Mở đầu (4 trang); Tổng quan (23 trang); Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (10 trang); Kết quả và thảo luận (13 trang); Kết luận và kiến nghị (2 trang); Tài liệu tham khảo (10 trang); Phụ lục (1 trang). TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nấm thượng hoàng Chi Phellinus thuộc họ Hymenochaetaceae phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi và Đông Á (đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc), ở Việt Nam có khoảng 26 loài. Chúng được sử dụng để phòng và chữa rối loạn chức năng tiêu hóa, tiêu chảy, xuất huyết, dị ứng, bệnh tiểu đường và ung thư [78].
Trong các nghiên cứu nhằm sử dụng nấm Phellinus vào phương pháp điều trị trong Tây y, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu hoạt tính sinh học của các dịch chiết từ quả thể (hoặc sợi nấm) của nấm thượng hoàng in vitro và in vivo [78]. Nhiều báo cáo khoa học đã tập trung vào hoạt tính sinh học của các loài nấm này [58, 69] trong khi các hợp chất có hoạt tính sinh học, chức năng chống ung thư, và các cơ chế dược lý của P. linteus đã được báo cáo tổng kết năm 2008 [78]. Đây là tổng quan đầy đủ về tinh chế các sản phẩm tự nhiên và khả năng ứng dụng chữa bệnh của loài P.
linteus, đặc biệt là hợp chất có phân tử lượng nhỏ có hoạt tính sinh học, cũng như các tác dụng dược lý chống ung thư, tăng cường hệ miễn dịch, chống oxy hóa, kháng viêm, chống tiểu đường và hoạt tính kháng khuẩn. Chi Phellinus có một số loài (P. igniarius) đã được dùng trong việc chữa bệnh ung thư, tiểu đường, nhiễm trùng do vi khuẩn và virus, và viêm loét [39, 40]. linteus được sử dụng như một thành phần bổ sung vào các loại thực phẩm ở khu vực Đông Á [78].
Trong vài thập kỷ qua, một số lượng lớn các hợp chất hóa học đã được phân lập từ nấm Phellinus [39, 40, 78]. Thành phần chính của chúng là các polysaccharide - thành phần chính tạo ra hoạt động chống ung thư của nấm thượng hoàng. Ngoài ra còn có các thành phần khác như proteinpolysaccharide, steroid, terpenoid, flavone, styrylpyrone, furane và polychlorinat, ergosterols, acid agaricic, acid béo, acid aromatic,…[57]. Vị trí nấm thượng hoàng trong phân loại nấm học Theo tác giả Trịnh Tam Kiệt (2011) [6], nấm thượng hoàng thuộc: 5 Ngành: Basidiomycota Lớp: Basidiomycetes Bộ: Hymenochaetales Họ: Hymenochaetaceae Chi: Phellinus Theo thống kê thì có hơn 150 loài nấm thuộc chi Phellinus như: P.
Đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học của nấm thượng hoàng Nấm thượng hoàng có màu vàng, đường kính 6-12 cm, dày khoảng 2-10 cm, hình bán nguyệt, dạng nhẵn, tròn và hình dạng rất đa dạng. Bề mặt có màu sậm, lông ngắn và dần mất đi khi trưởng thành, khi đó nấm ngả sang màu đen hoặc vàng sậm, bề ngang và bề dọc khác biệt hẳn. Mặt chính giữa thường có màu vàng sáng, mặt dưới màu sẫm. Đây là loài nấm hóa gỗ, thường mọc ở những vùng rừng sâu, núi cao hiểm trở, các khu rừng nguyên sinh nên tuổi nấm có khi lên tới hàng chục năm.
Loài nấm này thường phát triển trên thân hoặc gốc cây dâu tằm. Phương pháp nhân giống truyền thống là cấy giống nấm vào gỗ khúc (phổ biến ở Hàn Quốc); sau khi hệ sợi nấm lan đầy, các khúc gỗ sẽ được treo, hoặc đặt trên mặt đất để nấm mọc ra và thời gian này kéo dài khoảng 2-3 năm [8]. Ưu điểm của phương pháp này là môi trường nuôi trồng khá tự nhiên, gần với môi trường phát triển của nấm ngoài tự nhiên. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp là thời gian thu hoạch được nấm khá dài, tốn diện tích nuôi trồng.
Bên cạnh đó việc đặt khúc gỗ dưới đất dễ bị mối mọt, côn trùng, nấm bệnh xâm nhập phá hủy. Nếu đặt lên cao thì gỗ dễ bị mất nước, vì vậy cần phải chú ý cung cấp nước thường xuyên [2]. Quả thể nấm thượng hoàng [80] 1. Phân bố Hiện nay, tổng sản lượng của các loài nấm Phellinus trên thế giới chỉ khoảng 30 tấn/năm, chủ yếu từ thu hái hoang dại.
Trên thế giới cũng chỉ có 4 nước trồng phổ biến loài nấm này là Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan. Việt Nam là nước có khá nhiều loài nấm Phellinus, tuy nhiên cũng bị khai thác cạn kiệt, tận thu và khó gặp nếu không đi sâu vào các vùng rừng nguyên sinh. Hiện tại, nấm thượng hoàng được bán tại Việt Nam chủ yếu là dưới dạng quả thể và nhập khẩu từ Hàn Quốc. Như tại Hàn Quốc, đất nước đi đầu về công nghệ trồng nấm thượng hoàng phải mất từ 2 đến 3 năm trồng trên giá thể là các khúc gỗ để thu hoạch được quả thể nấm có giá trị thương phẩm khi đưa ra thị trường.
Giá của nấm thượng hoàng đắt gấp 3 đến 4 lần so với nấm linh chi được trồng và thu hoạch theo cùng một thời gian. Việc nghiên cứu để trồng nấm thượng hoàng tại Việt Nam đã bắt đầu từ những năm 2010, với nghiên cứu của một nhóm cán bộ tại Trung tâm nghiên cứu linh chi và nấm dược liệu, Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm đã bước đầu nghiên cứu và nuôi trồng thành công loài nấm thượng hoàng P. linteus trong bịch mạt cưa gỗ cao su, năng suất khoảng 140 kg/năm, sản phẩm nấm sau khi thu hoạch được bảo quản bằng cách sấy khô để đưa bán ra thị trường trong nước và xuất khẩu thô ra nước ngoài [8].
Thời gian cho thu hoạch quả thể là 9 tháng, rút ngắn hơn nhiều so với thời gian trồng nấm trên khúc gỗ là 2 đến 3 năm. Như vậy việc nuôi trồng nấm trên giá thể sẽ kéo dài hơn rất nhiều so với khi nuôi chúng trong môi trường lỏng. Ngoài 7 ra, nấm thượng hoàng thích hợp ở các điều kiện nhiệt độ thấp, ở vùng rừng núi cao, do đó khí hậu nóng vào mùa hè của Việt Nam sẽ làm cho nấm mọc chậm. Thành phần hóa học của nấm thượng hoàng 1.
Thành phần hóa học và dinh dưỡng của nấm thượng hoàng Các nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của nấm thượng hoàng cho thấy đây là một loại nấm có giá trị dinh dưỡng và có nhiều hợp chất có chứa hoạt tính sinh học. Tuy nhiên, phụ thuộc vào vị trí địa lý, tuổi đời của nấm nên hàm lượng của các thành phần này có sự khác nhau. Các nghiên cứu về hợp chất có hoạt tính sinh học trong nấm thượng hoàng thì tương đối nhiều nhưng nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng trong nấm thượng hoàng thì còn ít. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của một số loại nấm thượng hoàng ở Hàn Quốc được thể hiện qua bảng dưới đây [73]: Bảng 1.
Thành phần dinh dưỡng của quả thể nấm thượng hoàng Thành phần Tỉ lệ Độ ẩm 15,2 ± 1,20% Protein thô 5,4 ± 0,10% Chất béo thô 0,3 ± 0,07% Chất sợi thô 6,8 ± 0,39% Chất tro 4,6 ± 0,01% Chất hòa tan không chứa nitơ 67,7 ± 0,22% Na 2,6 ± 0,1µg/g Mg 1,0 ± 0,1µg/g K 130,6 ± 5,0µg/g Ca 118,1 ± 15,1µg/g Mn 0,6 ± 0,0µg/g Fe 1,0 ± 0,4µg/g Cu 1,0 ± 0,0µg/g Zn 1,0 ± 0,0µg/g Hàm lượng chất khô thu hồi khi tách chiết 13,9 ± 1,6% bằng nước 8 Thành phần, hàm lượng acid amin và kim loại trong quả thể nấm thượng hoàng của nhóm nghiên cứu Lee và cộng sự được thể hiện ở bảng 1.3 sau đây [41, 42]: Bảng 1. Thành phần và hàm lượng acid amin trong quả thể nấm thượng hoàng Dịch chiết ethanol Dịch chiết nước Acid amin (mg/100g nấm khô) (mg/100g nấm khô) Alanine 1329 2598 Arginine 479 1384 Asparagine 6137 5169 Aspartic acid 778 1762 Glutamic acid 802 1719 Histidine 471 642 Proline 627 520 Leucine 561 979 Lysine - 865 Methionine 511 600 Phenylalanine 662 1368 H-Proline 615 997 Serine 479 2066 Theronine 448 972 Tryptophan 540 3891 Tyrosine 482 892 Valine 553 1098 9 Bảng 1. Thành phần khoáng và kim loại trong quả thể nấm thượng hoàng Thành phần/chỉ tiêu Dịch chiết ethanol Dịch chiết nước Kim loại (mg/100g nấm khô) Mg 5,7 26,3 Ca 1,5 23,5 K 90,6 239,5 Si 0,5 3,8 Al 0,31 0,02 P 57,3 137,1 Fe 1,0 1,8 B 0,11 1,37 Mn 0,09 1,88 Cu 0,01 1,85 Na 5,1 39,3 Ni 0,08 0,28 Zn 0,07 2,08 Thành phần dinh dưỡng (%) Carbohydrate 75,04 83,82 Protein thô 6,11 10,9 Chất béo thô 15,86 0,96 Chất tro thô 2,98 4,32 1. Các hợp chất chuyển hóa thứ cấp của nấm thượng hoàng Trong nhiều thập kỷ qua, một số lượng lớn các thành phần hợp chất chuyển hóa thứ cấp đã được phân lập từ P.
Trong đó polysaccharide là thành phầm chính và cũng là thành phần mang hoạt tính sinh học chính trong việc phòng chống ung thư 10 của nấm thượng hoàng. Ngoài ra còn có một số nhóm chất khác bao gồm flavone, ergosterol, triterpenoid, hispidin. Danh sách các hợp chất chuyển hóa thứ cấp có trong nấm thượng hoàng và hoạt tính sinh học của chúng được trình bày trong Bảng 1. Hợp chất thứ cấp và hoạt tính sinh học của nấm thượng hoàng Nhóm Hợp chất thứ cấp nổi bật Công dụng Polysaccharide và Polysaccharide Chống khối u protein Fucoglucan Kích thích miễn dịch, hoạt tính polysaccharide chống ung thư và chống oxy hóa β-glucan Chống ung thư, tăng miễn dịch Steroid Episterol Ức chế tổng hợp cholesterol Flavone, Phellinone Kháng khuẩn pyranone và furan Phellinusfuran A Terpenoid Sesquiterpenoid Kháng khuẩn, chống viêm, chống oxy hóa, ức chế khối u Diterpenoid Kích thích tổng hợp yếu tố tăng trưởng thần kinh, hạ đường huyết Triterpenoid Chống ung thư, di căn, chống lão hóa, hỗ trợ tim mạch Styrylpyrone Hispidin Chống oxy hóa, gây độc tế bào, kháng viêm, kháng virut, chống giảm trí nhớ 3,14′-Bihispidinyl Chống oxy hóa Hypholomine B Chống oxy hóa, chống tiểu đường, kháng viêm Fasciculin A Chống oxy hóa Fasciculin B Chống oxy hóa Phelligridin C Gây độc tế bào Phelligridin D Gây độc tế bào Phellinin A1 Chống oxy hóa 11 1.
Hoạt tính sinh học của nấm thượng hoàng Theo y học phương Đông, nấm thượng hoàng có khả năng điều hòa miễn dịch mạnh và tăng chức năng miễn dịch. Nấm cũng hiệu quả đối với nhiều bệnh, bao gồm việc tăng lưu thông máu, ngăn ngừa và điều trị bệnh tim, tăng khả năng giải độc và bảo vệ gan, chống lại bệnh dị ứng và tiểu đường, giảm căng thẳng. Đặc biệt, nấm thượng hoàng có công dụng chống ung thư mạnh và ngăn ngừa sự phát triển của khối u [78]. Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh được rằng nấm thượng hoàng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao sức khỏe con người.
linteus thực hiện vai trò này là nhờ các thành phần mang hoạt tính sinh học bao gồm: polysaccharide, triterpenoid, polyphenol và pyrans.