Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan về cây ớt cay 1.1 Nguồn gốc Theo Berke (2002) ớt (Capsicum flutescens L.) có nguồn gốc ở Nam và Trung Mỹ, các thương nhân người Bồ Dao Nha đã đem ớt vào các nước An Độ, Indonesia và những nước châu Á khác khoảng 400 — 500 năm trước đây và nhanh chóng thích ứng với nhiều vùng sinh thái nông nghiệp, được nước bản xứ ưa thích. Năm 1542, nhà thực vật học người Đức Leohard Fuchs đã ghi nhận ớt là cây gốc ở Ấn Độ. Ngày nay, ớt được trồng rộng rãi ở nhiều nước trong vùng và là một phần không thể thiếu trong các món ăn địa phương như sabal ở Indonesia, lâu cay ở Thái Lan, kim chi ở Hàn Quốc, cà ri ở An Độ. Ở Việt Nam, cây ớt được trồng chủ yếu ở miền Trung và Nam Bộ, một số tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng cũng đã bắt đầu trồng ớt với diện tích lớn, nhằm cung cấp nguyên vật liệu cho các nhà máy, các công ty sản xuất các mặt hàng thực phẩm dé tiêu thụ và xuất khâu, đem lại lợi nhuận cao.2 Phân loại thực vật học Theo bảng phân loại mới nhất, ớt có 5 loài được canh tác chính trong tổng số 30 loài ớt.
Loài Capsicum annuum L., loài Capsicum frutescens L., loài Capsicum chinense jacquin, loài Capsicum pendulum wildenow var pendulum L. và loài Capsicum pubescens Ruiz and Pavon. Các loài ớt trồng chủ yếu được phân biệt bởi cấu trúc hoa va đặc điểm qua. Ot cay quả to, dai và ớt ngọt thuộc về loài Capsicum annuum.
(Mai Thị Phương Anh, 1996) Theo phân loại khoa học thi Capsicum frutescens L. thuộc: Bộ (ordo): Solanales Ho (familia): Solanaceae Chi (genus): Capsicum Loài (species): Capsicum frutescens L.3 Đặc điểm thực vật hoc Theo Mai Thị Phương Anh (1999), cây ớt có đặc điểm thực vật như sau: Thân: ớt là cây bụi thân gỗ 2 lá mầm, thân thường mọc thắng, đôi khi có thể gặp các dạng (giống) có thân bò, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5 - 1,5 m, có thé là cây hàng năm hoặc lâu năm nhưng thường được gieo trồng như cây hàng năm. Rễ: ban đầu ớt có rễ cọc phát triển mạnh với rất nhiều rễ phụ. Do việc cấy chuyên, rễ cọc đứt, một hệ rễ chùm khỏe phát triển, vì thế nhiều lầm tưởng ớt có hệ rễ chùm.
Lá: thường ớt có lá đơn mọc xoắn trên thân chính. Lá có nhiều dạng khác nhau, nhưng thường gặp nhất là dạng lá mác, trứng ngược, mép lá ít răng cưa. Lông trên lá phụ thuộc vào các loài khác nhau, một số loài có mùi thơm. Lá thường mỏng có kích thước trung bình 1,5 - 12 cm x 0,5 - 7,5 cm.
Hoa: các hoa hoàn thiện và quả thường được sinh đơn độc trên từng nách lá, chỉ có loài Capsicum Chinese thường có 2 - 5 hoa trên một nách lá. Hoa có thé mọc thang đứng hoặc buông thõng. Trên hoa cuống thường không có tầng rời. Hoa thường có màu trắng, một số giống có màu sữa, xanh lam và tía (tím).
Hoa có 5 - 7 cánh hoa, cuống hoa dai khoảng 1,5 cm, đài ngắn có dang chuông 5 - 7 răng dài khoảng 2 mm bọc lay quả. Nhụy đơn giản có màu trang hoặc tím, đầu nhụy có dạng hình đầu. Hoa có 5 - 7 nhị đực với ông phần màu xanh da trời hoặc tia trong khi ở nhóm Capsicum frutescens và Capsicum chinense có màu ông phan màu trắng xanh, còn có thé phân biệt các nhóm ớt theo màu đốm chấm ở gốc của cánh hoa. Kích thước của hoa cũng phụ thuộc vào các loài khác nhau, nhưng nói chung đường kính cánh hoa từ 8 - 15 mm.
Quả: thuộc loại quả mọng có rất nhiều hạt với thịt quả nhăn và chia làm hai ngăn. Các giống khác nhau có kích thước quả, hình dạng, độ nhọn, màu sắc, độ cay và độ mềm của thịt quả rất khác nhau. Quả chưa chín có thể có màu xanh hoặc tím, quả chín có màu đỏ, da cam, vàng, nâu, màu kem hoặc hơi tím. Hat: hat có dang thận và màu vàng rom, chỉ có hạt của Capsicum pubescens cô màu đen.
Hạt có chiều dài khoảng 3 - 5 mm. Một gram hạt ớt ngọt có khoảng 160 hạt, còn hạt ớt cay khoảng 220 hạt. Đề trồng 1 hecta ớt cần khoảng 400 gram hạt.4 Điều kiện sinh thái Nhiệt độ: Theo (Mai Thị Phương Anh, 1996) nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu quả. Nhiệt độ đất 10°C làm sinh trưởng chậm, còn nhiệt độ 17°C cây sinh trưởng bình thường, ở nhiệt độ > 30°C phần trên sinh trưởng bình thường nhưng rễ ngưng sinh trưởng.
Nhiệt độ ngày/ đêm bằng 25/18°C là thích hợp nhất cho sinh trưởng, phát trién, năng suất, chất lượng và số hạt/ quả. Nhiệt độ ban đêm thấp (8 — 10°C va 15°C) làm giảm tỉ lệ đậu quả và thường sinh ra quả không hạt, nhiệt độ thích hợp nhất là 20°C trong giai đoạn nở hoa. Ánh sáng: Gt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn, nếu chiếu sáng 9 — 10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng sản phẩm khoảng 21 — 24% và tăng chất lượng quả. Nếu ánh sáng mặt trời giảm 30% thì sẽ tăng năng suất gấp đôi ở ớt ngọt do tăng số quả và kích thước quả.
Âm độ: Gt rat thích hợp với thời tiết 4m, 4m nhưng trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích quá trình chín quả quả. Ớt là cây chịu hạn, âm độ đất thấp nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả nhưng làm tăng tỷ lệ rụng quả. Tốt nhất duy trì độ âm đồng ruộng khoảng 70 - 80%. Nếu độ âm quá cao rễ sinh trưởng kém, cây sẽ bị còi cọc (Mai Thị Phương Anh, 1999).
Đất và dinh dưỡng: Ớt là cây trồng tương đối dễ tính, đặc biệt là ớt cay. Đất phù hợp nhất là đất thịt nhẹ, giàu canxi, ớt cũng có thể sinh trưởng, cho năng suất ở trên đất cát nhưng phải dam bảo chế độ nước và bón phân day đủ. Dat chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt sinh trưởng và phát triển (Mai Thị Phương Anh, 1999).2 Các giai đoạn sinh trưởng cây ớt Nay mam: Tính từ khi gieo đến khi 2 lá mam (8 - 10 ngày sau khi gieo) Yêu cầu nhiệt độ: 25 - 30°C, am độ 70 - 80%. Thời kỳ cây con: (2 lá mầm đến 5, 6 lá thật) Thời gian khoảng 30 - 40 ngày sau khi gieo.
Yêu cầu nhiệt độ 18 - 20°C, âm độ đất 80%. Thời kỳ hồi xanh: sau trồng 5 - 7 ngày. Yêu cau nhiệt độ: 18 - 20°C, am độ đất 80%. Thời kỳ phân cành: 20 - 25 ngày sau trồng.
Yêu cầu âm độ 70%, yêu cầu đạm, lân, kali nhưng nồng độ thấp. Thời kỳ ra hoa: sau trồng 40 - 45 ngày. Yêu cầu tối đa về dinh dưỡng, nước, nhiệt độ 20 - 25°C, âm độ đất 80 - 90%. Thời kỳ ra quả và chín - Ra quả đợt 1: 50 - 60 ngày sau trồng.
- Thu hoạch quả đợt 1: 90 - 100 ngày sau trồng. - Thu hoạch quả đợt 2 đến thu quả đợt cuối cùng: trên 110 ngày sau trồng.3 Tình hình sản xuất 6t trên thế giới và trong nước 1.1 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới Năm 2003, diện tích trồng ớt trên thế giới vào khoảng 1.000 ha cho mục dich lay quả tươi và khoảng 1.000 ha đề làm ớt khô. Năm 2009, điện tích ớt trên toàn thé giới là 1,81 triệu ha cho mục đích lấy quả tươi, với sản lượng 28,07 triệu tan. Diện tích sản xuất ớt khô 1,91 triệu ha, với sản lượng 31,38 triệu tấn.
Các nước nhập khẩu và xuất khẩu ớt quan trọng nhất bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Pakistan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ (Nguyễn Thanh Phong, 201 1).1 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới giai đoạn 2018 -2021 Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (nghìn tan) 2018 2.286,84 (FAOSTAT, 2023) Theo FAO (2023), từ năm 2018 đến nay diện tích và năng suất, sản lượng đều có sự biến động. Diện tích đất trồng ớt đạt cao nhất vào năm 2021 (2. Năng suất có chiều hướng giảm và tăng lại qua các năm. Cụ thể năng suất đạt cao nhất vào năm 2019 đạt (18,11 tan/ha).
Sản lượng cao nhất vào năm 2021 thu được 36.286,84 nghìn tan Bảng 1.2 Sản lượng ớt của các khu vực trên thé giới năm 2021 Khu vực Sản lượng (triệu tan) Tỉ lệ (%) Châu Á 24,65 67,9% Chau My 4,18 11,5% Chau Au 3,92 10,8% Chau Phi 3,47 9,56% Chau Dai Duong 0,06 0,16% (FAOSTAT, 2023) Năm 2021 có sự chênh lệch sản lượng ớt của các khu vực trên thế giới. Chau A là khu vực có sản lượng trung bình ớt cao nhất trên thế giới chiếm 67,9%. Và Châu Dai Duong là khu vực có sản lượng óớt trung bình thấp nhất chiếm 0,16%.2 Tình hình sản xuất ớt tại Việt Nam Ở nước ta, ớt thường được gieo trồng vào 2 vụ chính là: Vụ đông xuân, gieo hạt từ tháng 10 đến tháng 2, trồng vào tháng 1-2 và thu hoạch vào tháng 4-5. Vụ đông: gieo hạt tháng 6-7, trồng tháng 8-9, thu tháng 1-2.
Ngoài ra, có thé trồng ớt trong vụ xuân hè: gieo hạt tháng 2-3, trồng tháng 3-4, thu hoạch vào tháng 7-8 (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996). Mặc dù cây ớt ở nước ta trồng từ lâu đời nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Trung (Quảng Binh, Quang Tri), vùng ven đô, khu vực đông dân cư (Hà Nội, Thai Bình, Hải Hung, Vĩnh Phúc ). Vùng chuyên ớt đã được hình thành ở Quảng Bình, Quang Tri, Thừa Thiên Hué. Trước đây, hàng năm nước ta xuất khẩu sang Liên Xô khoảng 4500 tấn ớt bột, những năm gan đây một số công ty của Dai Loan đã ký hợp đồng mua ớt cay tươi hoặc muối chua của Việt Nam.
Năm 2007, Trung Quốc, Singapores, An Độ là những thị trường nhập khẩu ớt chủ yếu của nước ta. Giá nhập khẩu ớt khô của nước ta tăng rất mạnh, nhập khẩu sang thị trường Trung Quốc từ 1800 — 3280 USD/tan, nhập sang thị trường Singapores và An Độ khoảng 350 USD/tan (Nguyễn Phúc, 2008).3 Diện tích sản xuất, năng suất, sản lượng ớt tại Việt Nam (2018 - 2021) Năm Diện tích (nghinha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (nghìn tấn) 2018 68,41 1,43 98,72 2019 67,11 1,49 100 2020 67,42 1,45 98,38 2021 67,65 1,46 99,04 (FAOSTAT, 2023) 1.4 Nhu cầu dinh dưỡng cho cây ót Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Ninh Thuận (2018): - Ớt là cây có năng suất cao, có thời gian sinh trưởng dài lại vừa ra hoa ra quả, quả lớn cùng một lúc do vậy yêu cầu nhiều dinh dưỡng. - Ớt cần dinh dưỡng nhiều về số lượng và chất lượng. Vì vậy sử dụng phân bón thích hợp sẽ nâng cao năng suất, chất lượng ớt.