mở đầu thời kỳ dùng lạc trên quy mô lớn. Công nghiệp ép dầu đã được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thế giới. Gần đây người ta chú ý nhiều hơn tới nguồn protein trong lạc, nhân loại hy vọng vào các loại cây bộ đậu sẽ giải quyết nạn đói protein trước mắt và trong tương lai (Nguyễn Thị Chinh và cs, 2002) [ 2]. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2009 23,97 1,55 37,14 2010 25,47 1,68 42,73 2011 24,74 1,64 40,57 2012 24,59 1,65 40,48 2013 25,45 1,78 45,23 (Nguồn: Faostat, http://faostat.org) [17] Qua bảng 1.1 cho thấy: Về diện tích: Diện tích lạc trên thế giới đang biến động và tăng giảm thất thường từ năm 2009 – 2013.
Trong vòng 5 năm từ 2009 đến 2013 diện tích tăng 1,48 triệu ha. Về năng suất: Năng suất lạc trên thế giới đang tăng dần. Từ năm 2009 là 1,55 tấn/ha đến năm 2013 là 1,78 tấn/ha tăng 0,23 tấn/ha. Năng xuất cao nhất là năm 2013 đạt 1,78 tấn/ha.
Năng suất thấp nhất là năm 2009 đạt 1,55 tấn/ha. Về sản lượng: Sản lượng biến động theo diện tích và năng suất. Nên sản lượng lạc tăng giảm thất thường theo năm. Từ năm 2009 đến năm 2010 tăng từ 37,14 triệu tấn lên 42,73 triệu tấn.
Từ năm 2010 đến năm 2012 lại giảm mạnh do diện tích giảm nhanh và năng suất lại tăng chậm. Giảm từ 42,73 triệu tấn (năm 2010) còn 40,48 triệu tấn (năm 2012). Đến năm 2013 diện tích tăng và năng suất lại tăng nên sản lượng cũng tăng lên và đạt 45,23 triệu tấn. 6 Trên thế giới các nước xuất khẩu lạc nhiều là Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ.
Các nước nhập khẩu hàng năm lớn như Hà lan, Indonexia, Anh, Singgapo, Đức. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2011 2012 2013 2011 2012 2013 2011 2012 2013 Trung Quốc 4,60 4,72 4,68 3,50 3,57 3,61 16,11 16,86 16,92 Ấn Độ 5,31 4,77 5,25 1,31 0,98 1,80 6,96 4,70 9,47 Nigieria 2,34 2,42 2,36 1,26 1,27 1,27 2,96 3,07 3,00 Mỹ 1,01 1,27 1,14 3,01 3,54 3,22 3,05 4,49 3,69 (Nguồn: Faostat, http://faostat.org) [17] Qua số liệu bảng 1.2 ta thấy: Vùng sản xuất lạc chủ yếu trên thế giới là vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của lục địa Á – Phi, song năng suất lạc vùng này không cao, riêng Trung Quốc có năng suất cao đạt 3,61 tấn/ha năm 2013, các nước khác chỉ đạt 0,98 – 3,22 tấn/ha. Ấn Độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới nhưng lại có năng suất dưới mức trung bình. Sản lượng năm 2013 của các nước cao nhất là Trung Quốc đạt 16,92 triệu tấn, sau đó là Ấn Độ 9,47 triệu tấn, Nigienia 3 triệu tấn, Mỹ 3,69 triệu tấn, Nigienia 3 triệu tấn.
Tình hình nghiên cứu về mật độ cho lạc trên thế giới Tại Ấn Độ, họ cho rằng trồng lạc trong điều kiện nhờ nước trời thì khoảng cách 30 cm x 7,5 cm là tốt nhất (Florkowski W. Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểu hình Virginia được gieo trồng trong vụ Xuân như Luhua 4, Hua 17 trên đất có độ phì trung bình thì mật độ khoảng 220.000 cây/ha, còn đối với đất giàu 7 dinh dưỡng mật độ là 200. Các giống lạc thuộc loại hình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là 360. Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật độ là 300.
Miền Nam Trung Quốc, với giống đứng cây trồng trong vụ Xuân trên đất đồi hoặc trong vụ lạc Thu ở đất lúa, mật độ trồng thích hợp là 270.000 cây/ha (Florkowski W. Ở Mỹ, lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68 cm) x (10 - 15 cm). Trong điều kiện có tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 cm x 10 cm) tương đương mật độ 44 cây/m2 đạt năng suất cao nhất. Tình hình nghiên cứu về bón phân cho lạc trên thế giới Vai trò của các chất dinh dưỡng là khác nhau đối với cây lạc cũng như với các cây trồng khác, các chất dinh dưỡng tham gia vào thành phần tế bào, điều hòa áp suất thẩm thấu, ảnh hưởng tới pH của dịch tế bào và hệ thống đệm.
Thiếu dinh dưỡng là một nguyên nhân làm giảm năng suất lạc. Triệu chứng thiếu dinh dưỡng không phải lúc nào cũng biểu hiện nhưng qua phân tích các mẫu cho thấy 66% có hàm lượng P thấp, 78% có hàm lượng Zn thấp ở nhiều vùng. Phân tích đất phát hiện được 95% các vùng có lượng lân dễ tiêu thấp, 71% vùng có Zn thấp. Một số tác giả đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc.
Cây lạc hấp thụ 94 kg N: 24,2 kg P: 26 kg K đã đạt năng suất 1.338kg lạc quả/ha, hấp thụ 63 kg N: 4 kg P: 6 kg K năng suất 780 kg lạc quả/ha và 1.910 kg chất khô. Bón phân cho lạc có hiệu quả kinh tế, dù trong điều kiện nước trời. Kết quả của 200 thí nghiệm bón phân cho lạc ở Ấn Độ dẫn tới kết luận là: Bón trên 22 kg N cho một ha thì không có hiệu quả. Cũng theo 2 tác giả này, trên đất nhẹ hoặc trung bình, khi bón phối hợp 11,0 kg N/ha, 10 kg P2O5/ha và 19 kg K2O/ha tăng năng suất lạc nước trời 154% so với đối chứng và cao hơn một cách có ý nghĩa khi bón đơn độc N, P và K hoặc khi 8 bón cùng lúc 2 trong 3 yếu tố trên (Vũ Công Hậu và cs, 1995) [10].
Ở Ấn Độ, kết quả các thí nghiệm phân bón cho thấy, việc bón phối hợp 30 kg N/ha với 17 kg P2O5/ha thì năng suất lạc tăng gấp đôi so với chỉ bón 30 kg N/ha. Bón phối hợp 10 - 40 kg N, 30 - 40 kg P2O5, 20 - 40 kg K2O cho 1 ha là mức bón tối ưu cho lạc ở Ấn Độ (Florkowski W. Ở Trung Quốc, bón Gypsun (hợp chất có hàm lượng Canxi cao) với lượng 375 kg/ha cho đất nâu ở Wubei đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha, tăng 11,8% so với đối chứng không bón. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, so với bón riêng lẻ N, P, K thì bón kết hợp đã làm tăng khả năng hấp thu đạm của cây lên 77,33%, của lân lên 3,75%.
Tỷ lệ bón phối hợp N, P, K thích hợp nhất đối với lạc là 1:1,5:2 (Cesar. Ở Mỹ, nhiều vùng trồng lạc cũng cho thấy bón P, K cho cây bông là cây trồng trước của lạc có hiệu quả hơn bón trực tiếp cho lạc. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam Lạc là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dùng để chế biến dầu ăn thuộc loại tốt nhất.
Lạc chỉ xếp hạng thứ hai sau đậu tương về sản lượng dầu trong các dầu ăn thực vật, cũng như diện tích trong tổng diện tích cây lấy dầu. Ở nước ta, lạc được coi là một loại thức ăn bổ, thơm ngon và được nhân dân ưa chuộng. Trong thực phẩm, lạc có thể dùng ăn trực tiếp trong các bữa ăn hàng ngày như luộc, rang, hầm, hoặc chế biến thành lạc rang tẩm muối, bột lạc, bơ lạc, pho mát lạc, dầu tinh lạc, bánh, kẹo,… Ngoài ra, lạc còn được dùng làm nguyên liệu chế biến một số dược phẩm và mỹ phẩm, đặc biệt dầu lạc không đạt tiêu chuẩn còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến xà phòng cao cấp ở các nước phát triển, mà nổi tiếng nhất là xà phòng Macxây của Pháp. Lịch sử trồng lạc ở Việt Nam chưa dài so với các cây trồng khác như: lúa, đậu tương, đậu xanh.
trong cuốn ‘Vân đài loại ngữ” một cuốn 9 bách khoa toàn thư đầu tiên của nước ta do Lê Quý Đôn viết năm 1773 chưa hề nhắc tới cây lạc. Tuy nhiên hiện nay lạc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong các cây công nghiệp ngắn ngày ở nước ta. Lạc được trồng ở hầu hết các tỉnh trong cả nước. Diện tích trồng lạc chiếm 40% diện tích trồng cây công nghiệp ngắn ngày (Nguyễn Thị Chinh, 1996) [1] Trồng lạc ở nước ta chia làm bốn vùng chính, vùng trung du miến núi phía Bắc, khu 4 cũ, đông Nam Bộ và Duyên hải nam trung bộ.
Trong đó khu vực trung du miền núi phía Bắc và duyên hải nam trung bộ cơ cấu trồng lạc vẫn phát triển chủ yếu vụ lạc Xuân. Vùng trung du miền núi phía Bắc có tiềm năng phát triển thêm diện tích ở chân ruộng bỏ hóa vụ xuân, trồng xen cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày (Ngô Thế Dân và cs, 2000) [4] Những năm gần đây công tác nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trồng lạc ở nước ta được đầu tư mạnh mẽ các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp ngành, cũng như các dự án trong nước và ngoài nước được triển khai. Qua đó đã chọn tạo được bộ giống lạc thích ứng với điều kiện sản xuất khác nhau gồm các giống thâm canh cao như: Sen lai 7523, L14, L02, L18, L23 các giống ngắn ngày chịu hạn như V79, L05, L12, VD1, VD2, giống thích ứng rộng kháng bênh héo xanh vi khuẩn như MD7, MD9 và đã ứng dụng thành công kỹ thuật che phủ Nilon.vì vậy sản xuất lạc ở nước ta hiện nay có xu hướng tăng về diện tích và sản lượng. Theo Ngô Thế Dân và cs, 2000 [4], sự biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn: - Từ năm 1975 - 1979: Giai đoạn này diện tích gieo trồng có xu thế giảm từ 97,1 ngàn ha (1976), xuống còn 91,8 ngàn ha (1979), giảm bình quân 2,0%/năm.
Năng suất và sản lượng giai đoạn này cũng giảm, năm 1976 năng suất đạt 10,3 tạ/ha, đến năm 1979 chỉ còn 8,8 tạ/ha, giảm 5,0%. 10 Nguyên nhân chính là thực trạng phong trào hợp tác xã hoá bị sa sút, yêu cầu giải quyết đủ lương thực cần thiết đặt lên hàng đầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp nên cây lạc không được đầu tư phát triển. - Từ năm 1980 - 1987: Thời kỳ này diện tích trồng lạc tăng nhanh, từ 91,8 ngàn ha năm 1979 lên 237,8 ngàn ha năm 1987. Tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 5,6% năm đến 24,8% năm.
Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980 và sản lượng tăng 2,3 lần. Mặc dù diện tích gieo trồng tăng lên nhanh chóng, nhưng năng suất không tăng, chỉ dao động từ 8,8 - 9,7 tạ/ha, sản xuất lạc lúc này còn mang tính quảng canh truyền thống.