Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật khảo sát sự hiện diện của nấm rễ nội cộng sinh vesicular arbuscular mycorrhiza trong đất trồng măng cụt tại thuận an bình dương

Khóa luận khảo sát sự hiện diện của nấm rễ nội cộng sinh vesicular arbuscular mycorrhiza trong đất trồng măng cụt tại Thủ Dầu Một, Bình Dương.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2022

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây măng cụt

1.2. Đặc điểm thực vật

1.3. Giá trị dinh dưỡng của măng cụt

1.4. Điều kiện ngoại cảnh

1.5. Khái niệm nấm cộng sinh

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thu thập mẫu đất

2.2.2. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.2.3. Mẫu đất xung quanh vùng rễ cây măng cụt

2.2.4. Nấm cộng sinh VAM trong rễ cây măng cụt

2.2.5. Phương pháp xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm lý hóa tính của đất khu vực lấy mẫu

3.2. Hình thái VAM trong mẫu đất vùng rễ cây măng cụt

3.3. Sự hiện diện của VAM trong mẫu đất

3.4. Sự tương quan giữa VAM với một số đặc tính lý hóa học của đất

3.4.1. Sự tương quan giữa mật độ bào tử chi Acaulospora với phần trăm hạt thịt (%)

3.4.2. Sự tương quan giữa VAM với pH của các loại sa cấu thu thập tại Thuận An

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Khảo Sát Sự Hiện Diện Của Nam Rễ Nội Cộng Sinh

Khảo sát sự hiện diện của nam rễ nội cộng sinh (Vesicular Arbuscular Mycorrhiza) trong đất trồng măng cụt tại Bình Dương là một nghiên cứu quan trọng. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định sự hiện diện của các chi nấm mà còn đánh giá mối tương quan giữa chúng với các đặc điểm lý hóa của đất. Măng cụt, một loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, đang được trồng phổ biến tại Bình Dương. Việc hiểu rõ về sinh thái đất và vai trò của nấm cộng sinh sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

1.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Nam Rễ Nội Cộng Sinh

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các chi nấm VAM trong đất trồng măng cụt và mối tương quan giữa chúng với các đặc điểm lý hóa của đất. Việc này sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho các nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng nấm cộng sinh trong nông nghiệp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Đối Với Nông Nghiệp

Nghiên cứu về nam rễ nội cộng sinh có thể giúp cải thiện chất lượng đất và tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nông nghiệp bền vững và giảm thiểu sử dụng phân bón hóa học.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Khảo Sát Nam Rễ Nội Cộng Sinh

Khảo sát sự hiện diện của nam rễ nội cộng sinh trong đất trồng măng cụt gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự đa dạng của các loại đất và điều kiện sinh thái khác nhau. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và xâm nhiễm của nấm cộng sinh. Ngoài ra, việc thu thập mẫu đất và rễ cũng cần được thực hiện một cách chính xác để đảm bảo tính đại diện.

2.1. Đặc Điểm Đất Trồng Măng Cụt Tại Bình Dương

Đất trồng măng cụt tại Bình Dương có cấu trúc đa dạng, bao gồm đất sét, đất thịt pha sét và các loại đất khác. Sự đa dạng này có thể ảnh hưởng đến sự hiện diện và tỷ lệ xâm nhiễm của nam rễ nội cộng sinh.

2.2. Thách Thức Trong Việc Thu Thập Mẫu

Việc thu thập mẫu đất và rễ cần phải được thực hiện cẩn thận để đảm bảo tính chính xác. Các yếu tố như thời gian thu thập và vị trí lấy mẫu có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

III. Phương Pháp Khảo Sát Nam Rễ Nội Cộng Sinh Trong Đất

Phương pháp khảo sát được áp dụng trong nghiên cứu này bao gồm việc thu thập mẫu đất và rễ từ các vườn măng cụt. Các mẫu sẽ được phân tích để xác định sự hiện diện của nam rễ nội cộng sinh và các chi nấm khác. Phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

3.1. Quy Trình Thu Thập Mẫu Đất

Mẫu đất được thu thập từ các vườn măng cụt có diện tích từ 0,5 đến 2,5 ha. Quy trình thu thập mẫu cần tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo tính đại diện cho khu vực nghiên cứu.

3.2. Phân Tích Mẫu Đất Và Rễ

Mẫu đất và rễ sẽ được phân tích để xác định mật độ bào tử và tỷ lệ xâm nhiễm của nam rễ nội cộng sinh. Các chỉ tiêu lý hóa của đất cũng sẽ được đánh giá để tìm hiểu mối tương quan với sự hiện diện của nấm.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Nam Rễ Nội Cộng Sinh Tại Bình Dương

Kết quả khảo sát cho thấy sự hiện diện của nam rễ nội cộng sinh trong đất trồng măng cụt tại Bình Dương là khá đa dạng. Các chi nấm như Glomus, Acaulospora và Diversispora đã được xác định. Tỷ lệ xâm nhiễm của nấm cũng cho thấy sự khác biệt giữa các loại đất, điều này cho thấy ảnh hưởng của cấu trúc đất đến sự phát triển của nấm.

4.1. Đặc Điểm Của Các Chi Nấm VAM

Các chi nấm VAM được xác định trong nghiên cứu bao gồm Glomus, Acaulospora và Diversispora. Trong đó, chi Glomus có tỷ lệ xâm nhiễm cao nhất, cho thấy vai trò quan trọng của nó trong hệ sinh thái đất.

4.2. Mối Tương Quan Giữa Nấm VAM Và Đặc Điểm Đất

Kết quả phân tích cho thấy có sự tương quan giữa mật độ bào tử của chi Acaulospora với tỷ lệ phần trăm thịt trong đất. Điều này cho thấy ảnh hưởng của các đặc điểm lý hóa của đất đến sự phát triển của nam rễ nội cộng sinh.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Nam Rễ Nội Cộng Sinh

Nghiên cứu về nam rễ nội cộng sinh có thể được ứng dụng trong thực tiễn nông nghiệp để cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng. Việc áp dụng nấm cộng sinh có thể giúp giảm thiểu sử dụng phân bón hóa học và cải thiện độ phì nhiêu của đất. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nông nghiệp bền vững.

5.1. Tăng Cường Năng Suất Cây Trồng

Việc ứng dụng nam rễ nội cộng sinh trong canh tác măng cụt có thể giúp tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng và nước, từ đó nâng cao năng suất cây trồng.

5.2. Giảm Thiểu Sử Dụng Phân Bón Hóa Học

Nấm cộng sinh có khả năng cải thiện độ phì nhiêu của đất, giúp giảm thiểu việc sử dụng phân bón hóa học. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn bảo vệ môi trường.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Nam Rễ Nội Cộng Sinh

Nghiên cứu về nam rễ nội cộng sinh trong đất trồng măng cụt tại Bình Dương đã cung cấp những thông tin quý giá về sự hiện diện và vai trò của nấm trong hệ sinh thái đất. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng nấm cộng sinh trong nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.

6.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Nấm Cộng Sinh

Nghiên cứu về nam rễ nội cộng sinh sẽ tiếp tục được mở rộng để tìm hiểu sâu hơn về vai trò của nấm trong các loại cây trồng khác nhau. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

6.2. Khuyến Khích Ứng Dụng Trong Nông Nghiệp

Việc khuyến khích ứng dụng nam rễ nội cộng sinh trong canh tác sẽ giúp cải thiện chất lượng đất và tăng cường năng suất cây trồng, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật khảo sát sự hiện diện của nấm rễ nội cộng sinh vesicular arbuscular mycorrhiza trong đất trồng măng cụt tại thuận an bình dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây măng cụt s* Phân loại Bộ: Maipighiales Ho: Clusiaceae Chi: Garcinia Loai: Garcinia mangoostana 1.1 Đặc điểm thực vật Thân: là cây thân gỗ lớn, cao khoảng 10 — 25 m, đường kính thân khoảng 15 — 35 cm. Thân thang, gốc to ngọn nhỏ dan, tan lá dày, xanh và gọn, dang đẹp. Cành cách đều nhau trên thân, góc cành và thân to, đầu cành hơi rũ xuống. Gỗ thân nặng và bền, thường được sử dụng làm đồ mộc, trang trí.

La: lá măng cụt khá lớn, dài 12 — 25 cm, rộng 7 — 13 cm, dạng hình trứng, dày, mọc đối nhau. Các đường gân hai bên nổi lên, phân bố đều đặn, hình lông chim. Mặt trên lá xanh đen và bóng, mặt dưới lá xanh nhạt và hơi mốc. Khả năng quan hợp của lá kém.

Hoa: hoa đơn hoặc kép ở đầu những cành 1 — 2 năm tuổi. Hoa cứng có cuốn dai 7 —9 em. Kích thước hoa tương đối lớn, khi nở đường kính hoa 4 — 6 em, đài 1,5 — 2 cm. Bôn cánh hoa màu xanh vàng xen lần mảng phớt hông ở tâm.

Hoa măng cut là loại hoa bat toàn, về hình thái là những hoa lưỡng tính nhưng về chức năng thì là hoa cái vì tuy có nhị đực những hoàn toàn bat thụ. Hạt măng cụt không phải hình thành từ phôi đã thụ phấn theo đường hữu tính mà là một phôi giả hình thành không qua thụ phan. Trong điều kiện thuận lợi, cây ra hoa vào năm thứ 6 hoặc năm thứ 7 sau khi gieo, thường thì từ 10 — 12 năm. Ở miền Nam nước ta cây măng cụt ra hoa vào tháng 1 — 3 3 dương lịch va trái chín vào 5 — 9 dương lịch (khoảng 104 — 108 ngày sau khi hoa nở).

Quả và hạt: quả măng cụt thuộc loại quả nang còn mang đài hoa ở cuông và núm nhụy ở đâu quả. Vỏ quả khi sông có màu xanh đọt chuôi, khi chín vỏ đỏ dân, rôi chuyên sang tím và tím sâm. Quả hình cau, đáy phẳng, đường kính 4 — 7 cm, nặng 70 — 100 g. Vỏ quả bóng lang, dày 0,8 — 1 cm, chứa một loại dịch trắng màu vàng tiết ra khi quả non bị thương.

Bên trong quả có 5 — 7 múi trắng, rất dễ tách, cơm không sượng, vị chua ngọt (độ Brix 17— 19 %). Phần thịt quả ăn được chỉ chiếm khoảng 25 — 30 % trọng lượng qua, còn lại là vỏ và hạt. Mỗi múi có một hạt may hoặc lép. Các hạt có màu tim sam được bao bọc bởi một lớp xơ mỏng phát triển bên trong múi.

Hạt dùng để nhân giống, nếu cây càng trồng xa vùng xích đạo thì hạt càng dé bị lép. Phẩm chat quả có thé thay đổi do điều kiện khí hậu khác nhau. Rễ: Theo Suhartanto và ctv (2010), khi quan sát rễ măng cụt ở những cây nhỏ thấy có 1 rễ đuôi chuột dai và rat ít rễ ngang, lông hút hầu như không có ở cả rễ chính cũng như rễ ngang. Vì thế khi trồng nên hạn chế làm đứt rễ cây con.

Rễ măng cụt mọc yếu, ở các cây khoảng 5 — 10 tuôi bộ rễ chủ yếu phân bố ở 30 cm lớp đất mặt và mới chỉ lan rộng độ 1 m tính từ gốc ra.2 Giá trị dinh dưỡng của măng cụt Măng cụt là một loại quả có bị chua ngọt hài hòa và mùi thơm mát đặc trưng. Theo các phân tích từ Philippines và Mỹ cho biết ngoài các muối khoáng và các vitamin, trong 100 g phan ăn được có đường tổng từ 16,4 — 16,8 g; carbohydrat từ 14,3 — 15,6 g; protein từ 0,5 — 0,6 g; chất béo từ 0,1 — 0,6 g; vitamin C từ 1 — 2 mg; cho khoảng 60 — 63 calo/100 g phần ăn được (Morton, 1987). Mang cụt chủ yếu dé ăn tươi, ở một số nước còn dùng dé chế biến. Vỏ quả có chứa nhiều tannin (7 — 14 %) được sử dụng trong công nghiệp thuộc da.

Nước sắc của vỏ quả và cả vỏ cây được dùng để trị bệnh tiêu chảy và kiết ly. Vỏ quả khô nghiền thành bột đề chế thuốc trị bệnh ngoài da như bệnh chàm, ngứa. Gỗ của cây măng cụt già có màu nâu đậm, nặng nên chìm trong nước, được dùng đề đóng tủ, cán dao. Điều kiện ngoại cảnh Măng cụt là một loại cây đòi hỏi điều kiện thổ nhưỡng khắt khe, cần điều kiện khí hậu nóng âm, mưa nhiều và không được trồng lên cao quá vĩ tuyến 10 — 15°.

Cây lớn rất chậm, sau hai ba năm chỉ cao đến đầu gối và chỉ bắt đầu cho quả sau 10— 15 năm trồng, tuổi thọ cây dai, cây già 60 — 70 năm van ra hoa và kết quả tốt. Khí hậu: Măng cụt là cây nhiệt đới xích đạo nên ưa khí hậu nóng và ầm với nhiệt độ khoảng từ 25 — 30°C và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%. Nhiệt độ thấp hon 20°C cây tăng trưởng chậm, khi nhiệt độ từ 38°C trở lên và dưới 5°C có thé làm chết cây. Lượng mưa hang năm thích hợp trên 1.200 mm, phân bồ đều trong năm va không mưa nhiêu ở giai đoạn cây mang trai là tot nhat.

Khi cây còn nhỏ (đưới 5 năm), măng cụt cần râm mát vì vậy phải che bớt ánh nắng trực tiếp bằng vật liệu che chắn hoặc trồng cây che bóng. Đất: cây măng cụt có thê sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là trồng trên đất màu mỡ, giàu hữu cơ, tơi xốp, tầng canh tác day, 4m nhưng thoát nước tốt, gần nguồn nước tốt để có đủ nước tưới trong mùa khô. Dat hơi chua, độ pH từ 5,5 — 7 la thich hop, khéng trong duoc trén dat phén, man.2 Khái niệm nắm cộng sinh Thuật ngữ về “nam rễ” (mycrorrhiza) đã được Frank đưa ra vào năm 1885 dé chỉ mối quan hệ cộng sinh giữa rễ thực vật và nam. Mycorrhiza là thé cộng sinh giữa hệ sợi nam trong đất với rễ của thực vật bậc cao.

Tiếp theo, Gallaud (1905) gọi những cau trúc dạng bụi (chùm) trong tế bào thường được quan sát thay là “arbuscular” (gọi là thé A). Từ “mycorrhiza” có nghĩa là “nam - rễ”, tác giả đã dùng từ này dé nhắn mạnh mỗi quan hệ giữa nam và rễ cây (Roger và ctv, 2004). Năm 2005, Hội nghị Quốc tế về Mycorrhiza lần thứ 17 được tô chức tại Lisboa Bồ Dao Nha đã quyết định lấy tên “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (AMF) dé chỉ loại hình cộng sinh này. Hình thức cộng sinh này đã có cách đây khoảng 400 triệu năm và đóng vai trò quan trọng giúp cây trồng thích nghỉ với sự thay đổi của môi truờng (Jean Dénarié, 5 2011).

Ngày nay, trên thế giới có khoảng 1000 chi thuộc 100 họ thực vật có quan hệ cộng sinh với nam rễ. Theo thong kê của Trappe (1962) có 535 loài nam thuộc 81 chi, 30 họ, 10 bộ nam có thé cộng sinh với trên 1500 loài cây thân gỗ khác nhau. Nam ré nội cộng sinh AM được xác định là mối quan hệ không thé thiếu ở hau hết các loài thực vật (hơn 90% các loài thực vật có khả năng hình thành cộng sinh với nam Arbuscular mycorrhiza). Sự kết hợp đó mang lại lợi ích cho cả thực vật và nam rễ VAM, qua đó, nam VAM có được các hợp chất đồng hóa từ thực vật dé song.

Đồng thời, nhờ nam VAM trễ cây có thé tăng cường khả năng hap thụ nước, các chất hữu cơ hòa tan trong đất đặc biệt là photpho, giúp chống chịu với các yếu tố bệnh hại cũng như các chất độc kim loại nặng. Do đó, có tác dụng cải tạo và ôn định cấu trúc đất, cân bằng hệ sinh thái. Quan hệ cộng sinh này đặc biệt thê hiện vai trò trên những vùng đất khô can, hệ 5 sinh thái bị xáo trộn nghiêm trọng, nghèo dinh dưỡng hay tiềm ân các vật chất độc hại cao. Vì vậy ứng dụng nấm rễ VAM có khả năng áp dụng rộng cho nhiều loài cây lâm nghiệp, không chỉ giúp tạo ra được nguyên liệu cây trồng rừng có chất lượng cao, khả năng thích nghi và năng suất tốt trên những địa hình cằn cỗi mà còn đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai theo mục tiêu mở rộng diện tích trồng rừng nhưng không cạnh tranh với đất trồng cây nông nghiệp, tăng cường hiệu quả sử dụng các vùng đất hoang hóa theo cách bền vững và thân thiện với môi trường.

Mycorrhiza có phân bố ở hầu khắp các nơi, thấy ở cây cỏ, rêu, đương xỉ, một số cây lá kim và hầu hết các cây lá rộng. Sự phổ biến cùng với những vai trò tích cực của nam rễ đã kích thích việc nghiên cứu về mycorrhiza ngày càng mở rộng và sâu sắc hơn. Trong khoảng 20 năm trở lại đây, những nghiên cứu cơ bản được thực hiện bởi hàng trăm các nhà nghiên cứu từ các nước khác nhau trên thế giới đã đem lại nhiều kết quả hết sức ý nghĩa cho ứng dụng mycorrhiza trong hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp và môi trường.3 Thành phần cấu trúc của nam cộng sinh 1.1 Cấu trúc trong rễ: Sợi nam (hypha), bui (arbuscular), tii (vesicle) Soi nam (hypha): Theo Peterson va ctv, (2004) nhận định sự hình thành nam nội sinh VAM liên quan đến hàng loạt các bước từ sự tiếp xúc với rễ đến sự hình thành vòi bám, xâm nhập vào tế bào biểu bì, sự phát triển của sợi nam nội bao và bụi, trong một số trường hợp hình thành túi. Sự cộng sinh có thể bắt đầu từ sự nảy mam của bao tử khi gặp điều kiện thuận lợi, bào tử hình thành ống nam và phát triển thành sợi nắm ngoại bao.

Các sợi nắm này cảm ứng được sự hiện diện của rễ cây và phát triển hướng đến rễ. Dé phát triển tat cả các cấu trúc bên trong, các sol nắm phải tiếp xúc với bề mặt của tế bào biểu bì rễ hoặc lông hút hoặc hình thành một cấu trúc đặc biệt gọi là vòi bám, sau đó xâm nhập vào lớp biểu bì trước khi đến tế bào rễ. Tại những vị trí mà sợi nắm tiếp xúc với bề mặt rễ, nơi mà các vòi bám hình thành và xâm nhập vào rễ gọi là điểm xâm nhiễm. Sợi nắm khi tiếp xúc với bê mặt rê có thê hình thành nhiêu điêm xâm nhiễm.1 Quá trình xâm nhiễm của nam rễ nội cộng sinh VAM trên rễ cây Theo Morton (2000), sợi nắm nội bào không có vách ngăn, dạng thắng hoặc phân nhánh hình chữ H hoặc Y, chúng cũng hình thành dạng cuộn, tần số xuất hiện của chúng 7 phụ thuộc vào vị trí trong rễ và đặc điểm của từng loài nắm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Khảo Sát Sự Hiện Diện Của Nam Rễ Nội Cộng Sinh Trong Đất Trồng Măng Cụt Tại Bình Dương" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự hiện diện của các loại nấm rễ nội cộng sinh trong đất trồng măng cụt tại Bình Dương. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây măng cụt mà còn chỉ ra tầm quan trọng của nấm rễ trong việc cải thiện sức khỏe đất và năng suất cây trồng. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về cách thức mà các loại nấm này tương tác với cây trồng, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn canh tác để nâng cao hiệu quả sản xuất.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nông học đánh giá khả năng thay thế phân vô cơ bằng phân bón hữu cơ trên cây măng cụt garcinia mangostana l tại huyện dầu tiếng tỉnh bình dương. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp bón phân hữu cơ và tác động của chúng đến sự phát triển của cây măng cụt, từ đó tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về việc cải thiện năng suất cây trồng trong khu vực.