Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây măng cụt 1.1 Nguồn gốc Măng cụt (Garcinia mangostana L.) thuộc ho Bua có nguon sốc từ các đảo quốc Đông Nam Á. Tuy nhiên các nhà khoa học cũng không xác định được chính xác nguồn của chúng, nó mọc chủ yếu ở Đông Nam A, Tay Nam An Độ và các khu vực nhiệt đới khác như Colombia, Puerto Rico và Florida. Măng cụt là một loại cây ăn quả nhiệt đới có pham chất ngon và quen thuộc đối với con người, do yêu cầu khắt khe về điều kiện phát triển nên trên thé giới chỉ một số nước sản xuất được như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipines và Việt Nam. Với diện tích và năng xuất tuy thấp nhưng được người dân trên thế giới rất ưa chuộng và tiêu thụ, vì vậy mà măng cụt được xem là loại quả hiếm được ví như “ Nữ hoàng của các loại trái cây” (Queen of fruits).
Ở Việt Nam cây măng cụt được các nhà truyền giáo đạo Gia Tô di thực vào các tỉnh phía nam như Tây Ninh, Gia Định (Sài Gòn) hay Thủ Dầu Một (Bình Dương) và nay được trồng nhiều ở các tỉnh khu vực miền Nam, Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long, măng cụt có nhiều loại mỗi loại có hình đáng, hương vị khác nhau. Tại Việt Nam, có 2 loại được biết đến nhiều nhất đó là: măng cụt Lái Thiêu (Bình Dương) và măng cụt nhập khâu Thái Lan.2 Phân loại khoa học Cây mang cut (Garcinia mangostana L.), thuộc giới plantae (thực vật). Ngành magnoliophyta (thực vật có hoa) là một ngành thực vật bao gồm tat cả các loài thực vật có hoa. Bộ malpighiales (bàng) là một bộ thực vật bao gồm nhiều loài cây thân gỗ, cây bụi và cây thảo.
Họ thực vật Clusiaceae (bứa) là một họ thực vật bao gồm nhiều loài cây ăn quả, cây thuốc và cây công nghiệp. Chi Garcinia (bao gồm khoảng 1.700 loài cây, trong đó có một sô loài có giá trị kinh tê cao, như mang cụt, ôi, quât, chanh, bưởi). Loài Garcinia mangostana L. là loài cây cô nguỗn gỗc từ Đông Nam A, được trông ở nhiêu nước trên thê giới, bao gôm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, An Độ, Sri Lanka, Trung Quốc, Mexico, Brazil, Hoa Ky.3 Đặc điểm thực vật học 1.1 Thân cành Măng cụt có dạng thân mộc, tán trung bình và cân đối.
Cây trưởng thành cao 10 — 25m với đường kính thân từ 25 — 35cm. Tán cây thường có dạng hình chóp nón, cảnh từ thân đâm ra với một bán kính đồng đều. Thân thường mọc thẳng đứng, tăng trưởng chậm (nhất là những năm dau). Vỏ thân cây măng cut có màu nâu sam, thường chứa tanin, mangostin và amiliasin được dùng làm dược liệu.
Mangostin là một loại xanthone có khả năng chống lại nhiều loại nam và vi khuan, chất này có nhiều trong thân lá va vỏ quả măng cụt.2 Lá Lá măng cụt thuộc dạng lá đơn, to, hình bầu dục, hơi dài, lá dày, mọc đối. Cuống lá hẹp, day và cứng. Phién lá nguyên, thon dai, day và có gân giữa nỗi rõ. Lá xanh sam và bóng ở mặt trên, xanh vàng và mốc ở mặt dưới có khoảng 35 — 40 đôi đường gân song song kéo dai tới vành lá.
Dưới ánh sáng mặt trời, lá có màu vàng pha xanh hoặc xanh pha vàng. Cuống lá mọc ra từ cành và đối diện với nhau, chỗ tiếp giáp với cành, cuống lá vạt thành góc tù. Lá măng cụt có khả năng quang hợp rất kém. Tuy nhiên, nếu được gia tăng nồng độ CO: trong không khí lên gấp đôi so với bình thường thì cây có thể hấp thụ thêm 40% — 60% khí COz để tao chất khô và cây tăng trọng được 77%; không khí giàu CO2 cũng giúp cho cây có nhiều nhánh ngang, gia tăng diện tích lá, trọng lượng lá, giúp cho cây quang hợp hiệu quả, ngoài ra nó còn giúp cho bộ rễ cây gia tăng gấp đôi so với điều kiện bình thường.3 Hoa măng cụt Nếu điều kiện thuận lợi thì cây ra hoa vào năm thứ 6 — 7, nếu bat lợi thì cây chỉ ra hoa sau 10 — 12 năm từ khi gieo thậm chí đến 15 - 20 năm nếu trồng ở nhiệt độ thấp.
Hoa thường mọc đơn độc hoặc từng cặp ở ngọn các nhánh non. Ở miền Nam, măng cụt ra hoa vào khoảng tháng | — 3 và cho quả chín vào tháng 5 — 8 (khoảng 120 ngày sau 4 khi hoa nở). Hoa hình thành ở những cành từ 2 năm tuổi trở lên. Hoa cứng, mọc từ ngọn của nhánh non, có thể là hoa đơn hoặc hoa kép.
Hoa có 4 đài gồm 2 cánh nhỏ khép chặt ở phía trong và 2 cánh lớn bao bọc bên ngoài. Bốn cánh hoa có màu vàng xanh viền đỏ hoặc đỏ. Trong hoa cái, ta có thể nhìn thấy hoa đực vô sinh gọi là Seaticaminode. Nhị hoa đực rất nhỏ và vô sinh, mang 1 — 3 bao phan (dai 5 — 6mm) hoàn toàn bat thụ.
Hạt chi phát triển được nhờ phôi bat định (do đó cây con trồng từ hạt hoàn toàn giống cây mẹ). Bầu noãn không có cuống, xếp thành hình tròn có 4 — 8 buồng. Cuống nhị cái hay đỉnh bầu nhụy trong hoa có hình dáng tròn, nằm sát ngay màng giống tựa tế bào nằm trong bầu nhụy.4 Quả, hạt Quả nang, còn mang đài hoa ở cuống và núm nhụy ở chóp quả. Vỏ quả khi non có màu xanh đọt chuối, khi chín vỏ đỏ dần rồi chuyền sang tím và tím sam (Thái Thị Hòa và ctv, 2004).
Quả chứa một loại dịch đẳng mau vàng va tiết ra khi quả non bị ton thương. Dịch trong vo quả gồm mangostansterine, phytosterine và tanin được dùng trong dược liệu. Phần thịt bên trong quả chứa 5 — 7 múi màu trắng rat dé tách, các múi có hoặc không mang hạt. Hạt từ những quả chín chỉ sống từ 3 — 5 tuần lễ.
Nếu bảo quản trong điều kiện thích hợp như nhiệt độ 25 °C, độ âm vừa phải thì có thé kéo dai đời sống của hạt măng cụt. Hạt măng cụt không hình thành lá mầm và có thời gian sống ngắn do không hình thành từ thụ phấn. Phần thịt quả chiếm 20% — 30% trọng lượng quả, 19,8% chất khô hòa tan, 4,3% đường khử, 17,5% đường tổng số, 0,5% protein, 0,23% tro va 0,49% acid. Yêu cầu sinh thái cây măng cụt: Măng cụt phát triển tốt ở các vùng nóng ẩm với nhiệt độ khoảng từ 25 - 35°C và độ âm không khí thấp nhất là 80%.
Cây măng cụt không thé sinh trưởng phát triển tốt ở vùng quá khô hay quá âm, yêu cầu lượng mưa thấp nhất phải đạt 1. Trong hai năm đầu trồng ra ruộng sản xuất cây măng cụt cần phải được che bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp đến với cây, trồng xen các loại cây ngắn ngày như chuối che bóng, hoặc che sáng cho cây bằng vật liệu lưới đen (che bớt khoảng 50 - 60% ánh sáng mặt trời) sẽ giúp cho cây phát trién tốt hơn. Cây măng cụt có thé sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tầng canh tác dày, độ pH đất khoảng 5,5 - 7,0 thoát nước tốt và gần nguồn nước tưới.5 Ré Rễ măng cụt là một loại rễ chùm, có nhiều rễ nhỏ phân bố xung quanh thân cây, có hình trụ hoặc hình cầu, tùy thuộc vào loại đất và điều kiện môi trường, có kích thước từ vài milimet đến vài centimet, tùy thuộc vào tuổi cây và điều kiện môi trường, có màu nâu sam hoặc đen, tùy thuộc vào loại đất và điều kiện môi trường. Rễ măng cụt có cầu trúc tế bào phức tạp, bao gồm các tế bào vỏ, tế bào trung tâm và các tế bào mạch dẫn, có chức năng hút nước và chất dinh dưỡng từ đất để nuôi cây.4 Điều kiện ngoại cảnh Cây măng cụt là một loại cây dé trồng, dé chăm sóc.
Cây có thé sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tầng canh tác dày, thoát nước tốt. Măng cụt là loài cây đòi hỏi khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ cao, độ am cao, lượng mưa d6i dào. Điều kiện sinh thái phù hợp của cây măng cụt, cụ thé như sau: - Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp từ 25 - 35°C, phát triển tốt trong điều kiện nóng âm, nhiệt độ thấp hơn 20°C cây phát triển chậm, nhiệt độ từ 38°C trở lên hoặc 5°C trở xuống có thê làm cây chết. - Lượng mưa - am độ: Lượng mưa thích hợp từ 1.
Âm độ thích hợp cho cây phát triển là trên 80%. Trước khi ra hoa, măng cụt cần giai đoạn khô hạn khoảng 20 — 30 ngày, để phân hóa mầm hoa, đây cũng là một ưu điểm thuận lợi cho người dân làm quả. - Đất trồng: Măng cụt có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là đất phù sa, sét pha cát, nhiều hữu cơ, thoát nước và giữ âm, độ pH từ 5,5 - 6,8. Tầng canh tác dày từ 100 em trở lên, mực nước ngầm > 100 cm.
- Ánh sáng: Măng cụt là cây ưa bóng, đặc biệt là thời kỳ kiến thiết cơ bản (4 - 5 năm đầu), việc che bóng cho cây con là rất cần thiết.5 Giá trị sử dụng Măng cụt là loại quả được nhiêu người trên thê giới ưa chuộng, trong măng cụt có chứa nhiêu chat chong oxi hóa, chat xơ, dam và cung cap nhiêu vitamin va chat khoáng như folate và mangan đôi dào. Ngoài ra vỏ mang cụt còn được sử dung vào lợi 6 ít sức khỏe con người như giảm cân, chông viêm, tiêu chảy và một sô bệnh đường ruột khác.6 Giá trị dinh dưỡng Thanh phan dinh dưỡng và công dung: măng cụt là loại quả giàu chất b6 dưỡng. Theo Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (2000), thành phần dinh dưỡng của qua măng cụt trong 100g ăn được đã được phân tích gồm: năng lượng (76 calo); Protein (0,7 g); Lipid (0,8 g); Carbohydrate (18,6 g); Xo (1,3 g); Tro (0,2 g); Canxi (18 mg); Lân (11 mg); Sat (0,3 mg); Vitamin B1 (0,06 mg); Vitamin B2 (0,01 mg); Niacin (0,4 mg); Vitamin C (2 mg).7 Sản xuất và tiêu thu măng cụt trên thế giới và trong nước Theo thống kê toàn thế giới năm 2010 có khoảng 280.000 ha măng cụt với sản lượng khoảng 250.000 tân (FAO, 2010), trong đó Thái Lan năm 2005 là 57.000 ha và sản lượng là 207.000 tấn (AE, 2006), tại Indo năm 2003 là 9.354 ha sản lượng 79.073 tấn (Osman and Milan, 2006), Malai năm 2010 là 7.300 ha sản lượng là 4. Về tình hình xuất khâu năm 2010 xuất khẩu măng cụt của Thái Lan đạt 100.000 tấn, trong đó 50% xuất khẩu đến Trung Quốc, 30% đến Việt Nam, và 20% đến các quốc gia khác (FAO, 2011), Indo xuất khâu măng cut năm 2010 là 2.