Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây măng cụt s* Phân loại Bộ: Maipighiales Ho: Clusiaceae Chi: Garcinia Loai: Garcinia mangoostana 1.1 Đặc điểm thực vật Thân: là cây thân gỗ lớn, cao khoảng 10 — 25 m, đường kính thân khoảng 15 — 35 cm. Thân thang, gốc to ngọn nhỏ dan, tan lá dày, xanh và gọn, dang đẹp. Cành cách đều nhau trên thân, góc cành và thân to, đầu cành hơi rũ xuống. Gỗ thân nặng và bền, thường được sử dụng làm đồ mộc, trang trí.
La: lá măng cụt khá lớn, dài 12 — 25 cm, rộng 7 — 13 cm, dạng hình trứng, dày, mọc đối nhau. Các đường gân hai bên nổi lên, phân bố đều đặn, hình lông chim. Mặt trên lá xanh đen và bóng, mặt dưới lá xanh nhạt và hơi mốc. Khả năng quan hợp của lá kém.
Hoa: hoa đơn hoặc kép ở đầu những cành 1 — 2 năm tuổi. Hoa cứng có cuốn dai 7 —9 em. Kích thước hoa tương đối lớn, khi nở đường kính hoa 4 — 6 em, đài 1,5 — 2 cm. Bôn cánh hoa màu xanh vàng xen lần mảng phớt hông ở tâm.
Hoa măng cut là loại hoa bat toàn, về hình thái là những hoa lưỡng tính nhưng về chức năng thì là hoa cái vì tuy có nhị đực những hoàn toàn bat thụ. Hạt măng cụt không phải hình thành từ phôi đã thụ phấn theo đường hữu tính mà là một phôi giả hình thành không qua thụ phan. Trong điều kiện thuận lợi, cây ra hoa vào năm thứ 6 hoặc năm thứ 7 sau khi gieo, thường thì từ 10 — 12 năm. Ở miền Nam nước ta cây măng cụt ra hoa vào tháng 1 — 3 3 dương lịch va trái chín vào 5 — 9 dương lịch (khoảng 104 — 108 ngày sau khi hoa nở).
Quả và hạt: quả măng cụt thuộc loại quả nang còn mang đài hoa ở cuông và núm nhụy ở đâu quả. Vỏ quả khi sông có màu xanh đọt chuôi, khi chín vỏ đỏ dân, rôi chuyên sang tím và tím sâm. Quả hình cau, đáy phẳng, đường kính 4 — 7 cm, nặng 70 — 100 g. Vỏ quả bóng lang, dày 0,8 — 1 cm, chứa một loại dịch trắng màu vàng tiết ra khi quả non bị thương.
Bên trong quả có 5 — 7 múi trắng, rất dễ tách, cơm không sượng, vị chua ngọt (độ Brix 17— 19 %). Phần thịt quả ăn được chỉ chiếm khoảng 25 — 30 % trọng lượng qua, còn lại là vỏ và hạt. Mỗi múi có một hạt may hoặc lép. Các hạt có màu tim sam được bao bọc bởi một lớp xơ mỏng phát triển bên trong múi.
Hạt dùng để nhân giống, nếu cây càng trồng xa vùng xích đạo thì hạt càng dé bị lép. Phẩm chat quả có thé thay đổi do điều kiện khí hậu khác nhau. Rễ: Theo Suhartanto và ctv (2010), khi quan sát rễ măng cụt ở những cây nhỏ thấy có 1 rễ đuôi chuột dai và rat ít rễ ngang, lông hút hầu như không có ở cả rễ chính cũng như rễ ngang. Vì thế khi trồng nên hạn chế làm đứt rễ cây con.
Rễ măng cụt mọc yếu, ở các cây khoảng 5 — 10 tuôi bộ rễ chủ yếu phân bố ở 30 cm lớp đất mặt và mới chỉ lan rộng độ 1 m tính từ gốc ra.2 Giá trị dinh dưỡng của măng cụt Măng cụt là một loại quả có bị chua ngọt hài hòa và mùi thơm mát đặc trưng. Theo các phân tích từ Philippines và Mỹ cho biết ngoài các muối khoáng và các vitamin, trong 100 g phan ăn được có đường tổng từ 16,4 — 16,8 g; carbohydrat từ 14,3 — 15,6 g; protein từ 0,5 — 0,6 g; chất béo từ 0,1 — 0,6 g; vitamin C từ 1 — 2 mg; cho khoảng 60 — 63 calo/100 g phần ăn được (Morton, 1987). Mang cụt chủ yếu dé ăn tươi, ở một số nước còn dùng dé chế biến. Vỏ quả có chứa nhiều tannin (7 — 14 %) được sử dụng trong công nghiệp thuộc da.
Nước sắc của vỏ quả và cả vỏ cây được dùng để trị bệnh tiêu chảy và kiết ly. Vỏ quả khô nghiền thành bột đề chế thuốc trị bệnh ngoài da như bệnh chàm, ngứa. Gỗ của cây măng cụt già có màu nâu đậm, nặng nên chìm trong nước, được dùng đề đóng tủ, cán dao. Điều kiện ngoại cảnh Măng cụt là một loại cây đòi hỏi điều kiện thổ nhưỡng khắt khe, cần điều kiện khí hậu nóng âm, mưa nhiều và không được trồng lên cao quá vĩ tuyến 10 — 15°.
Cây lớn rất chậm, sau hai ba năm chỉ cao đến đầu gối và chỉ bắt đầu cho quả sau 10— 15 năm trồng, tuổi thọ cây dai, cây già 60 — 70 năm van ra hoa và kết quả tốt. Khí hậu: Măng cụt là cây nhiệt đới xích đạo nên ưa khí hậu nóng và ầm với nhiệt độ khoảng từ 25 — 30°C và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%. Nhiệt độ thấp hon 20°C cây tăng trưởng chậm, khi nhiệt độ từ 38°C trở lên và dưới 5°C có thé làm chết cây. Lượng mưa hang năm thích hợp trên 1.200 mm, phân bồ đều trong năm va không mưa nhiêu ở giai đoạn cây mang trai là tot nhat.
Khi cây còn nhỏ (đưới 5 năm), măng cụt cần râm mát vì vậy phải che bớt ánh nắng trực tiếp bằng vật liệu che chắn hoặc trồng cây che bóng. Đất: cây măng cụt có thê sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là trồng trên đất màu mỡ, giàu hữu cơ, tơi xốp, tầng canh tác day, 4m nhưng thoát nước tốt, gần nguồn nước tốt để có đủ nước tưới trong mùa khô. Dat hơi chua, độ pH từ 5,5 — 7 la thich hop, khéng trong duoc trén dat phén, man.2 Khái niệm nắm cộng sinh Thuật ngữ về “nam rễ” (mycrorrhiza) đã được Frank đưa ra vào năm 1885 dé chỉ mối quan hệ cộng sinh giữa rễ thực vật và nam. Mycorrhiza là thé cộng sinh giữa hệ sợi nam trong đất với rễ của thực vật bậc cao.
Tiếp theo, Gallaud (1905) gọi những cau trúc dạng bụi (chùm) trong tế bào thường được quan sát thay là “arbuscular” (gọi là thé A). Từ “mycorrhiza” có nghĩa là “nam - rễ”, tác giả đã dùng từ này dé nhắn mạnh mỗi quan hệ giữa nam và rễ cây (Roger và ctv, 2004). Năm 2005, Hội nghị Quốc tế về Mycorrhiza lần thứ 17 được tô chức tại Lisboa Bồ Dao Nha đã quyết định lấy tên “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (AMF) dé chỉ loại hình cộng sinh này. Hình thức cộng sinh này đã có cách đây khoảng 400 triệu năm và đóng vai trò quan trọng giúp cây trồng thích nghỉ với sự thay đổi của môi truờng (Jean Dénarié, 5 2011).
Ngày nay, trên thế giới có khoảng 1000 chi thuộc 100 họ thực vật có quan hệ cộng sinh với nam rễ. Theo thong kê của Trappe (1962) có 535 loài nam thuộc 81 chi, 30 họ, 10 bộ nam có thé cộng sinh với trên 1500 loài cây thân gỗ khác nhau. Nam ré nội cộng sinh AM được xác định là mối quan hệ không thé thiếu ở hau hết các loài thực vật (hơn 90% các loài thực vật có khả năng hình thành cộng sinh với nam Arbuscular mycorrhiza). Sự kết hợp đó mang lại lợi ích cho cả thực vật và nam rễ VAM, qua đó, nam VAM có được các hợp chất đồng hóa từ thực vật dé song.
Đồng thời, nhờ nam VAM trễ cây có thé tăng cường khả năng hap thụ nước, các chất hữu cơ hòa tan trong đất đặc biệt là photpho, giúp chống chịu với các yếu tố bệnh hại cũng như các chất độc kim loại nặng. Do đó, có tác dụng cải tạo và ôn định cấu trúc đất, cân bằng hệ sinh thái. Quan hệ cộng sinh này đặc biệt thê hiện vai trò trên những vùng đất khô can, hệ 5 sinh thái bị xáo trộn nghiêm trọng, nghèo dinh dưỡng hay tiềm ân các vật chất độc hại cao. Vì vậy ứng dụng nấm rễ VAM có khả năng áp dụng rộng cho nhiều loài cây lâm nghiệp, không chỉ giúp tạo ra được nguyên liệu cây trồng rừng có chất lượng cao, khả năng thích nghi và năng suất tốt trên những địa hình cằn cỗi mà còn đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai theo mục tiêu mở rộng diện tích trồng rừng nhưng không cạnh tranh với đất trồng cây nông nghiệp, tăng cường hiệu quả sử dụng các vùng đất hoang hóa theo cách bền vững và thân thiện với môi trường.
Mycorrhiza có phân bố ở hầu khắp các nơi, thấy ở cây cỏ, rêu, đương xỉ, một số cây lá kim và hầu hết các cây lá rộng. Sự phổ biến cùng với những vai trò tích cực của nam rễ đã kích thích việc nghiên cứu về mycorrhiza ngày càng mở rộng và sâu sắc hơn. Trong khoảng 20 năm trở lại đây, những nghiên cứu cơ bản được thực hiện bởi hàng trăm các nhà nghiên cứu từ các nước khác nhau trên thế giới đã đem lại nhiều kết quả hết sức ý nghĩa cho ứng dụng mycorrhiza trong hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp và môi trường.3 Thành phần cấu trúc của nam cộng sinh 1.1 Cấu trúc trong rễ: Sợi nam (hypha), bui (arbuscular), tii (vesicle) Soi nam (hypha): Theo Peterson va ctv, (2004) nhận định sự hình thành nam nội sinh VAM liên quan đến hàng loạt các bước từ sự tiếp xúc với rễ đến sự hình thành vòi bám, xâm nhập vào tế bào biểu bì, sự phát triển của sợi nam nội bao và bụi, trong một số trường hợp hình thành túi. Sự cộng sinh có thể bắt đầu từ sự nảy mam của bao tử khi gặp điều kiện thuận lợi, bào tử hình thành ống nam và phát triển thành sợi nắm ngoại bao.
Các sợi nắm này cảm ứng được sự hiện diện của rễ cây và phát triển hướng đến rễ. Dé phát triển tat cả các cấu trúc bên trong, các sol nắm phải tiếp xúc với bề mặt của tế bào biểu bì rễ hoặc lông hút hoặc hình thành một cấu trúc đặc biệt gọi là vòi bám, sau đó xâm nhập vào lớp biểu bì trước khi đến tế bào rễ. Tại những vị trí mà sợi nắm tiếp xúc với bề mặt rễ, nơi mà các vòi bám hình thành và xâm nhập vào rễ gọi là điểm xâm nhiễm. Sợi nắm khi tiếp xúc với bê mặt rê có thê hình thành nhiêu điêm xâm nhiễm.1 Quá trình xâm nhiễm của nam rễ nội cộng sinh VAM trên rễ cây Theo Morton (2000), sợi nắm nội bào không có vách ngăn, dạng thắng hoặc phân nhánh hình chữ H hoặc Y, chúng cũng hình thành dạng cuộn, tần số xuất hiện của chúng 7 phụ thuộc vào vị trí trong rễ và đặc điểm của từng loài nắm.