh hưởng. Một quốc gia càng kém dân chủ và càng nhỏ thì tổn thất do thảm họa càng lớn. Ở các chế độ chuyên chế, XK và NK đều giảm đáng kể. Nếu Togo gặp phải một thảm họa lớn vào năm 2000, nước này sẽ mất 6,2% lượng NK và 3,7% lượng XK.
Trong khi XK của các nước dân chủ bị giảm giống nhau thì NK lại tăng. METI, Japanese Ministry of Economy, Trade and Industry (2012) nghiên cứu rằng lũ lụt đã tác động đáng kể đến thương mại tại Thái Lan, bên cạnh việc làm suy giảm mức tiêu dùng trong nước. XK tăng trưởng âm so với năm trước trong ba tháng liên tiếp từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 1 năm 2012 do sự sụt giảm về lượng XK của các sản phẩm công nghiệp chính bị ảnh hưởng chủ yếu bởi lũ lụt và suy thoái kinh tế toàn cầu. Mặt khác, NK không giảm nhiều do lượng hàng tăng NK các sản phẩm tiêu dùng và máy móc vận tải, v., phản ánh sự trì trệ trong nước sản xuất và do lượng NK máy móc tăng lên, phản ánh sự tái thiết nhu cầu trong nửa cuối thời kỳ.
Như vậy, NK không ghi nhận mức tăng trưởng âm lớn, kết quả là CCTM duy trì ở mức âm 4 tháng liên tiếp từ tháng 10/2011 đến tháng 1/2012, dẫn đến sự suy giảm trong XK ròng trong GDP 11 Hình 1: Xuất nhập khẩu và CCTM của Thái Lan và xu hướng trước và sau lũ lụt Qua các bài nghiên cứu trên có thể thấy thiên tai có ảnh hưởng tiêu cực đến xuất nhập khẩu từ đó ảnh hưởng đến CCTM và đặc biệt CCTM lại là thành phần chính của cán cân vãng lai. Nhóm tác giả hoàn toàn đồng tình với kết quả nghiên cứu trên và cho thấy thiên tai có tác động ngược chiều đến cán cân vãng lai. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch bệnh đến CCVL Theo báo Bộ Tài chính Việt Nam, đại dịch khiến cho các hoạt động du lịch, di chuyển giảm mạnh điều này tác động tiêu cực đến CCVL của các quốc gia có nguồn thu nhập phụ thuộc phần lớn vào du lịch, đặc biệt là những những nền kinh tế nhỏ hơn. Ngoài ra, sự sụt giảm trong nhu cầu sử dụng dầu mỏ khiến giá loại năng lượng này giảm đột ngột trong khoảng thời gian ngắn.
Mặc dù giá dầu đã có sự phục hồi trong nửa cuối năm 2020, các quốc gia với nền kinh tế chính là XK dầu mỏ như Saudi Arabia và Nga chịu sự giảm mạnh trong năm này. Không chỉ thế mà nhu cầu với các loại vật tư y tế quan trọng trong đại dịch và sự thay đổi trong tiêu dùng hộ gia đình khi chuyển từ dịch vụ sang hàng tiêu dùng tăng cao. Từ đó mỗi quốc gia ghi nhận mức độ thâm hụt TKVL hoặc thặng dư TKVL lớn. 12 Theo Bank of Finland bulletin articles “Current account will remain in deficit”, TKVL biến động mạnh trong thời gian gần đây do đại dịch COVID-19.
Sự biến động của giá năng lượng ảnh hưởng đến CCTM và thâm hụt TKVL thực sự đã thu hẹp nhanh chóng trong năm nay nhờ CCTM được củng cố. TKVL của Phần Lan đã rơi vào tình trạng thâm hụt từ đầu những năm 2010, khi XK kỹ thuật điện và điện tử giảm, làm suy yếu CCTM. Việc xem xét kỹ hơn tài khoản dịch vụ và CCTM cho thấy TKVL cũng có khả năng duy trì ở mức âm trong dài hạn bất chấp sự củng cố gần đây của CCTM. Iyke (2020b) khẳng định rằng sự bùng nổ của COVID-19 có liên quan đến thông tin có giá trị và có thể được sử dụng một cách hiệu quả để dự đoán lợi nhuận và biến động của TGHĐ.
TGHĐ thay đổi và sự mất giá của tiền tệ có thể có tác động bất lợi đến giá cổ phiếu, dòng vốn vào, thâm hụt TKVL, nghĩa vụ nợ nước ngoài và bất ổn tài chính. Cùng quan điểm với Bộ Tài chính Việt Nam, chúng tôi cho rằng dịch bệnh không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới CCVL mà bên cạnh đó dịch bệnh cũng góp phần thúc đẩy CCVL trong lĩnh vực y tế và có xu hướng chuyển đổi nhu cầu từ dịch vụ sang hàng tiêu dùng. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của TGHĐ đến CCVL Theo lý thuyết kinh tế, TGHĐ có mối quan hệ mật thiết với CCVL. Khi đồng nội tệ mất giá (TGHĐ tăng), hàng hóa XK của quốc gia đó trở nên rẻ hơn đối với các quốc gia khác, dẫn đến tăng XK.
Ngược lại, hàng hóa NK trở nên đắt đỏ hơn, dẫn đến giảm NK. Nhìn chung, sự mất giá đồng nội tệ sẽ cải thiện CCVL. Tuy nhiên, mối quan hệ này không đơn giản và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cầu và cung của hàng hóa dịch vụ, tính đàn hồi của nhu cầu xuất nhập khẩu, sự dịch chuyển của đường cong cung cấp. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để làm rõ mối quan hệ giữa TGHĐ và CCVL.
Nghiên cứu “Exchange rate sensitivity of US trade flows: Evidence from industry data” của Bahmani-Oskooee và Economidou (2005) tập trung vào ảnh hưởng của TGHĐ đến CCVL, với việc sử dụng dữ liệu theo từng ngành công nghiệp. Kết quả cho thấy rằng TGHĐ có tác động mạnh mẽ đến CCVL, với các ngành công nghiệp có độ nhạy cảm cao hơn đối với biến động trong TGHĐ. 13 Trong “Integration, cointegration and the forecast consistency of structural exchange rate models”, Cheung và Chinn (1998) đã phân tích mối quan hệ giữa TGHĐ và CCVL, đặc biệt là qua các mô hình kết cấu. Kết quả cho thấy rằng TGHĐ có tác động đáng kể đến CCVL, và việc tích hợp cộng đồng quốc tế có thể tăng cường tác động này.
Sek, Siok Kun và Kapsalyamova, Zhanna (2008) đã điều tra mức độ truyền dịch TGHĐ và biến động của nó đến giá cả trong nước ở bốn quốc gia châu Á với nghiên cứu “Exchange rate pass-through and volatility: Impact on domestic prices in four Asian countries”. Kết quả chỉ ra rằng biến động của TGHĐ có tác động đến CCVL thông qua việc ảnh hưởng đến giá cả trong nước. Nghiên cứu của Chinn và Ito (2006), “What matters for financial development?” đã cho thấy rằng TGHĐ đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định CCVL, đặc biệt là khi kết hợp với các biện pháp kiểm soát vốn khác. Những nghiên cứu trên đã đưa ra những phân tích quan trọng về mối quan hệ giữa TGHĐ và CCVL trong nhiều ngữ cảnh của nhiều quốc gia khác nhau.
Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu và áp dụng lý thuyết vào thực tế là một yêu cầu cấp thiết để hiểu rõ hơn về mối tương quan này, từ đó đưa ra chính sách phù hợp. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của cung tiền đến cán cân vãng lai Cung tiền (M2) là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CCVL (CA) của một quốc gia. Lý thuyết kinh tế dự đoán rằng khi cung tiền tăng, lãi suất trong nước có xu hướng giảm, khuyến khích đầu tư nước ngoài và làm tăng giá trị đồng nội tệ. Đồng nội tệ mạnh hơn khiến hàng hóa XK trở nên đắt đỏ hơn, dẫn đến giảm XK và tăng NK.
Nhu cầu tiêu dùng tăng cao do lượng tiền trong tay người dân tăng cũng góp phần làm giảm CA. Hiệu ứng giá cả cũng tác động tiêu cực đến CA khi giá cả trong nước tăng cao khiến hàng XK mất lợi thế cạnh tranh. Nghiên cứu của Taylor và Taylor (2004), “Reassessing discretionary fiscal policy” đã tập trung vào vai trò của CSTK trong quản lý CCVL. Họ đề xuất rằng việc sử dụng CSTK có thể ảnh hưởng đến CCVL thông qua việc tăng hoặc giảm tỷ lệ tiền tệ trong nền kinh tế.
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng sự điều chỉnh thông qua 14 CSTK có thể tạo ra những biến động đáng kể trong CCVL, đặc biệt là khi sử dụng các biện pháp tăng thuế hoặc chi tiêu công. Trong nghiên cứu “Foundations of international Macroeconomics” của Obstfeld và Rogoff (1996), các tác giả đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến CCVL, trong đó có cung tiền. Họ tìm ra rằng việc điều chỉnh cung tiền có thể tạo ra những biến động lớn trong CCVL, đặc biệt là khi các biện pháp này được thực hiện bất ngờ và không được thị trường kỳ vọng trước. Nghiên cứu này đã cung cấp cái nhìn sâu rộng về cách cung tiền ảnh hưởng đến các yếu tố kinh tế quan trọng, bao gồm CCVL.
Blanchard và Giavazzi (2002) đã tiến hành một nghiên cứu về CCVL trong khu vực euro và ảnh hưởng của các biến động trong cung tiền. Kết quả của họ cho thấy rằng các biến động trong cung tiền có thể tạo ra những tác động lớn đến CCVL, đặc biệt là khi các biện pháp CSTT không được dự đoán trước. Lane và Milesi-Ferretti (2007) đã nghiên cứu về tác động của các yếu tố tài chính, bao gồm cung tiền, đến CCVL. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng sự thay đổi trong cung tiền có thể tạo ra những biến động lớn trong CCVL, đặc biệt là khi các CSTT không đồng nhất giữa các quốc gia.
Các nghiên cứu trên đây đều đã chỉ ra rằng cung tiền đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến CCVL. Sự điều chỉnh trong cung tiền có thể tạo ra những biến động đáng kể trong CCVL. Khoảng trống nghiên cứu Nhìn vào những nghiên cứu trước đó, chúng tôi tìm thấy những khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở phát triển cho bài đề tài này.