Mở đầu Chƣơng 1 – Cơ sở lý luận Chƣơng 2 – Thiết kế nghiên cứu 5 Chƣơng 3 – Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4 – Kết luận và hàm ý chính sách Kết luận 6. Tầm quan trọng của nghiên cứu Đề tài mang lại ý nghĩa thực tiễn cho các nhà sản xuất kinh doanh điện thoại di động, các công ty quảng cáo và nghiên cứu thị trƣờng, các nhà làm marketing, các giảng viên và sinh viên trong ngành marketing và quản trị kinh doanh. Cụ thể nhƣ sau: Một là, kết quả của nghiên cứu này giúp các doanh nghiệp, nhà quản trị Marketing hiểu rõ đƣợc sự tác động của nhóm tham khảo đến quyết định mua smartphone của ngƣời tiêu dùng tại thị trƣờng Đà Nẵng đối với các sản phẩm smartphone có giá trị khác nhau, các đặc điểm: giới tính, độ tuổi khác nhau. Từ đó có thể hoạch định các chƣơng trình marketing hiệu quả hơn và có những thông tin hữu ích trong việc phân khúc thị trƣờng smartphone.
Hai là, kết quả của nghiên cứu góp phần khẳng định lại giá trị thang đo, và điều chỉnh thang đo cho phù hợp với môi trƣờng nghiên cứu Việt Nam. Xây dựng cơ sở lý luận về nhóm tham khảo đến quyết định mua sản phẩm ở bối cảnh nghiên cứu khác. Nó có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên trong lĩnh vực marketing, hành vi ngƣời tiêu dùng. Tổng quan tài liệu Nghiên cứu này kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu trƣớc đây về ảnh hƣởng của nhóm tham khảo đến quyết định mua sản phẩm cho phù hợp với thị trƣờng Việt Nam, cụ thể là địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Bao gồm các nghiên cứu chính sau đây: - Nghiên cứu 1: “Các sinh viên và những bà nội trợ: sự khác biệt trong tính nhạy cảm do ảnh hƣởng của nhóm tham khảo” của Park, C. (1977); đăng trên Journal of Consumer Research. 6 Nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm kiểm tra tính nhạy cảm của ảnh hƣởng nhóm tham khảo trong việc lựa chọn thƣơng hiệu giữa hai độ tuổi khác nhau, mẫu là: các sinh viên và các bà nội trợ. Park và Lessig cho rằng ảnh hƣởng của nhóm tham khảo đến quyết định mua của ngƣời tiêu dùng gồm ba loại ảnh hƣởng: ảnh hƣởng thông tin, ảnh hƣởng vị lợi và ảnh hƣởng giá trị biểu tƣợng.
Mức độ ảnh hƣởng của nhóm tham khảo đƣợc kiểm tra cho 20 sản phẩm và với ba thành phần ảnh hƣởng nhóm tham khảo. Park và Lessig đã phát triển thang đo lƣờng ảnh hƣởng nhóm tham khảo. Thang đo đƣợc kiểm tra cho ra kết quả thuận lợi. Với mẫu là sinh viên thì độ tin cậy nằm trong khoảng 0,56 đến 0,96.
Và với mẫu các bà nội trợ là 0,43 đến 0,78. Thực hiện nghiên cứu mô tả, kết quả của nghiên cứu cho thấy nhóm tham khảo có ảnh hƣởng khác nhau lên quyết định chọn lựa các sản phẩm khác nhau và ở các nhóm tuổi khác nhau thì ảnh hƣởng của nhóm tham khảo cũng khác nhau. Park và Lessig cho rằng nguyên nhân có sự khác biệt trong việc ảnh hƣởng của nhóm tham khảo đến quyết định mua trong các nhóm tuổi khác nhau bởi sự khác biệt trong: (1) khoản tiền chi tiêu; (2) khả năng tiếp thu kiến thức (Jacoby và cộng sự, 1974); (3) rủi ro (Kogan và Wallach, 1967). Nghiên cứu cho rằng ngƣời trẻ tuổi (sinh viên) sẽ nhạy cảm với ảnh hƣởng của nhóm tham khảo bởi vì họ có khả năng hạn chế để đối phó với sự không chắc chắn và ít có kinh nghiệm hơn trong việc chọn lựa sản phẩm so với các bà nội trợ.
Kết quả của nghiên cứu trong phụ lục 1 cho thấy nhóm tham khảo có ảnh hƣởng khác nhau lên các sản phẩm khác nhau và ở những nhóm tuổi khác nhau thì ảnh hƣởng của nhóm tham khảo cũng khác nhau. Chẳng hạn, đối với sản phẩm tiêu dùng công khai nhƣ xe ô tô thì ảnh hƣởng 7 thông tin đến hành vi mua ô tô của sinh viên (3,94) mạnh hơn so với các bà nội trợ (3,85); ảnh hƣởng vị lợi đến hành vi mua ô tô của sinh viên (3,92) mạnh hơn so với các bà nội trợ (3,7); ảnh hƣởng giá trị biểu tƣợng đến hành vi mua ô tô của sinh viên (3,97) mạnh hơn so với bà nội trợ (3,65). Vậy, sinh viên chịu ảnh hƣởng từ nhóm tham khảo đến quyết định mua ô tô mạnh hơn so với các bà nội trợ. - Nghiên cứu 2: “Ảnh hƣởng của nhóm tham khảo đến quyết định mua sản phẩm và nhãn hiệu” của Bearden W.
Etzel (1982), đăng trên tạp chí Journal of Consumer Research. Bearden và cộng sự (1982) cho rằng, sản phẩm đóng vai trò quan trọng và hết sức nhạy cảm đối với ảnh hƣởng từ nhóm tham khảo đến việc mua một số lƣợng nhất định. Chúng ta xem xét nó qua hai nội dung. Thứ nhất, sản phẩm đó phải độc nhất theo cách hiểu nào đó.
Nếu mỗi ngƣời đều sở hữu nó, hiển nhiên nó không có ý nghĩa này, mặc dù nó vẫn đƣợc nhìn nhận ở mức độ ngƣỡng mộ cao. Về mặt phân tích lý thuyết chúng ta có thể nghĩ tới sự khác nhau giữa hàng hóa cao cấp (có mức độ độc quyền) và hàng hóa thiết yếu (hầu nhƣ đƣợc tất cả mọi ngƣời sử dụng). Thứ hai, sản phẩm phải đƣợc nhìn thấy hoặc đƣợc xác định bởi ngƣời khác. Điều này có tầm quan trọng rất lớn.
Sự khác biệt có thể xuất hiện giữa những sản phẩm đƣợc sử dụng một cách công khai (nó đƣợc nhìn thấy bởi ngƣời khác) và những thứ đƣợc tiêu dùng có tính chất cá nhân (không đƣợc nhìn thấy bởi ngƣời khác). Nhóm tham khảo có ảnh hƣởng hoặc là đến việc mua một sản phẩm hoặc là đến sự lựa chọn một nhãn hiệu hoặc cả hai. Nghiên cứu này nhằm đo lƣờng ảnh hƣởng của nhóm tham khảo đến quyết định mua sản phẩm và nhãn hiệu. Đối tƣợng nghiên cứu là ngƣời lớn, không phải sinh viên với 16 loại sản phẩm khác nhau.
Nghiên cứu sử dụng thang đo đƣợc đề xuất bởi Park và Lessig (1977). Phân chia 16 sản phẩm 8 thành 4 loại: hàng cao cấp tiêu dùng công khai1 (PUL), hàng thiết yếu tiêu dùng công khai2 (PUN); hàng cao cấp tiêu dùng cá nhân3 (PRL) và hàng thiết yếu tiêu dùng cá nhân4 (PRN). Đo lƣờng ảnh hƣởng nhóm tham khảo và các thành phần của ảnh hƣởng nhóm tham khảo đến quyết định mua sản phẩm và nhãn hiệu bằng 13 items trong 14 items đƣợc phát triển trên thang đo của Park và Lessig (1977). Kết quả nghiên cứu ANOVA tùy theo từng loại sản phẩm khác nhau mà ảnh hƣởng tham khảo đến quyết mua sản phẩm đó cũng khác nhau.
Kết quả nghiên cứu của (Bearden và Etzel, 1982, p. 191) đƣợc trình bày ở phụ lục 2 cho thấy ảnh hƣởng của thông tin của nhóm tham khảo đến quyết định mua hàng hóa cao cấp tiêu dùng công khai (20,02) là cao hơn hàng hóa thiết yếu tiêu dùng công khai (16,21); ảnh hƣởng ảnh hƣởng giá trị biểu tƣợng trong nhóm tham khảo đến quyết định mua hàng hóa cao cấp tiêu dùng công khai (11,51) là thấp hơn hàng hóa thiết yếu tiêu dùng công khai (12,42); ảnh hƣởng vị lợi trong nhóm tham khảo đến quyết định mua hàng hóa cao cấp tiêu dùng công khai (15,52) là thấp hơn hàng hóa thiết yếu tiêu dùng công khai (15,85). - Nghiên cứu 3: “Ảnh hƣởng của gia đình và đồng nghiệp trong nhóm tham khảo đến quyết định mua của ngƣời tiêu dùng” của Terry L. Childers và Akshay R.
Rao (1992) trên tạp chí Journal of Consumer Research. Nghiên cứu này nhằm nhân rộng và mở rộng nghiên cứu của Bearden và Etzel (1982) nhằm đo lƣờng ảnh hƣởng của gia đình và đồng nghiệp đến quyết định mua sản phẩm với mục đích đánh giá sự ổn định của các quan sát 1 Public Luxury 2 Public Necessary 3 Private Luxury 4 Private Necessary 9 qua thời gian và đƣợc thực hiện trong bối cảnh văn hóa khác nhau: Mỹ và Thái Lan. Nghiên cứu so sánh sức mạnh ảnh hƣởng của gia đình và đồng nghiệp trong nhóm tham khảo đến quyết định mua các nhóm hàng hóa (1) hàng hóa cao cấp tiêu dùng công khai, (2) hàng hóa thiết yếu tiêu dùng công khai, (3) hàng hóa cao cấp tiêu dùng cá nhân, (4) hàng hóa thiết yếu tiêu dùng cá nhân. Kết quả phân tích nghiên cứu đƣợc trình bày ở phụ lục 3 cũng cho thấy khi nghiên cứu tổng thể ảnh hƣởng của gia đình và bạn bè trong nhóm tham khảo đến quyết định mua đối với hàng cao cấp tiêu dùng công khai (4,014) là mạnh hơn so với hàng thiết yếu tiêu dùng công khai (3,731).
Và kết quả ở với mẫu ở hai nƣớc Mỹ và Thái Lan cũng cho kết quả tƣơng tự. - Nghiên cứu 4: “Ảnh hƣởng của nhóm tham khảo xã hội đến hành vi mua điện thoại di động: so sánh giữa hai quốc gia” của Yang Jiaqin; He Xihao và Lee Huei (2007), đăng trên tạp chí Int. Yang, He và Lee (2007) đã so sánh ảnh hƣởng của nhóm tham khảo đến quyết định mua điện thoại di động của ngƣời tiêu dùng hai quốc gia: Mỹ và Trung Quốc với các nhóm: giới tính, tuổi tác và nghề nghiệp khác nhau. Bằng các phân tích ANOVA, với giá trị tối đa là 5, nếu nhƣ cao hơn 3 thì ảnh hƣởng đó đƣợc xem là ảnh hƣởng mạnh đến hành vi ngƣời tiêu dùng điện thoại di động.
Trong nghiên cứu này, Yang và cộng sự (2007) đã lập luận điện thoại di động là hàng hóa cao cấp tiêu dùng công khai. Kết quả cho thấy, ảnh hƣởng thông tin đến quyết định mua điện thoại di động ngƣời tiêu dùng Mỹ và Trung Quốc tƣơng ứng là 4,44 và 4,26. Ảnh hƣởng vị lợi là 4,23 (Mỹ) và 3,85 (Trung Quốc) và ảnh hƣởng giá trị biểu tƣợng là 3,13 (Mỹ) và 4,18 (Trung Quốc). Tất cả đều có giá trị p – value ít hơn 0,001.
Sự khác biệt trên có thể là do thực tế là ngƣời tiêu dùng điện 10 thoại di động Mỹ có kinh tế hợp lý khi mua một điện thoại di động và rất ít chú ý đến các phản ứng từ ngƣời khác về bất kỳ tính năng cụ thể của thiết kế sản phẩm, nhƣng ngƣời tiêu dùng Trung Quốc thì muốn gây ấn tƣợng những ngƣời khác và thể hiện bản thân với thiết kế lạ mắt và sự xuất hiện điện thoại di động của họ, và sẵn sàng trả giá cho nó. Từ quan điểm của văn hóa phƣơng Đông, cho thấy rằng trong các quyết định mua hàng , ngƣời tiêu dùng Trung Quốc cố gắng xây dựng hình ảnh của mình tƣơng tự nhƣ nhóm tham khảo mà họ muốn hƣớng đến về tính năng thiết kế và vẻ bề ngoài. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÓM THAM KHẢO VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NHÓM THAM KHẢO QUYẾT ĐỊNH MUA 1. NHÓM THAM KHẢO 1.