Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây măng tây (Asparagus officinalis L.) là loại rau thực phẩm cao cấp có nguồn gốc từ vùng đông Địa Trung Hải và Tiểu Á, hiện được canh tác rộng rãi trên toàn cầu nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao (giàu folate, vitamin A, C, K, chất xơ và các nguyên tố khoáng như sắt, canxi, kali, kẽm) cùng giá trị kinh tế lớn trong thương mại xuất khẩu. Tại Việt Nam, măng tây đã được thử nghiệm và mở rộng diện tích ở nhiều địa phương, trong đó có khu vực Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, tập quán canh tác thâm canh phụ thuộc vào phân bón hóa học trong thời gian dài đã và đang dẫn đến tình trạng suy thoái cấu trúc đất, gia tăng tốc độ chua hóa, suy giảm hệ vi sinh vật và giảm hàm lượng chất hữu cơ tự nhiên trong đất.

Tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, diện tích canh tác măng tây chủ yếu phân bố trên nền đất xám bạc màu. Loại đất này có đặc điểm tự nhiên là thành phần cơ giới thô, nghèo chất hữu cơ, hàm lượng dinh dưỡng khoáng tổng số và dễ tiêu ở mức thấp, khả năng giữ nước và dung tích hấp phụ kém. Để măng tây sinh trưởng ổn định và cho năng suất bền vững, việc bổ sung nguồn phân bón hữu cơ là yêu cầu kỹ thuật tất yếu nhằm cải thiện các đặc tính lý - hóa - sinh của đất, tăng độ xốp, tăng dung sai đệm và kích thích bộ rễ phát triển. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ trùn quế đến sinh trưởng và năng suất măng tây (Asparagus officinalis L.) trồng trên nền đất xám tại huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh" đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  • Xác định được lượng phân bón hữu cơ trùn quế thích hợp cho cây măng tây sinh trưởng tốt, đạt năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế trên nền đất xám tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 2 nội dung:

  1. Bố trí thí nghiệm, theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của thân mẹ và các yếu tố cấu thành năng suất của cây măng tây ở các nghiệm thức bón phân hữu cơ trùn quế khác nhau.
  2. Lượng toán và so sánh hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức thí nghiệm để xác định mức bón tối ưu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống măng tây chịu nhiệt UC 157 F1 (vườn cây 36 tháng tuổi, đang trong giai đoạn kinh doanh) và phân hữu cơ trùn quế thương phẩm SFARM.
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm thực địa được tiến hành tại xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 02 năm 2024 (chu kỳ theo dõi thu hoạch và số liệu hoàn tất vào tháng 03 năm 2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý nông học về dinh dưỡng cây trồng và thổ nhưỡng học nông nghiệp hữu cơ (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 2012). Đề tài ứng dụng các nghiên cứu sinh học đất về vai trò của phân trùn quế (vermicompost) – loại phân hữu cơ giàu dưỡng chất đa lượng, trung vi lượng, axit humic, các enzyme hoạt tính (amylase, cellulase, lipase, chitinase) và mật độ vi sinh vật có ích dồi dào, giúp kích thích phát triển hệ rễ, gia tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng và tăng cường sức chống chịu đối với các tác nhân gây bệnh truyền qua đất (Sinha và ctv, 2011; Yasir và ctv, 2009; Amouei và ctv, 2017). Về tiêu chuẩn đánh giá thương phẩm măng tây, tác giả áp dụng Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 11410:2016 nhằm phân loại măng loại 1 và măng loại 2.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng:

  • Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design - RCBD) với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại, tổng cộng 15 ô cơ sở.
  • Các mức nghiệm thức tương ứng với 5 mức bón phân hữu cơ trùn quế SFARM:
    • Nghiệm thức 1 (NT1): 0 tấn phân trùn quế/ha (Đối chứng 1 - ĐC 1).
    • Nghiệm thức 2 (NT2): 3 tấn phân trùn quế/ha.
    • Nghiệm thức 3 (NT3): 6 tấn phân trùn quế/ha (Đối chứng 2 - ĐC 2, đại diện mức bón canh tác thông thường).
    • Nghiệm thức 4 (NT4): 9 tấn phân trùn quế/ha.
    • Nghiệm thức 5 (NT5): 12 tấn phân trùn quế/ha.

Quy mô và kỹ thuật bón phân:

  • Mỗi ô cơ sở có kích thước 3 m x 4 m = 12 m²; tổng diện tích khu thí nghiệm là 180 m²; mật độ cây với khoảng cách trồng 1,2 m x 0,5 m.
  • Phân trùn quế được bón 1 lần trước chu kỳ thu hoạch măng bằng cách rạch hàng cách gốc 30 cm, độ sâu từ 7 - 10 cm, rải đều phân, lấp đất, vun gốc và tưới nước giữ ẩm.
  • Tất cả các nghiệm thức đều được bón bổ sung phân khoáng NPK 20-20-15 với liều lượng đồng đều 200 kg/ha/lần, định kỳ 15 ngày một lần bằng cách đào rãnh cách gốc 30 cm, sâu 7 - 10 cm và lấp đất.

Chỉ tiêu và phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Trên mỗi ô thí nghiệm, bố trí 5 điểm cố định theo 2 đường chéo góc, mỗi điểm chọn 3 bụi (tổng cộng 15 bụi/ô cơ sở) để điều tra.
  • Chỉ tiêu cây mẹ: Chiều cao cây (m) đo bằng thước dây; đường kính thân mẹ (mm) đo bằng thước kẹp tại mắt lá thứ 3; số cành cấp 1 trên cây (cành); số chồi mọc từ gốc trên bụi (chồi) ở các thời điểm 15, 30, 45, 60, 75 và 90 ngày sau bón (NSB).
  • Chỉ tiêu về măng: Chiều dài trung bình măng (cm); đường kính măng (mm) đo cách gốc cắt 2,5 cm; số măng trung bình/bụi; trọng lượng trung bình 1 măng (g); trọng lượng măng trung bình/bụi (g); tổng sản lượng măng thu hoạch trên ô cơ sở (g).
  • Chỉ tiêu sâu bệnh hại: Tỷ lệ sâu hại (%) và tỷ lệ bệnh hại (%) điều tra định kỳ 10 ngày/lần trên 15 bụi cố định.
  • Chỉ tiêu năng suất và phân loại: Năng suất lý thuyết (NSLT, tấn/ha), năng suất thực thu (NSTT, tấn/ha), tỷ lệ măng loại 1 và loại 2 theo TCVN 11410:2016.
  • Hiệu quả kinh tế: Doanh thu, chi phí vật tư - điện nước, lợi nhuận thuần và tỷ suất lợi nhuận tính theo đơn giá bán thương phẩm 65.000 đồng/kg.

Nguồn dữ liệu và phân tích thống kê:

  • Dữ liệu thực nghiệm thu thập tại thực địa; mẫu đất thí nghiệm được phân tích lý hóa tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM). Số liệu thời tiết trích xuất tại trạm khí tượng địa phương.
  • Xử lý số liệu: Nhập và tính toán sơ bộ bằng Microsoft Excel 2016; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng Duncan ở mức ý nghĩa α = 0,05 và α = 0,01 bằng phần mềm RStudio phiên bản 4.2.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học về nguồn gốc, phân loại thực vật học của cây măng tây (Asparagus officinalis L., thuộc họ Asparagaceae), sinh thái học và yêu cầu ngoại cảnh (thích hợp đất tơi xốp, pH 6,5 - 7,5, nhiệt độ sinh trưởng 25 - 30°C, nhu cầu chiếu sáng 6 - 8 giờ/ngày, chịu hạn tương đối nhưng kém chịu úng). Tác giả mô tả chi tiết hình thái học các bộ phận rễ chùm nạc, thân thảo phân cành nhiều, lá kim mọc cụm, hoa đơn tính hình chuông và quả mọng 3 ngăn chứa hạt đen vỏ cứng.

Chương 1 cũng tổng quan các loại dịch hại phổ biến trên măng tây: sâu xanh (Plathypena scabra / Spodoptera exigua), bọ trĩ (Thrips spp.), bệnh thối gốc rễ (Fusarium, Phytophthora, Pythium), bệnh nứt thân cành, bệnh khô thân cành (Macrophoma sp.), bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) và bệnh gỉ sắt (Puccinia asparagi), kèm theo các biện pháp canh tác, sinh học và hóa học phòng trừ. Về giá trị kinh tế và dinh dưỡng, tác giả trích dẫn số liệu FAOSTAT (2021) ghi nhận sản lượng xuất khẩu măng tây toàn cầu đạt 480.756 tấn với giá trị 1,46 tỷ USD, trong đó Trung Quốc là quốc gia sản xuất lớn nhất (chiếm 87,2% khối lượng toàn cầu). Tại Việt Nam, măng tây được nhập nội từ thời Pháp thuộc, trồng khảo nghiệm thành công tại Củ Chi năm 2005 và mở rộng ra Ninh Thuận, Lâm Đồng, Hà Nội. Tác giả cũng tổng hợp các công trình nghiên cứu về phân bón vô cơ, phân hữu cơ trùn quế và nhấn mạnh vai trò của phân trùn quế đối với việc cải tạo đặc tính lý - hóa và cân bằng vi sinh vật đất.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này cung cấp toàn bộ thông số kỹ thuật của thí nghiệm. Về điều kiện khí hậu tại xã Thạnh Đức (Gò Dầu, Tây Ninh) trong thời gian thí nghiệm: nhiệt độ trung bình dao động 27,1 - 27,8°C; lượng mưa cao nhất đạt 284,6 mm; tổng số giờ nắng từ 219,4 đến 280,7 giờ/tháng. Kết quả phân tích đặc tính lý hóa đất xám khu thí nghiệm cho thấy: thành phần cơ giới gồm 55,3% cát, 26,5% thịt, 18,2% sét (đất thịt pha cát); pH H2O đạt 6,58; hàm lượng chất hữu cơ đạt 1,57%; đạm tổng số 0,043%; lân tổng số (P2O5) 0,017%; kali tổng số (K2O) 0,018%; hàm lượng lân dễ tiêu đạt 5,64 mg/100g đất (mức nghèo) và kali dễ tiêu đạt 5,06 mg/100g đất.

Vật liệu phân bón sử dụng là phân trùn quế SFARM có thành phần: chất hữu cơ 48,4%, N tổng số 1,57%, P2O5 1,24%, K2O 0,67%, CaO 2,14%, MgO 0,52%, vi sinh vật cố định đạm 4,2×10⁷ CFU/g, vi sinh vật phân giải lân 2,6×10⁶ CFU/g, vi sinh vật phân giải cellulose 2,0×10⁷ CFU/g. Chương này mô tả chi tiết sơ đồ bố trí khối RCBD 5 nghiệm thức x 3 lần lặp lại, quy cách đào rãnh bón phân và các công thức toán học tính toán năng suất lý thuyết, năng suất thực thu, tỷ lệ măng loại 1 và măng loại 2 theo TCVN 11410:2016, phương pháp tính doanh thu, tổng chi phí đầu tư, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm thông qua số liệu định lượng và thảo luận cơ chế sinh lý:

  • Sinh trưởng thân mẹ: Tại 15 - 30 NSB, các chỉ tiêu chiều cao, đường kính thân, số cành cấp 1 và số chồi mọc từ gốc chưa thể hiện sai khác thống kê giữa các nghiệm thức. Từ 45 đến 90 NSB, khi phân trùn quế phân giải cung cấp dưỡng chất, sai khác giữa các nghiệm thức đạt mức ý nghĩa P < 0,05 và P < 0,01. Đến thời điểm 90 NSB, nghiệm thức NT4 (9 tấn/ha) đạt các chỉ tiêu cao nhất: chiều cao thân mẹ 1,67 m (vượt NT1 không bón là 1,33 m); đường kính thân đạt 12,4 mm (NT1 đạt 9,2 mm); số cành cấp 1 đạt 41,1 cành (NT1 đạt 33,3 cành); số chồi mọc từ gốc đạt 7,3 chồi (NT1 đạt 4,8 chồi). Khi tăng lượng bón lên 12 tấn/ha (NT5), các chỉ tiêu sinh trưởng có xu hướng giảm nhẹ hoặc không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với NT4.
  • Các chỉ tiêu cấu thành năng suất măng: Chiều dài măng trung bình dao động 35,1 - 35,9 cm và sai khác không có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, đường kính măng (12,7 mm), số măng trung bình/bụi (4,4 măng), trọng lượng trung bình 1 măng (22,5 g), trọng lượng măng/bụi (51,8 g) và tổng lượng măng thu hoạch (7417,8 g/ô cơ sở) đều đạt giá trị cao nhất ở NT4, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với đối chứng không bón NT1 (đường kính măng 6,8 mm; 1,8 măng/bụi; 17,0 g/măng; 31,4 g/bụi; tổng lượng thu hoạch 2927,4 g/ô).
  • Tình hình sâu bệnh: Sâu khoang (Spodoptera litura) và bệnh nứt thân măng là hai đối tượng dịch hại chính, tuy nhiên tỷ lệ hại thấp (sâu khoang từ 9,2% đến 10,2%; bệnh nứt thân từ 11,3% đến 12,4%) và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các công thức bón phân.
  • Năng suất và phẩm cấp măng: Năng suất thực thu tăng dần từ NT1 đến NT4 và giảm ở NT5. NT4 đạt năng suất thực thu cao nhất (6,18 tấn/ha), vượt 154,3% so với NT1 (2,43 tấn/ha). Tỷ lệ măng loại 1 và loại 2 ở NT4 đạt cao nhất (lần lượt 29,4% và 33,0%), đồng thời tỷ lệ măng loại 3, 4 hạ xuống mức thấp nhất (37,6%).
  • Hiệu quả kinh tế: Mặc dù chi phí đầu tư ở NT4 là 209,725 triệu đồng/ha (cao hơn NT1 là 123,950 triệu đồng/ha), doanh thu đạt 401,700 triệu đồng/ha giúp NT4 đạt lợi nhuận cao nhất (191,975 triệu đồng/ha) và tỷ suất lợi nhuận 0,92 lần. Ở NT5 (12 tấn/ha), do chi phí phân bón tăng cao (tổng chi phí 238,500 triệu đồng/ha) trong khi năng suất giảm còn 5,69 tấn/ha, lợi nhuận giảm xuống còn 131,350 triệu đồng/ha, thấp hơn cả NT3 (bón 6 tấn/ha đạt lợi nhuận 147,750 triệu đồng/ha).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng rõ ràng về ảnh hưởng của liều lượng phân trùn quế đến các chỉ tiêu nông học và kinh tế của măng tây xanh tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh:

Nghiệm thức (Lượng phân trùn quế) Đường kính thân cây mẹ 90 NSB (mm) Số chồi/bụi 90 NSB (chồi) Trọng lượng TB 1 măng (g) NSTT (tấn/ha) Tỷ lệ măng loại 1 (%) Tỷ lệ măng loại 2 (%) Lợi nhuận (triệu đồng/ha) Tỷ suất lợi nhuận (lần)
NT1: 0 tấn/ha (ĐC 1) 9,2 4,8 17,0 2,43 10,0 10,7 34,000 0,28
NT2: 3 tấn/ha 9,8 5,8 19,5 3,54 13,8 15,2 76,025 0,49
NT3: 6 tấn/ha (ĐC 2) 11,3 6,5 20,0 5,05 19,6 20,3 147,750 0,82
NT4: 9 tấn/ha 12,4 7,3 22,5 6,18 29,4 33,0 191,975 0,92
NT5: 12 tấn/ha 11,8 6,9 20,6 5,69 21,9 26,2 131,350 0,55

Các đóng góp chính của đề tài:

  • Về mặt kỹ thuật canh tác: Đề tài xác định liều lượng bón phân hữu cơ trùn quế tối ưu cho măng tây xanh giai đoạn kinh doanh trên nền đất xám là 9 tấn/ha. Liều lượng này giúp tối ưu hóa số cành cấp 1, số chồi thân mẹ, tăng kích thước và trọng lượng búp măng non, nâng tỷ lệ măng thương phẩm loại 1 và 2 lên tổng cộng 62,4%, đưa năng suất thực thu đạt 6,18 tấn/ha.
  • Về mặt quản trị kinh tế nông hộ: Nghiên cứu chứng minh quy luật lợi suất giảm dần trong bón phân hữu cơ. Khi nâng lượng phân từ 9 tấn/ha lên 12 tấn/ha, tổng chi phí sản xuất tăng từ 209,725 triệu đồng lên 238,500 triệu đồng/ha nhưng năng suất giảm 0,49 tấn/ha, làm lợi nhuận sụt giảm từ 191,975 triệu đồng xuống 131,350 triệu đồng/ha. Mức bón 9 tấn/ha mang lại lợi nhuận cao nhất và tỷ suất lợi nhuận tối ưu (0,92 lần), cao gấp 1,3 lần so với công thức đối chứng 6 tấn/ha.
  • Đề xuất ứng dụng: Khuyến nghị bước đầu áp dụng công thức bón 9 tấn phân hữu cơ trùn quế/ha (bón rãnh 1 lần trước thu hoạch kết hợp bón thúc NPK định kỳ 15 ngày/lần) cho các vườn măng tây kinh doanh trên vùng đất xám bạc màu huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh và các khu vực có điều kiện nông thổ học tương đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực nghiệm:

  • Đề tài chỉ theo dõi trên một lứa măng tây trong khung thời gian ngắn từ tháng 11/2023 đến tháng 02/2024 tại một địa điểm duy nhất (xã Thạnh Đức, Gò Dầu), chưa đánh giá được phản ứng của cây qua các mùa vụ thời tiết khác nhau trong năm (đặc biệt là mùa mưa kéo dài).
  • Khóa luận không thực hiện phân tích các chỉ tiêu lý hóa học và sinh học của đất sau khi kết thúc thí nghiệm, do đó chưa có số liệu định lượng về mức độ tích lũy mùn, khả năng cải thiện dung tích hấp phụ, pH và sự biến động của hệ vi sinh vật đất xám sau chu kỳ bón phân trùn quế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi tác động tồn dư và ảnh hưởng dài hạn của các liều lượng phân trùn quế đến các vụ thu hoạch măng tiếp theo trong chu kỳ kinh doanh nhiều năm của măng tây.
  • Tiến hành lấy mẫu và phân tích đầy đủ các chỉ tiêu độ phì đất (chất hữu cơ tổng số, hàm lượng đạm - lân - kali dễ tiêu, dung trọng, độ xốp và mật độ các nhóm vi sinh vật chỉ thị) sau khi kết thúc các chu kỳ thu hoạch để đánh giá toàn diện vai trò cải tạo đất xám của phân trùn quế.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu học thuật và thực tiễn có giá trị chuyên môn đối với:

  • Sinh viên, học viên và cán bộ giảng dạy chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Nông nghiệp Hữu cơ và Quản lý Dinh dưỡng Cây trồng: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình bố trí thí nghiệm khối RCBD trong nghiên cứu phân bón trên cây rau cao cấp, phương pháp xử lý số liệu bằng ngôn ngữ R/RStudio (ANOVA, kiểm định Duncan).
  • Kỹ sư nông nghiệp và cán bộ khuyến nông tại Tây Ninh và khu vực Đông Nam Bộ: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình canh tác măng tây xanh chuẩn hóa trên nền đất xám bạc màu, đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu phân loại măng loại 1 và loại 2 theo TCVN 11410:2016.
  • Các hộ nông dân và trang trại canh tác măng tây thương phẩm: Bảng lượng tính chi phí - doanh thu - lợi nhuận chi tiết là căn cứ xác thực để người sản xuất tính toán mức đầu tư phân bón hợp lý, tránh lãng phí chi phí đầu vào khi bón phân vượt ngưỡng hấp thu sinh lý của cây.

Câu hỏi thường gặp

1. Đất xám khu thí nghiệm tại xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu có đặc tính lý hóa ban đầu như thế nào?
Theo kết quả phân tích của Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM), đất có thành phần cơ giới thịt pha cát (55,3% cát, 26,5% thịt, 18,2% sét), pH H2O ở mức 6,58. Đất rất nghèo chất hữu cơ (1,57%) và có hàm lượng dinh dưỡng tổng số rất thấp (N tổng số 0,043%; P2O5 tổng số 0,017%; K2O tổng số 0,018%). Hàm lượng lân dễ tiêu ở mức nghèo (5,64 mg/100g đất) và kali dễ tiêu đạt 5,06 mg/100g đất.

2. Thành phần dinh dưỡng và hệ vi sinh vật trong phân trùn quế SFARM được sử dụng gồm những gì?
Phân trùn quế SFARM (Công ty Đặng Gia Trang) sử dụng trong thí nghiệm chứa: chất hữu cơ 48,4%, N tổng số 1,57%, P2O5 1,24%, K2O 0,67%, CaO 2,14%, MgO 0,52%. Phân có mật độ vi sinh vật cao gồm: vi sinh vật cố định đạm 4,2×10⁷ CFU/g, vi sinh vật phân giải lân 2,6×10⁶ CFU/g và vi sinh vật phân giải cellulose 2,0×10⁷ CFU/g.

3. Mức bón 9 tấn phân trùn quế/ha (NT4) vượt trội so với đối chứng không bón (NT1) ở những chỉ tiêu chủ yếu nào?
Tại 90 NSB, NT4 đạt chiều cao cây mẹ 1,67 m (so với 1,33 m ở NT1), đường kính thân mẹ 12,4 mm (so với 9,2 mm), số chồi/bụi 7,3 chồi (so với 4,8 chồi). Về năng suất măng, NT4 đạt năng suất thực thu 6,18 tấn/ha (vượt 154,3% so với mức 2,43 tấn/ha của NT1). Về phẩm cấp măng, NT4 cho tỷ lệ măng loại 1 đạt 29,4% (NT1 chỉ đạt 10,0%) và măng loại 2 đạt 33,0% (NT1 là 10,7%). Về kinh tế, NT4 đạt lợi nhuận 191,975 triệu đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận 0,92 lần, trong khi NT1 chỉ đạt 34,000 triệu đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận 0,28 lần.

4. Vì sao nghiệm thức bón 12 tấn/ha (NT5) không mang lại hiệu quả cao nhất dù có lượng phân bón lớn nhất?
Khi tăng lượng bón từ 9 tấn lên 12 tấn/ha, các chỉ tiêu sinh trưởng và cấu thành năng suất không tiếp tục tăng mà có xu hướng giảm nhẹ hoặc không khác biệt thống kê (năng suất thực thu đạt 5,69 tấn/ha, thấp hơn mức 6,18 tấn/ha của NT4). Đồng thời, mức bón 12 tấn/ha làm đội chi phí đầu tư lên mức cao nhất (238,500 triệu đồng/ha), khiến lợi nhuận thuần giảm xuống còn 131,350 triệu đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận giảm xuống 0,55 lần (thấp hơn cả mức 6 tấn/ha với lợi nhuận 147,750 triệu đồng/ha và tỷ suất 0,82 lần).

5. Bón các liều lượng phân trùn quế khác nhau có làm thay đổi chiều dài búp măng và tỷ lệ sâu bệnh hại hay không?
Kết quả xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt về lượng phân bón trùn quế không có ý nghĩa thống kê đối với chiều dài măng trung bình (dao động từ 35,1 đến 35,9 cm giữa các nghiệm thức). Tương tự, tỷ lệ gây hại của sâu khoang (Spodoptera litura, dao động 9,2 - 10,2%) và tỷ lệ bệnh nứt thân măng (dao động 11,3 - 12,4%) cũng khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức.


Kết luận

Khóa luận đã xác định việc bón bổ sung phân hữu cơ trùn quế có tác động tích cực và mang ý nghĩa thống kê rõ rệt đến các chỉ tiêu sinh trưởng thân mẹ, cấu thành năng suất, sản lượng và tỷ lệ măng thương phẩm loại 1, loại 2 của măng tây trên nền đất xám huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Trong 5 công thức khảo nghiệm, mức bón 9 tấn phân trùn quế/ha (NT4) mang lại hiệu quả tối ưu nhất với năng suất thực thu đạt 6,18 tấn/ha (vượt 154,3% so với đối chứng), đạt lợi nhuận thuần 191,975 triệu đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận 0,92 lần. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng để hoàn thiện quy trình canh tác măng tây bền vững, giúp tăng thu nhập cho nông hộ và cải thiện hiệu quả sử dụng đất xám bạc màu tại địa phương.