Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật và điều kiện ngoại cảnh của măng tây 1.1 Nguồn gốc và phân loại: Măng Tây là một loại cây đa niên, có nguồn gốc ở Châu Âu, Bắc Phi và Tây Á, sau đó được nhập vào Hoa Kỳ, ngày nay măng tây được trồng khắp nơi trên thế giới với ba loại chính là măng tây xanh, măng tây trắng và măng tây tím. Đầu tiên măng tây chỉ được biết với tính năng như một loại thảo dược dùng làm thuốc để chữa các bệnh về tim, phù thũng, đau răng (Medicinalherbs, 2020). Sau đó cũng chính người Hy Lạp đã sử dụng măng tây như một loại rau cao cấp vào những năm 200 Trước Công Nguyên. Ở thời Trung Cổ măng tây không được quan tâm nhiều cho đến thé kỷ XVI cây măng tây là một trong những cây mà vua Louis ưa thích thì cây măng tây bắt đầu được trồng tại Pháp với diện tích ngày càng tăng (Cultures, 2020).
Măng tây được du nhập vào nước ta từ thời Pháp thuộc theo chân những gia đình quan chức người Pháp. Đến thập niên 1970, nhiều vùng ở nước ta đã trồng được cây măng tây dé lay rau măng tây tươi như Đông Anh (Hà Nội), Kiến An (Hải Phòng), Đà Lạt, Đức Trọng, Di Linh, Bảo Lộc (Lâm Đồng), Bà Điểm (Hốc Môn),. nhưng ngày đó diện tích trồng rất ít và do không tìm được thị trường tiêu thụ nên cây không có điều kiện dé phát triển (Lê Hồng Triều, 2009). Đến nay diện tích trồng măng tây ở nước ta đã được mở rộng, trồng trên diện tích lớn đáp ứng nhu cầu sử dụng măng tây trong nước và xuât khâu.
Phân loại: Ngành: Magnoliophita Lớp: Liliospida Bộ: Asparagales Họ: Asparagaceae Chi: Asparagus Loài: Asparagus officinalis L.2 Đặc điểm thực vật Rễ: rễ chính ngắn và chết sau khi hạt nảy mâm, chỉ có rễ trụ đứng thăng, các rễ khác mọc ngang tạo thành một chùm (Mai Thị Phương Anh, 2001). Thân: Măng tây thuộc dạng cây thân thảo từ một cụm hóa thân gỗ với những rễ nạc dài, thân phẳng, phân cành nhiều về phía trên, có chiều cao khoảng 1,3 - 3,8 m. Khi cây mọc cao thường nga mau xanh và sinh nhiều cành (Mai Thị Phương Anh, 2001). Lá: Lá măng tây thuộc loại lá kim, trên bề mặt lá có lông, mọc thành cụm giúp hạn chế thoát hơi nước ít nên có khả năng chịu hạn (Mai Thị Phương Anh, 2001).
Hoa: Hoa đơn tính hình chuông, màu lục nhạc, có hoa đực và hoa cái trên cây riêng bệt nhưng đôi khi cũng có hoa lưỡng tính. Hoa măng tây được sinh ra trên các cành mới và đạt được độ thành thục trước khi cảnh mang hoa thành thục (Mai Thị Phương Anh, 2001). Quả và hạt: Quả măng tây là quả mọng, có đuờng kính trung bình 9,0 mm, có ba ngăn, khi chín có màu đỏ, mỗi ngăn cho 2 hạt màu đen, vỏ hạt rất cứng có đường kính trung bình 4,0 mm (Mai Thị Phương Anh, 2001).3 Điều kiện ngoại cảnh Mang tây có thé trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, dé măng tây cho năng suất cao nên trồng trên đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng như: đất phù sa, đất đỏ bazan, đất cát, đất xám, đất cát pha hoặc những loại đất có khả năng cải tạo. Măng tây có khả năng chịu hạn nhưng chịu ung kém, nên trồng nững nơi có khả năng thoát nước tốt.
Có tang đất canh tác sâu khoảng 50 - 100 cm. Độ pH thích hợp từ 6,5 - 7,5. Măng tây thích hợp với điều kiện thời tiết ôn hòa với nhiệt đô từ 25°C - 30°C phù hợp cho măng tây nay mam và sinh trưởng phát triển. Nếu nhiệt độ dưới 12,8°C và trên 29,5 °C sẽ ức chế sự sinh trưởng.
Tuy nhiên ngày nay qua quá trình chọn giống đã có những giống măng tây chịu nhiệt cao hơn. Mang tây là cây ưa sáng, cần nhận được ánh sáng từ 6 - 8 giờ mỗi ngày dé cây quang hợp. Nếu trồng măng tây ở nơi che bóng, hiệu suất quang hợp thấp, cây sẽ sinh trưởng kém và năng suất thấp. Âm độ không khí thích hợp từ 60 - 70 %, độ âm đất 80 - 85 %.
Măng tây có khả năng chịu hạn, tuy nhiên cần phải có hệ thống tưới đảm bảo cung cấp đủ độ âm cho cây vào mùa khô. Yêu cầu lượng mưa thấp (>1000 mm/năm). Tùy theo điều kiện đất đai, điều kiện trồng và giai đoạn của cây có những nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Mức phân bón khuyến cáo tùy điều kiện đất đai và điều kiện trồng, mức khuyến cáo chung ở một số vùng trồng Măng tây theo công thức như sau: Dam nguyên chất khoảng 150 kg (N), 50 kg lân nguyên chat (P) và 50 kg kali nguyên chất (K) cho 1 ha/năm (Theo Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và phát triển nông thôn).2 Một số sâu bệnh hại thường gap trên măng tây 1.1 Sâu xanh (Plathypena scabra) Hay còn có tên gọi là Spodoptera exigua, day là một loại sâu thuộc ho Noctuidae.
Với kích thước dài khoảng từ 2 - 3 cm, sâu xanh có màu xanh ở thân và một vai sọc trắng nhạt ở hai bên cạnh. Sâu non ăn lá va gam vỏ măng. Khi mật độ lên cao có thể ăn hệt lá làm cây xơ xác, làm giảm năng suât và phâm chât măng. Biện pháp phòng trừ: Có thể dùng thiên địch như: bọ đuôi kìm (Giai đoạn 1 - 2), nhện, bệnh ký sinh hoặc dùng ong và ruồi (Ở giai đoạn tuôi 2 - 4).
Ngoài ra, nên trồng các loại hoa xung quanh dé thu hút thiên địch có lợi cho cây và hạn chế sâu bệnh. Bên cạnh đó, cũng nên hạn chế phun quá nhiều thuốc trừ sâu dé bảo vệ thiên địch. Sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Emamectin dé phun diệt sâu.2 Bọ trĩ (Thrips spp.) Bọ tri (Thrips) rất nhỏ bé, gây hại trên các dot măng tây dang phát triển, gây méo mo. Bọ trĩ hành (Thrips tabaci) là phô biến nhất.
Bo trĩ xuất hiện trên măng tây khi cây ký chủ chúng cư trú già cỗi hoặc khô. Một số lớn cỏ dại và cây kiểng lâu năm là cây ký chủ của bọ trĩ. Biện pháp phòng trừ: Biện pháp hữu cơ sinh học là sử dụng lá hing qué tạo chat phun xua đuổi bọ trĩ. Sử dụng côn trùng ăn thịt giảm SỐ lượng bọ trĩ.
Các loại thiên địch 5 hiệu quả như nhện ăn thịt (Amblyseius) hay bọ cảnh mỏng xanh (Mallada signata). Nên phóng thích thiên địch sớm trong mùa trồng và phóng thích nhiều lần. Một số loại chế phâm hữu cơ có thé áp dụng phòng trừ bọ trĩ hiệu quả bao gồm dung dịch xà phòng, hoa cúc tự nhiên (natural pyrethrum; nhưng nó cũng hại thiên địch) và dâu khoáng sử dụng cho vườn.3 Bệnh thối gốc rễ và chồi măng Bệnh thối gốc rễ do các nấm Fusarium, nam Phytopthora, nam Pythium hoặc do vi khuẩn gây ra. Bệnh gây hại chủ yếu là các bộ phận dưới mặt đất như gốc, rễ.
Khi cây bị thối gốc, rễ, cây có biểu hiện vàng lá, héo úa, đào lên quan sát bộ rễ thấy phần lớn rễ bị hỏng. Rễ có màu vàng nâu hoặc nâu đen; Rễ cũ bị thối mục, rễ mới không phát triển được. Đối với măng: khi còn nằm trong đất nếu bị hại, khi vươn lên khỏi mặt đất có hình dạng bất thường: kích thước nhỏ, cong vẹo. Măng đã mọc lên khỏi mặt đất nếu phần gốc bị hại măng bị teo móp méo, khô héo, vỏ chuyên sang màu xanh vàng, măng bị chêt.
Biện pháp phòng trừ: Lựa chọn nơi thoát nước dé trồng. Nếu trồng măng tây nơi đất thấp cần lên luống cao dé tránh cho bộ rễ ngập nước. Vệ sinh đồng ruộng, tia bỏ cây bị bệnh, thu don cây bị chết đem tiêu hủy. B6 sung nam đối khang Trichoderma vào đất dé hạn chế nắm bệnh.
Hoặc sử dụng thuốc BVTV có các hoạt chất như: sử dụng kết hợp 2 loại thuốc có thành phần của Oxychloride + Streptomycin hoặc Fthalide + Kasugamycin.4 Bệnh nứt than cành Xuất hiện vết nứt dài trên thân cây măng tây. Cây bị nứt do thừa đạm hoặc do bệnh sinh lý. Vết nứt có thể là nơi để mầm bệnh khác tấn công gây hại cho cây. Bệnh làm nút thân măng tây vết nứt chạy dọc theo thân cây, mầm măng gây ảnh hưởng đến pham chat mam măng.5 Bệnh khô thần cành Bệnh khô thân cành do nam Macrophoma sp.
Nam bệnh phát sinh phát triển mạnh trong điều kiện mưa nhiều âm cao, đất kém thoát nước, đất nghèo hữu cơ, ít mùn. Nam bệnh phát triển mạnh trong điều kiện 4m cao, mưa nhiều, nắm xâm nhiễm qua các vét thương hở ở rễ, cô rễ làm phá hủy các bó mach dẫn nước và dinh dưỡng khoáng nuôi cây, đồng thời tao các vết đốm nhỏ bat định doc thân. Sau một thời gian ngắn xâm nhiễm bệnh phá hủy hoàn toàn bó mạch làm cho cây khô, cành vàng đỏ và chết lụi dần. Biện pháp phòng trừ: Trồng cây trên đất có khả năng thoát nước tốt, b6 sung phân hữu cơ, đảm bảo độ pH ở mức trung tính.
Sử dụng phân bón gốc và phân bón lá phù hợp, cân đối, hạn chế sử dụng thuốc BVTV hóa học độc hại, sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng dé tránh khả năng mầm bệnh kháng thuốc, cây bị ngộ độc. Phun các loại phân bón lá, kích thích rễ phát triển hoặc sử dụng thuốc có thành phan của Azoxystrobin, Propiconazole, Tebuconazole.6 Bệnh than thư Bệnh than thư hại măng tây do nắm Colletotrichum gloeosporioides gây ra. Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh thán thư trên măng tây: Mưa nhiều, độ âm đất bão hòa sẽ là điều kiện thuận lợi để nắm thán thư phát sinh phát triển mạnh, tốc độ lây lan nhanh, khó kiểm soát. Thường sau những trận mưa kéo dai từ 3 - 5 ngày nam than thư phát sinh mạnh.
Sau khi tanh mưa | - 2 ngày nếu có nắng bệnh phát triển mạnh và bat đầu lây lan rất nhanh (trong 1 - 2 ngày). Ngoài ra mưa nhiều, đất trồng thoát nước chậm sẽ dẫn đến hàm lượng oxy trong đất giảm mạnh, bộ rễ bị nghẹt, gây thối rễ, cây phát triển kém, dinh dưỡng cung cấp từ bộ rễ bị giảm sút nghiêm trọng, lá vàng héo tia và chết lụi dần (Nguyễn Thị Tú Trinh, 2021). Triệu chứng bệnh than thư trên măng tây: Bệnh than thư biểu hiện chủ yếu trên thân từ phía gốc (cách khoảng 20 cm) trở lên phía trên. Bệnh than thư có thé gây hại trên măng tây sau 1,5 - 2,5 tháng trồng (trong điều kiện mưa nang xen kẽ).
Trên thân vét bệnh nằm rải rác dọc thân, vét bệnh có hình dạng bau dục dài nằm dọc thân, vết bệnh có z kích thước to nhỏ khác nhau dao động từ 0,5 - 1,5 cm. Bệnh nặng các vết bệnh có thé liên kết với nhau.