Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của ph và nhiệt độ nước ngâm đến sự biến đổi axit gamma aminobutyric axit phytic và thành phần hóa học của đậu xanh nảy mầm

Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng của pH và nhiệt độ nước ngâm đến biến đổi axit gamma aminobutyric, axit phytic và thành phần hóa học trong đậu xanh nảy mầm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

49
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.2.1. Giới thiệu chung về đậu xanh

1.2.2. Nguồn gốc và đặc điểm của đậu xanh

1.2.3. Cấu tạo và thành phần hóa học của hạt đậu xanh

1.2.4. Công dụng của cây đậu xanh

1.2.5. Sự nảy mầm của hạt và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình nảy mầm

1.2.5.1. Sự nảy mầm của hạt
1.2.5.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm
1.2.5.3. Hạt đậu xanh nảy mầm

1.3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1. Vật liệu nghiên cứu và hóa chất

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.3.3. Phương pháp nghiên cứu. Bố trí thí nghiệm

1.3.4. Phương pháp xử lý số liệu

1.4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1.4.1. Thành phần hóa học của hạt đậu xanh nguyên liệu

1.4.2. Hàm lượng chất khô tổng số trong hạt đậu xanh nảy mầm

1.4.3. Hàm lượng Lipid trong hạt đậu xanh nảy mầm

1.4.4. Hàm lượng protein trong hạt đậu xanh nảy mầm

1.4.5. Hàm lượng axit gamma- aminobutyric trong hạt đậu xanh nảy mầm

1.4.6. Hàm lượng axit phytic trong hạt đậu xanh nảy mầm

1.5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến quá trình nảy mầm của đậu xanh

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá tác động môi trường của pHnhiệt độ đến quá trình nảy mầm của đậu xanh. pHnhiệt độ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự biến đổi các chất dinh dưỡng trong hạt đậu xanh, đặc biệt là GABAaxit phytic. Kết quả cho thấy, pH tối ưu cho quá trình nảy mầm là từ 6.0 đến 7.0, trong khi nhiệt độ tối ưu dao động từ 25°C đến 30°C. Điều kiện này giúp tăng cường hoạt động của các enzyme nội bào, thúc đẩy sự thủy phân các hợp chất cao phân tử thành các chất dinh dưỡng dễ hấp thụ.

1.1. Tác động của pH đến quá trình nảy mầm

pH của nước ngâm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các enzyme trong hạt đậu xanh. Khi pH quá thấp hoặc quá cao, hoạt động của enzyme bị ức chế, dẫn đến giảm hiệu quả của quá trình nảy mầm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, pH từ 6.0 đến 7.0 là điều kiện lý tưởng để kích thích sự biến đổi của GABA và giảm hàm lượng axit phytic.

1.2. Tác động của nhiệt độ đến quá trình nảy mầm

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ nảy mầm và sự biến đổi các chất dinh dưỡng. Nhiệt độ quá thấp làm chậm quá trình hút nước và hoạt động của enzyme, trong khi nhiệt độ quá cao có thể gây tổn thương tế bào. Nghiên cứu xác định nhiệt độ tối ưu từ 25°C đến 30°C giúp tăng cường sự biến đổi của GABA và giảm axit phytic.

II. Biến đổi GABA và axit phytic trong đậu xanh nảy mầm

Quá trình nảy mầm của đậu xanh dẫn đến sự biến đổi đáng kể của GABAaxit phytic. GABA, một amino axit có lợi cho sức khỏe, tăng lên đáng kể trong quá trình nảy mầm do sự hoạt hóa của enzyme glutamate decarboxylase. Ngược lại, axit phytic, một hợp chất phản dinh dưỡng, giảm đi nhờ sự phân hủy bởi enzyme phytase. Nghiên cứu chỉ ra rằng, điều kiện pHnhiệt độ tối ưu giúp tối đa hóa sự biến đổi này.

2.1. Sự gia tăng GABA trong quá trình nảy mầm

GABA là một chất có lợi cho sức khỏe, giúp giảm căng thẳng và cải thiện chức năng thần kinh. Trong quá trình nảy mầm, hàm lượng GABA tăng lên đáng kể nhờ sự hoạt hóa của enzyme glutamate decarboxylase. Nghiên cứu cho thấy, điều kiện pH từ 6.0 đến 7.0 và nhiệt độ từ 25°C đến 30°C là tối ưu để tăng cường sự tổng hợp GABA.

2.2. Sự giảm axit phytic trong quá trình nảy mầm

Axit phytic là một hợp chất phản dinh dưỡng, có khả năng liên kết với các khoáng chất và protein, làm giảm giá trị dinh dưỡng của thực phẩm. Trong quá trình nảy mầm, axit phytic bị phân hủy bởi enzyme phytase. Nghiên cứu chỉ ra rằng, điều kiện pHnhiệt độ tối ưu giúp giảm đáng kể hàm lượng axit phytic, cải thiện giá trị dinh dưỡng của đậu xanh.

III. Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến thành phần hóa học của đậu xanh nảy mầm

Nghiên cứu cũng đánh giá tác động môi trường của pHnhiệt độ đến các thành phần hóa học khác trong đậu xanh nảy mầm, bao gồm chất khô, protein, và lipid. Kết quả cho thấy, điều kiện pHnhiệt độ tối ưu không chỉ cải thiện hàm lượng GABA và giảm axit phytic, mà còn duy trì và tăng cường các chất dinh dưỡng khác trong hạt đậu xanh.

3.1. Ảnh hưởng đến hàm lượng chất khô

Chất khô là một chỉ số quan trọng đánh giá giá trị dinh dưỡng của đậu xanh nảy mầm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, điều kiện pH từ 6.0 đến 7.0 và nhiệt độ từ 25°C đến 30°C giúp duy trì hàm lượng chất khô ở mức cao, đảm bảo giá trị dinh dưỡng của hạt.

3.2. Ảnh hưởng đến hàm lượng protein và lipid

Proteinlipid là hai thành phần dinh dưỡng quan trọng trong đậu xanh. Nghiên cứu cho thấy, điều kiện pHnhiệt độ tối ưu giúp duy trì và tăng cường hàm lượng proteinlipid, cải thiện giá trị dinh dưỡng của hạt đậu xanh sau quá trình nảy mầm.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đậu xanh (Vigna radiate (L.) Wiliczek) là một trong những cây họ đậu có giá trị dinh dưỡng cao và có nhiều giá trị sử dụng trong đời sống. Nó được xem là cây họ đậu quan trọng hàng đầu của Thái Lan, Philippine, Srilanka, Ấn Độ, Mianma, Indonexia và Bangladet (Nguyễn Thanh Tuấn, 2020). Tại Việt Nam, cây đậu xanh đã được trồng từ lâu đời ở các vùng đồng bằng, trung du và miền núi xuyên suốt từ Bắc đến Nam. Đậu xanh là nguồn cung cấp protein, glucid cho con người và nhiều thành phần dinh dưỡng khác như vitamin, khoáng chất giúp con người hấp thu đầy đủ các dưỡng chất cần thiết.

Hạt đậu xanh là nguyên liệu quan trọng để có thể chế biến ra nhiều sản phẩm đa dạng, có giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng trong đời sống cao như: được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất các loại bánh kẹo, bột dinh dưỡng, miến đậu xanh. Và không thể không kể đến đó là “giá” đậu xanh (Trần Thị Uyên, 2017). Giá đậu xanh là loại rau mầm có tốc độ sinh trưởng nhanh, thời gian sinh trưởng ngắn nên sự biến đổi chất lượng dinh dưỡng xảy ra nhanh chóng. Trong suốt quá trình nảy mầm, các enzyme nội bào được hoạt hóa và các hợp chất dự trữ như protein, carbohydrate được thủy phân tạo thành các hợp chất có phân tử thấp.

Cụ thể quá trình nảy mầm đã nâng cao hàm lượng gamma-aminobutyric axit (GABA) trong hạt (Kaur & Singh, 2005). GABA là một amino axit phi protein có 4 cacbon, hiện diện nhiều trong các tế bào nhân sơ (prokaryotic) và nhân chuẩn (eukaryotic). Nó có nhiều lợi ích cho sức khỏe như giảm huyết áp và ức chế các xung dẫn truyền thần kinh trong hệ thống thần kinh, ngăn chặn hiệu quả các cơn đau và giảm thiểu các trạng thái stress, lo âu. Vì vậy xu hướng phát triển các sản phẩm giàu hàm lượng GABA trở nên phổ biến những năm gần đây (Trương Nhật Trung & Đống Thị Anh Đào, 2016).

Tuy nhiên, trong hạt của các loại đậu đỗ nói chung và hạt đậu xanh nói riêng có chứa axit phytic (PA), là một hợp chất phản dinh dưỡng. Đặc biệt, nó có khả năng liên kết các chất khoáng, protein và tinh bột gây ra những tác động bất lợi (Oatway & cs. 1 Các nghiên cứu trước đây cho thấy hạt nẩy mầm có chứa các chất có hoạt tính sinh học tự nhiên và chất chống oxy hóa. Tuy nhiên, hàm lượng các chất này phụ thuộc rất lớn vào điều kiện xử lý hạt trước khi nẩy mầm như: thời gian ngâm nước, điều kiện nước ngâm (nhiệt độ và pH) và chế độ nảy mầm (nhiệt độ và thời gian), độ ẩm hạt, môi trường nảy mầm sáng hay tối và độ ẩm tương đối của môi trường (Vu Thuy Anh & cs.

Vì thế việc xác định điều kiện ngâm và ủ trong quá trình nẩy mầm hạt đậu xanh nhằm thu được hàm lượng GABA cao, giảm hàm lượng axit phytic và giá trị dinh dưỡng của hạt được tốt nhất là điều quan trọng. Chính vì lý do này, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của pH và nhiệt độ nước ngâm đến gamma-aminobutyric axit, axit phytic và thành phần hóa học của đậu xanh nảy mầm”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Đánh giá tác động của pH và nhiệt độ nước ngâm đến sự biến đổi hàm lượng GABA và PA.

Ngoài ra nghiên cứu còn theo dõi ảnh hưởng của các điều kiện nước ngâm này đến thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu xanh nẩy mầm. Yêu cầu Ảnh hưởng của điều kiện pH và nhiệt độ nước ngâm đến sự biến đổi hàm lượng GABA và PA trong hạt đậu xanh nảy mầm. Ảnh hưởng của điều kiện pH và nhiệt độ nước ngâm đến sự biến đổi hàm lượng chất khô tổng số, protein và lipid trong hạt đậu xanh nảy mầm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

Giới thiệu chung về đậu xanh 2. Nguồn gốc và đặc điểm của đậu xanh Cây đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) thuộc ngành Magnoliopyta, lớp Magnoliopsida bộ Fabales, họ đậu (Fabaceae), chi Vigna; có nguồn gốc từ Ấn Độ và được phân bố rộng rãi ở các nước châu Á như Thái Lan, Philippine, Myanmar, Indonesia,.trong đó có Việt Nam (Nguyễn Thanh Tuấn, 2020). Đậu xanh thuộc loại cây thảo mộc đứng. Lá mọc kép 3 chia, cả 2 mặt lá đều có lông, gân lá nổi rõ lên ở phía dưới mặt lá.

Hoa lưỡng tính, màu vàng lục, mọc thành chùm to, xếp xen kẽ nhau trên cuống (Hình 2. Quả đậu xanh thuộc loại quả giáp, hình trụ thẳng, mảnh nhưng số lượng nhiều, có lông. Khi còn non quả có màu xanh, đến khi chín quả có màu nâu vàng hoặc màu xám đen, đen. Vỏ quả khi chín nếu gặp nhiệt độ cao có thể tách làm hạt rơi ra, mỗi quả có từ 8-15 hạt.

Hạt đậu xanh có hình trụ, hơi thuôn, tròn đều, đường kính hạt khoảng từ 2-2,5mm, vỏ hạt màu xanh, ruột màu vàng, có mầm ở giữa (Đinh Thị Hiền, 2020). Đậu xanh sinh trưởng tốt trên nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất là đất thịt nhẹ hay đất thịt nhẹ pha cát có khả năng thoát nước tốt. Hiện nay, có 29 quốc gia trồng đậu xanh với tổng diện tích trên 6 triệu ha, sản lượng đậu xanh toàn cầu là 3 triệu tấn. Trong đó Ấn Độ là quốc gia sản xuất đậu xanh lớn nhất, theo sau là Trung Quốc, Pakistan và Myanmar.

Ở Việt Nam, đậu xanh đã được trồng lâu đời, khắp nơi trong cả nước, là một trong những cây trồng truyền thống với nhiều mục đích: lấy hạt, cải tạo đất, chống xói mòn, làm phân xanh,.Diện tích sản xuất đậu xanh được phát triển ở 7 vùng sinh thái trên cả nước, trong đó có 3 vùng có diện tích sản xuất đậu xanh lớn là Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. Ngoài ra, ở một số tỉnh miền Trung của nước ta như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên, Đắk Lắk, Gia Lai,. Sản xuất đậu đỗ nói chung và cây đậu xanh nói riêng ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đẩy mạnh sản xuất hàng hóa ở nước ta. So với một số cây trồng khác trong cùng điều kiện thì cây đậu đỗ đạt 3 hiệu quả cao hơn, dễ tiêu thụ hơn.

Do đó, việc sản xuất đậu xanh ở nước ta ngày càng được chú trọng và phát triển (Nguyễn Thanh Tuấn, 2020). Cây đậu xanh 2. Cấu tạo và thành phần hóa học của hạt đậu xanh 2. Cấu tạo Hạt đậu xanh có cấu tạo giống các hạt họ đậu là không có nội nhũ, nội nhũ bị mất trong quá trình hình thành hạt Do đó cấu tạo chủ yếu của hạt đậu xanh gồm 3 phần: vỏ, tử diệp (lá mầm) và phôi (Hình 2.

Vỏ hạt cấu tạo từ nhiều lớp tế bào, lớp ngoài cùng gồm những tế bào có kích thước lớn, xếp theo chiều dọc hạt gọi là lớp tế bào dọc, ở giữa gồm những tế bào xếp theo chiều ngang, gọi là lớp tế bào ngang. Khi hạt chưa chín, lớp tế bào này trống rỗng, nhưng khi còn non hạt có màu xanh (do chứa nhiều diệp lục tố). Lớp trong cùng của vỏ quả gồm những tế bào hình ống xếp theo chiều dọc hạt. Vỏ hạt là bộ phận có chức năng bảo vệ phôi và lá mầm khỏi tác động cơ học, hóa học của môi trường.

Vỏ khoảng 7% so với khối lượng toàn hạt. Trong vỏ không chứa các chất dinh dưỡng, thành phần chủ yếu của vỏ là cellulose và hemicellulose, do đó trong quá trình chế biến càng tách vỏ triệt để càng tốt. Lá mầm chiếm khoảng 90% khối lượng hạt đậu có từ 2 lá mầm. Lá mầm được cấu tạo từ tế bào lớn thành mỏng, giữa các tế bào là các khoảng trống.

Phôi chiếm khoảng 3% khối lượng toàn hạt, gồm 2 phần chính là chồi mầm và rễ mầm, phôi là 4 phần phát triển thành cây non khi hạt nảy mầm. Do đó phôi chứa nhiều chất dinh dưỡng, chủ yếu là protein, glucid hòa tan và lipid (Đinh Thị Hiền, 2020). Thành phần hóa học Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của hạt đậu xanh (trong 100g hạt) STT Thành phần Đơn vị tính Nguyên hạt Hạt tách vỏ 1 Phần ăn được % 100,0 100,0 2 Độ ẩm % 10,4 10,1 3 Protein % 24,0 24,5 4 Dầu % 1,3 1,2 5 Khoáng % 3,5 3,5 6 Xơ % 4,1 0,8 7 Carbohydrates % 56,7 59,9 8 Năng lượng Kcal 334,0 348,0 9 Canxi mg 124,0 75,0 10 Phosphorus mg 326,0 405,0 11 Sắt mg 7,3 8,5 12 Caroten mg 94,0 49,0 13 B1 mg 0,47 0,72 14 B2 mg 0,39 0,15 15 Vitamin khác mg 2,10 2,40 (Nguyễn Thanh Tuấn, 2020) Kết quả phân tích từ 100g hạt chưa tách vỏ đã cho thấy đậu xanh là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao với: 24% protein; 1,3% dầu; 3,5% khoáng; 4,1% chất xơ; 56,7% carbohydrates và cung cấp 334 Kcal. Ngoài ra, trong hạt đậu xanh còn chứa các yếu tố dinh dưỡng khác như Ca, P, Fe, Caroten, vitamin B1, B2.

Đậu xanh có hàm lượng folate và hàm lượng sắt từ 5,9 – 7,6 mg/100g cao hơn so với các loại cây đậu đỗ khác (Dahiya & cs. Trong các loại protein của đậu xanh, globulins là thành phần chính chiếm 85% hàm lượng protein tổng số. Ngoài ra chuỗi M-terminal amino axit, cấu trúc và tính tương đồng giữa 3 loại isoforms riêng biệt của 8S α-globulin cũng được nghiên 5 cứu và mô tả chi tiết. Nhờ các lợi ích đối với sức khỏe con người và chức năng dinh dưỡng, đậu xanh (protein và các sản phẩm thủy phân) với các hoạt chất, chức năng và hoạt tính sinh học rất có tiềm năng đặc biệt trong chế biến thực phẩm như: bánh đậu xanh, bột đậu xanh, miến, giá đỗ và y học (Yi-Shen & cs.

Đậu xanh chứa đầy đủ các dinh dưỡng đa lượng và vi lượng, các vitamin thiết yếu. Trong thành phần có đầy đủ các loại axit amin không thay thế cần thiết cho con người như trytophan, threonine, isoleucine, leucine, lysine, cystine, phenylalaine. Ngoài ra trong đậu xanh chứa nhiều isoflavonoid với hàm lượng tổng số khoảng 0,08mg/100g hạt; hàm lượng axit phytic và polyphenols trung bình lần lượt là 2,1 và 1,8g/kg; nhờ đó đậu xanh được sử dụng như một loại dược liệu chữa trị bệnh phù thũng, giải độc, hạ nhiệt, bồi bổ cho sức khỏe (Shi & cs. Hạt đậu xanh 2.

Công dụng của cây đậu xanh Đậu xanh là nguồn cung cấp protein tự nhiên và carbonhydrat, cung cấp khoảng 3.400kJ năng lượng/kg hạt. So sánh với các loại đậu đỗ khác như đậu gà – chickpea (Cicer arietinum), đậu triều – pigeon pea ( Cajanus cajan) và đậu lăng – lentils (Lens culinaris), tinh bột đậu xanh dễ chế biến hơn. Đậu xanh chứa ít flatulence nên rất thích hợp với trẻ em.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến biến đổi GABA, axit phytic trong đậu xanh nảy mầm là một tài liệu chuyên sâu về công nghệ thực phẩm, tập trung vào việc phân tích cách thức pH và nhiệt độ tác động đến sự biến đổi của GABA (gamma-aminobutyric acid) và axit phytic trong quá trình nảy mầm của đậu xanh. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của đậu xanh mà còn mở ra hướng ứng dụng trong sản xuất thực phẩm chức năng và thực phẩm giàu dinh dưỡng. Độc giả quan tâm đến lĩnh vực này có thể tìm hiểu thêm về quy trình sản xuất protein isolate concentrate từ đậu phộng, một nghiên cứu liên quan đến việc tối ưu hóa giá trị dinh dưỡng từ các loại đậu. Ngoài ra, nghiên cứu sản xuất dầu cám gạo thô cũng là một tài liệu hữu ích để mở rộng kiến thức về công nghệ chế biến thực phẩm giàu dinh dưỡng. Để khám phá thêm về các chất có hoạt tính sinh học, độc giả có thể tham khảo **nghiên cứu thu nhận chất kháng oxy