ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đa trở thành chiến lƣợc trên toàn thế giới. Sự đa dạng sinh học đang bị một suy giảm nghiêm trọng. Trên thế giới đã có nhiều tổ chức ra đời để bảo tồn đa dạng sinh học nhƣ: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), viện Tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI) v.Ngoài ra, các quốc gia thấy đƣợc tầm quan trọng của đa dạng sinh học đã ký công ƣớc về bảo tồn đa dạng sinh học đƣợc thông qua tại hội nghị thƣợng đỉnh ở Rio de Janeiro, 1992. Việt Nam đã đƣợc ghi nhận là một trong những nƣớc có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú và đặc hữu.
ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, các hệ sinh thái với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại nhiều lợi ích cho con ngƣời và đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nƣớc cũng nhƣ đời sống của nhân dân, nhƣ trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dƣợc liệu, nguồn cung cấp lƣơng thực, thực phẩm…. Ngoài ra, các hệ sinh thái còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trƣờng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ĐDSH của nƣớc ta tiếp tục suy giảm về lƣợng và suy thoái về chất với tốc độ cao do con ngƣời đã khai thác từ thiên nhiên những sản vật nhằm phục vụ nhu cầu của mình, sự khai thác đó ngày càng gia tăng và đến mức thiên nhiên không còn có thể tự bù đắp đƣợc nữa. Vì vậy, bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ cần thiết, sống còn để bảo vệ cuộc sống của con ngƣời.
Khu rừng quốc gia (RQG) Yên Tử có tổng diện tích tự nhiên là 2.783 ha, thuộc địa phận xã Thƣợng Yên Công và xã Phƣơng Đông, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, cách thành phố Hạ Long 40 km, cách thủ đô Hà Nội 150 km. Bảy trăm năm về trƣớc, Hoàng Đế Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để tu hành, khai sinh ra dòng thiền Việt Nam. Ngày nay, Yên Tử nổi tiếng cả nƣớc bởi nơi đây còn lƣu lại nhiều dấu tích của mọi nền văn hóa Phật giáo Việt Nam “Thiền Phái 1 Trúc Lâm Yên Tử”. Đến Yên Tử, miền địa linh của Tổ Quốc, du khách sẽ đƣợc chiêm ngƣỡng và thƣởng ngoạn một cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ tuyệt vời, với đỉnh cao nhất là đỉnh Yên Tử (1068 m) cùng hệ thống thác nƣớc, sông suối, chùa chiền, am tháp.
Yên Tử đã thu hút hàng triệu lƣợt du khách từ trong nƣớc đến ngoài nƣớc, đến thăm viếng, tham quan, học tập và nghiên cứu khoa học. Với ý nghĩa đó tại Quyết định số: 194/ CP ngày 09 tháng 06 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Thủ tƣớng Chính phủ), đã quyết định xây dựng Yên Tử là Khu rừng cấm Quốc gia. Ngày 2 tháng 4 năm 2010, Phó Thủ tƣớng Chính Phủ đã ký Công văn số 537/TTg- KTN đồng ý chủ trƣơng chuyển khu rừng đặc dụng (RĐD) Yên Tử thành RQG Yên Tử. Ngày 26 tháng 9 năm 2011 Thủ tƣớng Chính phủ đã ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg thành lập khu rừng quốc gia Yên Tử và dự án đầu tƣ Khu rừng quốc gia Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ vào những kết quả điều tra trƣớc đây, RQG Yên Tử có 830 loài thực vật trong 509 chi, của 171 họ thực vật, đƣợc đánh giá là phong phú về loài, chi, họ thực vật, với 38 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam cần đƣợc ƣu tiên bảo tồn và phát triển. RQG Yên Tử là khu vực có tiềm năng đa dạng sinh học to lớn với nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm và các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của vùng Đông Bắc -Việt Nam. Nơi đây còn là một trong những danh lam thắng cảnh, điểm tham quan du lịch, lễ hội truyền thống của cả nƣớc và thế giới; đồng thời là một Trung tâm phật giáo Việt Nam. Khi đƣợc công nhận là Khu rừng quốc gia thì vấn đề bảo vệ và phát triển các thảm thực vật (TTV) ở đây là rất cần thiết.
Vậy các nhân tố môi trƣờng có ảnh hƣởng gì đến đa dạng thực vật ở đây, hay các hoạt động du lịch, lê hội truyền thống thì có ảnh hƣởng nhƣ thế nào là một nội dung quan trọng cần đƣợc đánh giá. Nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện những cơ sở khoa học để bảo tồn hệ thực vật, đa dạng sinh học,các kiểu rừng đặc trƣng, tại khu RQG Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố môi trường tới đa dạng thực vật tại Rừng Quốc gia Yên Tử - tỉnh Quảng Ninh”. 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về thảm thực vật Phân loại thảm thực vật là một nội dung quan trọng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đã đƣợc rất nhiều tác giả nghiên cứu sau đây là một số nghiên cứu đáng chú ý: Thảm thực vật rừng hay lớp phủ cây cỏ trên mặt trái đất, gồm các quần thể thực vật thân gỗ, không những cung cấp lâm sản phục vụ cho đời sống con ngƣời, mà còn có tác dụng bảo vệ môi trƣờng sinh thái, hạn chế tác hại của thiên tai nhƣ lũ lụt, hạn hán, bão lốc,.
Ở Phần Lan, Caiande A. chủ trƣơng phân loại rừng dựa vào thực vật thảm tƣơi. Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tƣơi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trƣờng mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của lâm phần. Theo đó, thảm tƣơi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trƣờng, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng.
Tuy thế, điều này đã không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tƣơi có khả năng chỉ thị nhƣng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa. Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài nhƣ: lửa rừng, khai thác. cũng ảnh hƣởng lên thảm tƣơi (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [38]. Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của Clement.
Phân loại theo Climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã đƣợc hình thành từ lâu. Khí hậu là nhân tố để xác định Climax. Ngoài khái niệm Climax, 3 các nhà lâm học Hoa Kỳ còn đƣa ra khái niệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực, đa đỉnh cực (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [38]. Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978) có lẽ Schimper (1898) là ngƣời đầu tiên đƣa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới.
Trong hệ thống này, Schimper đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhƣỡng và quần hệ vùng núi. Trong quần hệ khí hậu lại đƣợc phân chia thành 4 kiểu: Rừng thƣa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai, ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới. Sau Schimper là các hệ thống của Rubel, Ilinski, Burt - Davy, Aubréville. trong đó đáng chú ý nhất là hệ thống của Aubréville.
Trong hệ thống này, ông đã căn cứ vào độ tàn che trên mặt đất của tầng ƣu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thƣa thành: Rừng thƣa và truông cỏ (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978) [45]. Champion (1936) đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt độ: Nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao. Bear (1944) đƣa ra hệ thống 3 cấp đó là: Quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ. UNESCO (1973) [59] đƣa ra một khung phân loại chung cho thảm thực vật thế giới mà có thể thể hiện trên bản đồ 1:1.
Khung phân loại này không dựa hẳn vào một nguyên tắc hay hệ thống đã có mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với nhau ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc, ngoại mạo. Bậc phân loại cao nhất của hệ thống này là lớp quần hệ, bậc thấp nhất ở dƣới phân quần hệ (dƣới quần hệ phụ). Trong hệ thống phân loại này các bậc phân loại khác nhau đƣợc phân biệt bởi chữ cái và các con số nhƣ sau: I, II, v.
= Lớp quần hệ (Formation Class) 4 A, B, v. = Phân lớp quần hệ hay lớp phụ quần hệ (Formation Subclass). = Nhóm quần hệ (Formation group). = Phân quần hệ, quần hệ phụ (Subformation) (a), (b), v.
= Các bậc nhỏ khác (Further Subdicsions) Các nghiên cứu về thảm thực vật ở trên đều hƣớng vào việc xây dựng khung phân loại để trên cơ sở đó xác định các kiểu thảm thực vật phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo: kinh doanh rừng, đánh giá hiện trạng, phân bố của thực vật. Đối với lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng sinh học thì đây là một nội dung cần thiết nhằm xác định đối tƣợng, môi trƣờng, cảnh quan và các yếu tố sinh thái liên quan đến nơi sống, điều kiện sinh trƣởng phát triển của thực vật làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lƣợc bảo tồn loài, bảo tồn sinh cảnh. Nghiên cứu về đa dạng thực vật Trên thế giới, nghiên cứu về thực vật đã có từ rất lâu. Theophraste (370- 285 trƣớc Công nguyên), ngƣời đầu tiên đề xuất ra một phƣơng pháp phân loại thực vật, trong các tác phẩm “Lịch sử thực vật” và “Cơ sở thực vật” đã mô tả đƣợc gần 500 loài cây, phân thành cây to, cây nhỡ, cây nhỏ, cây cỏ, cây sống trên cạn, cây sống dƣới nƣớc, cây thƣờng xanh hay rụng lá, cây có hoa hay không có hoa, cây trồng hay cây dại.
Plinus (79-23 trƣớc Công nguyên), trong tác phẩm “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả đến gần 1000 loài cây và đặc biệt chú ý nhiều đến cây dùng làm thuốc và cây ăn quả. Ray (1628- 1705), đã mô tả tới 18.000 loài thực vật. Linne’ (1707-1778), ngƣời đầu tiên khởi xƣớng ra khái niệm loài và đặt tên loài bằng danh pháp lƣỡng nôm, đã mô tả hơn 8. Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, những nghiên cứu về thực vật nói chung đạt đƣợc những thành tựu đáng kể.
Theo hƣớng nghiên cứu về phân loại thực vật phải kể tới các tác giả nhƣ: Bessey (1845-1915); Hutchinson (1884-1972); Takhtajan (1910-2009); Engler (1844- 1930).