Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây xoài (Mangifera indica L.) là loại cây ăn quả nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, khả năng thích nghi rộng và tốc độ sinh trưởng nhanh. Tại Việt Nam, xoài được phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam, trong đó vùng canh tác tập trung lớn nhất nằm ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ. Bên cạnh các giống bản địa truyền thống, giống xoài Đài Loan (xoài Ba Màu) đang được đẩy mạnh phát triển nhờ các đặc tính nông học vượt trội: kích thước quả lớn (trọng lượng bình quân từ 0,8 kg đến 1,2 kg), cùi dày, thịt chắc, hạt mỏng, vị ngọt đậm khi ăn tươi (kể cả lúc quả còn xanh) và thích nghi tốt với nhiều điều kiện thổ nhưỡng, bao gồm cả đất phèn hoặc đất nhiễm mặn nhẹ. Tại tỉnh An Giang, diện tích canh tác xoài Đài Loan đạt khoảng 800 ha, giữ vai trò quan trọng trong định hướng sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.

Tuy nhiên, trong thực tiễn sản xuất, quy trình bón phân khoáng cho cây xoài Đài Loan tại địa phương chưa được chuẩn hóa dựa trên các nghiên cứu khoa học chuyên sâu mà phần lớn dựa vào kinh nghiệm canh tác tự phát của nông hộ. Việc bón phân không cân đối giữa các nguyên tố đa lượng (Đạm - N, Lân - P, Kali - K) và thiếu hụt các chất trung lượng (Canxi - Ca, Magiê - Mg) dẫn đến tình trạng cây bị rối loạn dinh dưỡng, tăng tỷ lệ rụng hoa, rụng quả non, giảm kích thước quả và làm suy giảm phẩm cấp thương phẩm. Nhằm giải quyết khoảng trống kỹ thuật này, đề tài "Khảo sát ảnh hưởng của liều lượng phân khoáng dinh dưỡng đa lượng và trung lượng lên sự sinh trưởng, phát triển của cây xoài Đài Loan tại tỉnh An Giang" đã được thực hiện.

Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng một số loại phân khoáng dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) và trung lượng (Ca, Mg) lên sự sinh trưởng, phát triển và các yếu tố cấu thành năng suất của cây xoài Đài Loan.
  2. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phối trộn phân khoáng chứa dinh dưỡng đa lượng và trung lượng với các mức liều lượng khác nhau lên sự sinh trưởng, hàm lượng dinh dưỡng trong mô lá, năng suất, phẩm cấp phân loại quả và độ ngọt (độ Brix) của cây xoài Đài Loan tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây xoài Đài Loan ghép, độ tuổi từ 8 đến 10 năm tuổi, khoảng cách trồng 8 m x 8 m, có biểu hiện thiếu hụt dinh dưỡng trên đồng ruộng.
  • Phạm vi không gian: Vườn xoài thực nghiệm của hộ nông dân tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang; việc phân tích mẫu hóa học mô lá được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Đất, Phân bón và Môi trường phía Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành theo dõi, lấy mẫu và thu thập số liệu thực nghiệm từ tháng 11/2022 đến tháng 04/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và chẩn đoán dinh dưỡng khoáng

Khóa luận xây dựng trên cơ sở lý thuyết về vai trò sinh lý của dinh dưỡng khoáng đối với cây ăn quả thân gỗ:

  • Nguyên tố đa lượng: Đạm (N) tham gia cấu tạo protein, acid nucleic, diệp lục và enzyme, quyết định sự phát triển thân lá và diện tích quang hợp; Lân (P) cấu tạo phospholipid màng, ATP, coenzyme, thúc đẩy phát triển bộ rễ và kích thích phân hóa mầm hoa; Kali (K) điều hòa áp suất thẩm thấu, đóng mở khí khổng, hoạt hóa enzyme đồng hóa carbohydrate, tăng độ cứng cáp của mô và nâng cao chất lượng thịt quả.
  • Nguyên tố trung lượng: Canxi (Ca) là thành phần cấu trúc của phiến giữa vách tế bào (calcium pectate), duy trì độ vững chắc của màng tế bào, giúp hạn chế hiện tượng nứt quả và mềm vỏ; Magiê (Mg) giữ vị trí trung tâm trong phân tử diệp lục, thúc đẩy quá trình quang hợp, kích hoạt các enzyme trao đổi chất và hỗ trợ vận chuyển lân, đường trong cây.
  • Cơ sở chẩn đoán qua mô lá: Áp dụng nguyên lý của Bhargava & Chadha (1993) xác định lá là cơ quan trao đổi chất trung tâm, hàm lượng các chất khoáng trong mô lá phản ánh trực tiếp tình trạng cung cấp dinh dưỡng của đất và phân bón, từ đó tương quan chặt chẽ với năng suất và chất lượng quả.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng

Thí nghiệm được thiết kế và triển khai tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật nông học:

  • Tiêu chuẩn áp dụng: Bố trí thí nghiệm diện hẹp đối với cây trồng lâu năm theo TCVN 12720:2019; phân loại phẩm cấp quả theo TCVN 1873:2014.
  • Bố trí thí nghiệm: Khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) gồm 10 nghiệm thức (NT1 đến NT10), lặp lại 3 lần. Quy mô mỗi ô thí nghiệm gồm 10 cây (diện tích 420 m²/ô), tổng diện tích toàn khu thí nghiệm là 12.600 m². Trong mỗi ô chọn ngẫu nhiên 5 cây để theo dõi chi tiết.
  • Vật liệu phân bón: Phân chuồng hoai mục (phân bò), Urea (46% N), Super lân Lâm Thao (16% $P_2O_5$), Kali clorua - KCl (60% $K_2O$), nguồn bổ sung Canxi và Magie ($MgO$).
  • Quy trình bón phân chia làm 4 thời kỳ:
    • Lần 1 (Sau thu hoạch 1 tuần): 25% N + 25% $P_2O_5$ + 5–20 kg phân bò hoai/gốc.
    • Lần 2 (Trước khi ra hoa 4 tuần): 25% N + 50% $P_2O_5$ + 30% $K_2O$.
    • Lần 3 (Sau khi đậu quả và giai đoạn quả lớn): 50% N + 25% $P_2O_5$ + 50% $K_2O$.
    • Lần 4 (Trước khi thu hoạch 1 tháng): 20% $K_2O$.

Phương pháp thu mẫu, phân tích và xử lý số liệu

  • Thu mẫu và phân tích mô lá: Tuân thủ phương pháp chuẩn của FAO (2008) và Renato de Mello Prado (2020). Mẫu lá được lấy ở độ tuổi bánh tẻ (6–7 tháng tuổi) trên cành không mang quả, thu tại 5 vị trí/ô, mỗi vị trí 4 cây, lấy 4 lá/cây. Tổng số mẫu lá thu thập là 30 mẫu (1 mẫu/NT x 10 NT x 3 lần nhắc). Mẫu được rửa sạch, sấy cố định enzyme ở 90°C trong 15 phút, sấy khô kiệt ở 70°C trong tủ sấy thông gió, nghiền mịn để phân tích tổng hàm lượng N, P, K, Ca, Mg tại phòng phân tích chuyên ngành.
  • Đánh giá năng suất và chất lượng quả: Theo dõi số quả/cây, cân trọng lượng từng quả, đo kích thước, phân loại tỷ lệ quả theo 3 nhóm phẩm cấp thương mại (Loại I, Loại II, Loại III). Xác định độ ngọt qua hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số (độ Brix, %) bằng khúc xạ kế đo độ ngọt trên dịch chiết thịt quả đồng nhất (mỗi nghiệm thức đo lặp lại 3 quả đại diện).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích phương sai (ANOVA) một nhân tố; kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức ở mức xác suất 95% ($P < 0,05$) bằng phần mềm Statgraphics Plus 18.0 và Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về cây xoài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về cây xoài và dinh dưỡng khoáng:

  • Vị trí phân loại và nguồn gốc: Cây xoài Đài Loan thuộc chi Mangifera, họ Đào lộn hột (Anacardiaceae), bộ Rutales. Nguồn gốc cây xoài bắt nguồn từ vùng Ấn Độ - Myanmar, sau đó phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới giữa vĩ độ 23°30' Bắc và 23°30' Nam.
  • Đặc điểm sinh thái học: Cây xoài thích hợp với dải nhiệt độ từ 23°C đến 28°C, có khả năng chịu khô hạn và đòi hỏi một mùa khô kéo dài từ 2 đến 3 tháng để kích thích ngừng sinh trưởng sinh dưỡng nhằm phân hóa mầm hoa. Đất phù sa ven sông tầng dày, tơi xốp, thoát nước tốt và pH từ 5,5 đến 7,0 là môi trường lý tưởng nhất cho bộ rễ xoài phát triển.
  • Cơ sở sinh lý dinh dưỡng và nghiên cứu liên quan: Tổng quan chi tiết vai trò của các dưỡng chất khoáng đa lượng và trung lượng đối với quá trình đậu quả, rụng quả sinh lý và tích lũy chất lượng quả. Trích dẫn các công trình nghiên cứu của Iftikhar Ahmad et al. (2018) về bón vi lượng/trung lượng tại Pakistan, Muengkaew et al. (2016) về ảnh hưởng của Ca và Bo đến tỷ lệ nảy mầm hạt phấn, Trần Văn Hậu & Phan Huỳnh Anh (2014) về chẩn đoán dinh dưỡng DRIS trên xoài cát Hòa Lộc tại Tiền Giang, và các tài liệu hướng dẫn quy trình bón phân cho xoài của Nguyễn Bảo Vệ (2011).

Chương 2. Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn thực nghiệm, vật liệu nghiên cứu, thông số kỹ thuật của 10 công thức nghiệm thức phân bón, các nhóm chỉ tiêu theo dõi hình thái ngoài đồng và quy trình phân tích trong phòng thí nghiệm.

Các nghiệm thức thí nghiệm được thiết lập với mức phân bón biến thiên (đơn vị: g/cây/vụ) kết hợp giữa các mức $N$ (500 – 1.400 g), $P_2O_5$ (250 – 600 g), $K_2O$ (375 – 900 g), $Ca$ và $MgO$ (0 – 150 g), đối chiếu với nghiệm thức đối chứng NT10 bón theo tập quán canh tác của nông hộ.

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm qua hệ thống bảng biểu và phân tích thống kê chi tiết:

1. Ảnh hưởng của phân bón đến số quả và trọng lượng quả

Kết quả theo dõi cho thấy bình quân số quả thu được giữa các nghiệm thức dao động từ 47 đến 56 quả/cây. Nghiệm thức đối chứng (NT10) cho số quả thấp nhất (47 quả/cây), trọng lượng quả nhẹ nhất là 400 g, nặng nhất là 750 g, trọng lượng trung bình đạt 622,5 g/quả. Ngược lại, nghiệm thức NT7 ghi nhận số quả cao nhất (56 quả/cây), trọng lượng quả dao động từ 660 g đến 1.200 g, trọng lượng trung bình đạt 960,0 g/quả (vượt đối chứng 337,5 g/quả, khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 95%).

2. Ảnh hưởng đến năng suất thực thu

Năng suất quả thực thu giữa các nghiệm thức dao động trong khoảng từ 29,26 kg/cây đến 53,76 kg/cây. Tất cả 9 nghiệm thức bổ sung dinh dưỡng khoáng cân đối đều đạt năng suất vượt trội so với đối chứng NT10 (tăng từ 7,37 kg/cây đến 24,50 kg/cây, tương ứng mức tăng 25% đến 84%). Nghiệm thức NT7 đạt đỉnh năng suất cao nhất (53,76 kg/cây, tăng 84% so với đối chứng).

3. Ảnh hưởng đến tỷ lệ phân loại phẩm cấp quả

Phân loại thương phẩm theo tiêu chuẩn chia làm 3 nhóm:

  • Quả loại I (trọng lượng lớn, mẫu mã đạt chuẩn xuất khẩu): Dao động từ 50% ở NT10 đến 85% ở NT7.
  • Quả loại II: Dao động từ 10% đến 25%.
  • Quả loại III (kích thước nhỏ): Chiếm từ 5% đến 25%. Nghiệm thức NT7 đạt tỷ lệ quả loại I cao nhất (85%), trong khi quả loại II chỉ chiếm 10% và loại III chiếm 5%, giúp nâng cao đáng kể giá trị kinh tế do giá thu mua xoài loại I cao hơn các loại khác tới 20%.

4. Ảnh hưởng đến chất lượng và độ Brix của quả

Hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số (độ Brix) biến thiên từ 8,00° Brix đến 10,00° Brix. Nghiệm thức NT9 đạt giá trị độ Brix cao nhất (10,00° Brix), trong khi NT1 và NT6 có độ Brix thấp nhất (8,00° Brix). Mức chênh lệch này khẳng định chế độ dinh dưỡng khoáng đa - trung lượng tác động trực tiếp đến quá trình tích lũy đường và chất khô trong dịch quả.

5. Hàm lượng dinh dưỡng khoáng tích lũy trong mô lá

Phân tích hóa học mô lá trước và sau thực nghiệm cho thấy sự chuyển hóa rõ nét của các nguyên tố:

  • Đạm (N): Dao động từ 1,15% (NT4) đến 1,35% (NT7).
  • Lân (P): Dao động từ 0,14% (NT6) đến 0,20% (NT4).
  • Kali (K): Dao động từ 1,15% (NT1) đến 1,42% (NT6).
  • Canxi (Ca): Dao động từ 1,23% (NT8) đến 2,43% (NT1); tại NT7 đạt 1,78%.
  • Magiê (Mg): Dao động từ 0,21% (NT1) đến 0,34% (NT6); tại NT7 đạt 0,27%.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu năng suất, chất lượng và hàm lượng khoáng lá của 10 nghiệm thức thí nghiệm:

Nghiệm thức (NT) Mức bón khoáng chính Số quả (quả/cây) Trọng lượng TB (g/quả) Năng suất thực thu (kg/cây) Tỷ lệ quả Loại I (%) Độ Brix (%) Hàm lượng N trong lá (%) Hàm lượng K trong lá (%)
NT1 $N_1 P_1 K_1 A_1 B_1$ 50 892,5 ± 45,7 44,46 70 8,00 1,24 1,15
NT2 $N_1 P_1 K_1 A_0 B_1$ 52 881,0 ± 208,6 45,81 65 8,67 1,21 1,28
NT3 $N_1 P_1 K_1 A_1 B_0$ 48 926,3 ± 97,1 44,46 60 9,00 1,26 1,30
NT4 $N_2 P_1 K_1 A_1 B_1$ 53 837,5 ± 137,7 44,39 65 8,67 1,15 1,35
NT5 $N_2 P_2 K_1 A_1 B_1$ 50 797,5 ± 123,9 39,08 70 8,67 1,25 1,38
NT6 $N_2 P_2 K_2 A_1 B_1$ 54 960,0 ± 125,4 51,84 80 8,00 1,28 1,42
NT7 $N_3 P_2 K_2 A_1 B_1$ 56 960,0 ± 230,4 53,76 85 8,33 1,35 1,33
NT8 $N_3 P_3 K_2 A_1 B_1$ 50 732,5 ± 120,4 36,63 70 8,67 1,30 1,36
NT9 $N_3 P_3 K_3 A_1 B_1$ 52 750,0 ± 141,0 39,00 75 10,00 1,27 1,40
NT10 (ĐC) Tập quán nông hộ 47 622,5 ± 155,0 29,26 50 8,33 1,28 1,41

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Xác định công thức phân bón tối ưu: Nghiệm thức NT7 (bón 1.200 g N + 400 g $P_2O_5$ + 600 g $K_2O$ + 1 g Ca + 150 g $MgO$/cây/vụ) mang lại hiệu quả vượt trội nhất trên cây xoài Đài Loan 8–10 năm tuổi. So với công thức canh tác thông thường của nông hộ (NT10), nghiệm thức NT7 đã:
    • Tăng số lượng quả bình quân từ 47 quả lên 56 quả/cây (tăng 9 quả/cây).
    • Tăng trọng lượng quả trung bình từ 622,5 g lên 960,0 g/quả (tăng 337,5 g/quả).
    • Tăng năng suất thực thu từ 29,26 kg lên 53,76 kg/cây (tăng 24,50 kg/cây, tương ứng mức tăng 84%).
    • Tăng tỷ lệ quả thương phẩm loại I từ 50% lên 85% (tăng 35%), giảm tỷ lệ quả loại II xuống 10% và loại III xuống 5%.
  2. Cải thiện cân bằng khoáng mô lá: Ở nghiệm thức NT7, các chỉ tiêu dinh dưỡng trong mô lá đạt trạng thái ổn định: đạm đạt 1,35%, lân đạt 0,18%, kali đạt 1,33%, canxi đạt 1,78% và magie đạt 0,27%, khắc phục được tình trạng thiếu hụt đạm và mất cân đối trung lượng so với trước khi xử lý thí nghiệm.

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật

Tác giả đề xuất quy trình kỹ thuật bón phân khoáng cho cây xoài Đài Loan giai đoạn kinh doanh (8–10 năm tuổi) với liều lượng theo công thức NT7, phân bổ nghiêm ngặt qua 4 thời kỳ:

  • Đợt 1 (Sau thu hoạch 1 tuần): Bón 25% tổng lượng N + 25% $P_2O_5$ kết hợp với 5–20 kg phân bò hoai mục/gốc nhằm phục hồi tán cây và kích thích cành lộc mới.
  • Đợt 2 (Trước khi phân hóa mầm hoa 4 tuần): Bón 25% tổng lượng N + 50% $P_2O_5$ + 30% $K_2O$ nhằm hỗ trợ mầm hoa phát triển khỏe mạnh.
  • Đợt 3 (Sau đậu quả và giai đoạn quả lớn): Bón 50% tổng lượng N + 25% $P_2O_5$ + 50% $K_2O$ nhằm thúc đẩy tốc độ tăng sinh khối thịt quả và hạn chế rụng quả non.
  • Đợt 4 (Trước thu hoạch 1 tháng): Bón 20% lượng $K_2O$ còn lại để tăng độ đanh chắc của thịt quả và tích lũy hàm lượng đường hòa tan.

Đóng góp mới của đề tài

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học thực nghiệm đầu tiên về phản ứng sinh trưởng và năng suất của giống xoài Đài Loan đối với các mức phối hợp phân khoáng đa lượng và trung lượng tại vùng sinh thái huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
  • Làm sáng tỏ vai trò của việc bổ sung nguyên tố trung lượng (Ca, Mg) kết hợp điều chỉnh tỷ lệ N-P-K trong việc cải thiện trọng lượng quả và chuyển dịch cơ cấu phẩm cấp quả thương phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Thí nghiệm chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ thu hoạch duy nhất (từ tháng 11/2022 đến tháng 04/2023), trên một nhóm tuổi cây cố định (8–10 năm tuổi) và trên một loại hình lập địa cụ thể tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên. Đề tài chưa theo dõi được ảnh hưởng tồn dư của phân bón qua nhiều chu kỳ vụ mùa liên tiếp cũng như hiện tượng ra hoa cách năm.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:
    • Tiếp tục kéo dài thời gian theo dõi trên cùng một khu thí nghiệm trong 2–3 vụ tiếp theo để đánh giá tính ổn định của năng suất và khả năng duy trì sinh lực của cây.
    • Mở rộng khảo nghiệm trên các độ tuổi cây khác nhau (thời kỳ kiến thiết cơ bản 1–3 năm tuổi, thời kỳ kinh doanh sớm 4–7 năm tuổi) và trên các vùng đất khác nhau tại Đồng bằng sông Cửu Long.
    • Nghiên cứu sâu hơn về sự kết hợp giữa phân bón gốc và phân bón lá chứa các vi lượng chuyên biệt (Bo, Kẽm) ảnh hưởng đến thời gian bảo quản sau thu hoạch và độ bền vỏ quả khi vận chuyển xa.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Sư phạm Khoa học Tự nhiên, Sư phạm Sinh học, Nông học, Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Dinh dưỡng khoáng thực vật, Sinh lý học thực vật ứng dụng và Cây ăn quả nhiệt đới.
    • Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công tác xây dựng quy trình canh tác chuẩn cho vùng chuyên canh xoài Đài Loan.
    • Các chủ trang trại, nông hộ trồng xoài Đài Loan áp dụng trực tiếp công thức phối trộn phân bón và lịch trình 4 đợt bón để tối ưu hóa năng suất và tỷ lệ quả loại I.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Phương pháp luận lấy mẫu lá chuẩn hóa theo FAO (2008) kết hợp phân tích tương quan giữa chỉ số hóa mô lá với năng suất quả; bảng số liệu định lượng chi tiết về sự phân bố tỷ lệ quả loại I, II, III theo từng mức dinh dưỡng khoáng.

Câu hỏi thường gặp

1. Công thức phân bón nào trong thí nghiệm mang lại năng suất và phẩm cấp quả xoài Đài Loan cao nhất?

Nghiệm thức NT7 với mức bón 1.200 g N + 400 g $P_2O_5$ + 600 g $K_2O$ + 1 g Ca + 150 g $MgO$/cây/vụ cho kết quả cao nhất: năng suất thực thu đạt 53,76 kg/cây (tăng 84% so với đối chứng), trọng lượng trung bình đạt 960 g/quả và tỷ lệ quả thương phẩm loại I đạt 85%.

2. Sự khác biệt về liều lượng phân bón giữa nghiệm thức tối ưu NT7 và nghiệm thức đối chứng NT10 (tập quán nông hộ) là gì?

So với tập quán nông hộ (NT10), công thức NT7 đã tăng lượng đạm thêm 400 g N, tăng lân thêm 200 g $P_2O_5$, bổ sung thêm 900 g CaO và 150 g MgO/cây/vụ, đồng thời giảm lượng kali đi 200 g $K_2O$/cây/vụ để đạt trạng thái cân đối dinh dưỡng tối ưu.

3. Quy trình lấy mẫu và phân tích mô lá xoài trong khóa luận được thực hiện theo tiêu chuẩn nào?

Tác giả áp dụng quy trình tiêu chuẩn hóa theo FAO (2008) và Renato de Mello Prado (2020): lấy mẫu lá bánh tẻ (6–7 tháng tuổi) trên cành không mang quả ở 5 vị trí/ô, sấy cố định enzyme ở 90°C trong 15 phút, sấy khô kiệt ở 70°C và gửi phân tích tổng hàm lượng N, P, K, Ca, Mg tại Trung tâm Nghiên cứu Đất, Phân bón và Môi trường phía Nam.

4. Độ ngọt (độ Brix) của quả xoài Đài Loan biến động ra sao giữa các công thức bón phân?

Hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số dao động từ 8,00° Brix đến 10,00° Brix. Trong đó, nghiệm thức NT9 đạt độ Brix cao nhất (10,00° Brix), nghiệm thức NT7 đạt 8,33° Brix, còn hai nghiệm thức NT1 và NT6 đạt giá trị thấp nhất (8,00° Brix).

5. Việc bón phân khoáng được tác giả chia làm mấy thời kỳ trong năm?

Phân bón được chia làm 4 đợt: Đợt 1 bón sau thu hoạch 1 tuần (25% N + 25% $P_2O_5$ + phân bò hoai); Đợt 2 bón trước khi ra hoa 4 tuần (25% N + 50% $P_2O_5$ + 30% $K_2O$); Đợt 3 bón sau khi đậu quả và nuôi quả lớn (50% N + 25% $P_2O_5$ + 50% $K_2O$); Đợt 4 bón trước thu hoạch 1 tháng (20% $K_2O$).


Kết luận

Khóa luận đã khảo sát thực nghiệm thành công ảnh hưởng của các liều lượng phân khoáng đa lượng (N, P, K) và trung lượng (Ca, Mg) lên sinh trưởng, năng suất và phẩm chất giống xoài Đài Loan 8–10 năm tuổi tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Kết quả chứng minh công thức nghiệm thức NT7 (1.200 g N + 400 g $P_2O_5$ + 600 g $K_2O$ + 1 g Ca + 150 g MgO/cây/vụ) chia làm 4 đợt bón giúp cây đạt năng suất cao nhất 53,76 kg/cây (tăng 84% so với tập quán nông hộ) và tỷ lệ quả loại I đạt 85%. Công trình cung cấp cơ sở khoa học xác đáng và quy trình bón phân thực tiễn có giá trị ứng dụng cao cho ngành trồng cây ăn trái tại địa phương.