CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ẢNH HƯỞNG CỦA HỐ ĐÀO SÂU ĐẾN CÔNG TRÌNH LÂN CẬN 1.1 Phản ứng của công trình lân cận hố đào Công trình ở gần hố đào luôn có nguy cơ bị biến dạng đáng kể trong suốt quá trình đào, chắn giữ và xây mới. Những chuyển vị đứng và ngang của đất ở đáy và thành hố sẽ dẫn đến lún và nghiêng công trình nằm trong vùng ảnh hưởng. Ảnh hưởng của việc xây dựng công trình ngầm trong đô thị. Cơ chế ảnh hưởng thường gặp trong thực tế có thể thấy rõ như trình bày trên (Hình 1.1: Ảnh hưởng của xây dựng công trình ngầm đến công trình lân cận Trong đó: 1.
Nguyên nhân là rỗng đất gây chuyển vị. Đất bị đào hoặc chuyển vị thể tích. Phân bố chuyển vị thể tích. Chuyển vị của mặt đất.
Chuyển vị của kết cấu. Sự hư hỏng của kết cấu. Chuyển vị đất quanh hố đào phía không có công trình hiện hữu. Hố đào hở là nguyên nhân chủ yếu làm hư hại công trình liền kề do chuyển vị ngang của hệ tường chống đỡ hố đào kể từ quá trình thi công chống đỡ hố đào đến lấp đất tháo dỡ hệ văng chống.
Thông thường, hơn 2/3 tổng giá trị chuyển vị ngang 6 của hệ văng chống hố đào thường xảy ra trong quá trình thi công hố đào, khoảng 1/3 tổng giá trị chuyển vị ngang của hệ văng chống hố đào có thể xảy ra khi lấp đất và tháo dỡ hệ văng chống. Biến dạng của công trình nằm trong phạm vi ảnh hưởng của hố đào phụ thuộc vào các yếu tố: Tác động của sự thay đổi ứng suất trong nền đất trong quá trình thi công hố đào. Kích thước của hố đào (chiều rộng và chiều sâu hố đào). Cách tiếp cận của công trình hiện hữu với hố đào (gần/xa và song song hay vuông góc).
Điều kiện địa chất công trình và địa chất thuỷ văn hố đào. Độ cứng của tường vây và hệ chống giữ. Tình trạng nước ngầm và động thái của chúng. Công nghệ thi công tường chắn và hệ chống giữ tường … Công trình lân cận (Hình 1.2) có hệ kết cầu móng nông bị phá huỷ do khoảng cách từ mép hố đào đến công trình lận cận rất nhỏ, chiều dài công trình nằm song song với chiều dài hố đào, độ sâu hố đào lớn, độ cứng của hệ văng chống hố đào không đảm bảo và công nghệ thi công đào hở không phù hợp trong trường hợp thi công này.
Phản ứng của công trình lân cận trong phạm vi ảnh hưởng lún của hố đào trong quá trình thi công diễn ra rất phức tạp, đòi hỏi phải có kinh nghiệm Hình 1.2: Phá huỷ công trình thi công và khả năng phân tích tính toán cao. Bài lân cận. học mang nhiều kiến thức bổ ích được đúc rút ra từ quá trình tính toán thiết kế, thi công và quan trắc Công trình: Toà nhà Trung tâm Tổ chức kinh doanh Quốc gia Đài Loan (Taipei National Enterprising Center- TNEC) với 18 tầng nổi và 5 tầng hầm. Hiện trạng công trình lân cận gồm các khối nhà 12 tầng, 14 tầng có kết cấu móng 7 nông, trạng thái của hai khối nhà A và B trong quá trình thi công hố đào rất đáng được xem xét phân tích và rút ra nhiều bài học.
Biểu thị trạng thái hai khối nhà A và B trong quá trình thi công hố đào (Hình 1.3): Ở giai đoạn đào đầu tiên, tường chắn làm việc như dầm côngxôn và độ lún bề mặt lớn nhất của đất xuất hiện gần tường (sát với tường). Những độ lún bề mặt lớn nhất của đất ở gần tường chắn có giá trị lớn hơn độ lún nằm ở gần góc c và d, do đó làm cho toà nhà A nghiêng sang phía vùng hố đào. Tuy nhiên, khi đào càng sâu, kiểu lõm của biểu đồ độ lún, những nơi mà độ lún bề mặt lớn nhất của đất, đã xuất hiện ở một số điểm xa tường chắn lại có trị số trội hơn. Khi đó độ lún bề mặt ở gần tường chắn lại nhỏ hơn độ lún bề mặt ở gần góc c và d.
Hiện tượng này làm toà nhà A quay nghiêng trở lại và cân bằng so với trạng thái ban đầu. Đối với nhà B, khi ở giai đoạn đào cuối cùng cũng bị ảnh hưởng nghiêng về phía hố đào. Tuy nhiên, nhà B chịu ảnh hưởng không đáng kể bởi hố đào do phần móng nhà B nằm xa và dưới vùng ảnh hưởng lún.3: Phản ứng của khối nhà A và B trong quá trình thi công hố đào Vậy cách xác định phạm vi ảnh hưởng lún của hố đào đến công trình lân cận như thế nào? Đánh giá mức độ nguy hiểm của công trình lân cận khi chịu ảnh hưởng lún xung quanh hố đào như thế nào? Vấn đề này được thể hiện trên (Hình 1.4) và sẽ được trình bày/giải thích ở các phần tiếp theo của luận văn.4: Ảnh hưởng lún và mức độ hư hại công trình lân cận hố đào 1.2 Phạm vi ảnh hưởng lún của hố đào đến công trình lân cận Đối với các vùng nền đất khác nhau thì các yếu tố ảnh hưởng đến biến dạng của đất quanh hố đào sâu sẽ không giống nhau. Vì vậy, cần tìm hiểu rõ với từng trường hợp cụ thể đâu là nguyên nhân chính gây lún với công trình lân cận.
Các yếu tố chính có thể kể đến : Tác động của sự thay đổi ứng suất trong đất nền Kích thước hố đào Các đặc tính của đất Ứng suất nằm ngang ban đầu trong đất Tình trạng nước ngầm và sự biến động của chúng Độ cứng của hệ chống đỡ hố đào Biện pháp thi công đào đất Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xem xét phân tích hai yếu tố: độ cứng của kết cấu chắn giữ hố đào và độ cứng của đất xây dựng công trình trong tính toán phạm vi ảnh hưởng của hố đào đến độ lún công trình lân cận. Phạm vi công trình được nghiên cứu có độ sâu mực nước ngầm thấp hơn đáy hố đào.1 Độ cứng của tường và hệ văng chống ảnh hưởng tới độ lún xung quanh hố đào. Trong quan sát ở hiện trường cho thấy, quá trình lún của đất xung quanh hố đào chống đỡ bằng cọc bản thép giảm khi tăng độ cứng của cọc và hệ thanh chống đỡ. Độ cứng đàn hồi của hệ thanh chống có vai trò rất quan trọng.
Độ chôn sâu của cọc từ đáy hố đào trở xuống cũng làm thay đổi về độ cứng của cọc bản thép và có ảnh hưởng tới dịch chuyển của đất bên ngoài theo cả hai phương thẳng đứng và nằm ngang. Ngoài độ cứng của tường chắn thì độ cứng và khoảng cách bố trí chống đỡ của hệ văng chống cũng ảnh hưởng đáng kể đến chuyển dịch của đất bên ngoài thể hiện trên (Hình 1. Quan sát ngoài hiện trường cho thấy việc tăng độ cứng của hệ văng chống đã làm giảm chuyển dịch của đất ở biên ngoài hố đào.5) liên hệ giữa độ cứng của kết cấu tường chắn với dịch chuyển đất xung quanh hố đào thể hiện mối tương quan giữa chuyển vị ngang tường chắn với độ lún bề mặt đất xung quanh hố đào.5: Độ cứng hệ chống giữ, tường chắn và cách lắp đặt ảnh hưởng lớn tới độ lún thẳng đứng của đất. Theo (Goldberg và cộng sự) đã đưa ra ảnh hưởng của độ cứng và nhịp chống đỡ tới chuyển dịch ngang của tường thể hiện trên (Hình 1.
Với các thông số: h - khoảng cách theo phương thẳng đứng giữa các cột chống đỡ hoặc giữa cột chống đỡ 10 và đáy hố đào. Ew – Môdun đàn hồi của vật liệu làm tường, Iw – Mô men quán tính của tường trên 1 đơn vị chiều dài, H – áp lực quá cố kết, Cu cường độ kháng cắt không thoát nước của đất. Theo đó, trong (Hình 1.6) với một điều kiện nền đất cụ thể thì khi độ cứng của tường chắn lớn sẽ làm giảm dịch chuyển ngang của tường, tuy nhiên với nền đất quá yếu thì dù có tăng độ cứng tường chắn lên nhiều thì dịch chuyển ngang của tường vẫn rất lớn.6: Ảnh hưởng của độ cứng và nhịp chống đỡ tới chuyển dịch ngang của tường. Tập hợp nhiều kết quả tính toán bằng phương pháp số với mô hình nền khác nhau, (Hình 1.7) thấy được mối quan hệ giữa độ cứng của hệ tường chắn và hệ chống đỡ hố đào có mối quan hệ với nhau.
Diện tích vùng lún thẳng đứng bên ngoài hố đào xấp xỉ bằng diện tích vùng giới hạn bởi đường cong biến dạng ngang của đất ở ngay cạnh tường và biên hố móng. Hình dáng biến dạng của tường hoặc của đất ngay cạnh tường được sinh ra bởi biến dạng giữa các điểm chống đỡ ở các độ sâu khác nhau và những giá trị chuyển dịch vào trong lòng hố móng. Lực cân bằng thay đổi trong thanh chống và sự thay đổi áp lực đất ở dưới đáy hố móng là nguyên nhân gây ra một lượng dịch chuyển ngang phụ thuộc vào độ cứng của thanh chống và độ cứng của đất ở trạng thái nén bên dưới đáy hố móng. Do đó, hệ tường chắn và hệ chống đỡ có độ cứng lớn thì chuyển vị ngang tường chắn nhỏ, kéo theo chuyển vị đất xung quanh hố đào nhỏ và ngược lại.
Tuy nhiên, điều này chỉ phù hợp với hố đào có mực nước ngầm thấp hơn đáy hố đào.7: Quan hệ giữa chuyển vị tường chắn với độ lún xung quanh hố đào 1.2 Đặc tính của đất ảnh hưởng đến độ biến dạng xung quanh hố đào Từ những quan sát thực tiễn ngoài hiện trường cho thấy: độ cứng của hệ chống đỡ hố đào tuy làm giảm dịch chuyển đất xung quanh hố đào nhưng không hoàn toàn triệt tiêu dịch chuyển này. Mặc dù tăng một lượng lớn độ cứng của hệ chống đỡ nhưng chỉ có tác dụng làm giảm một lượng nhỏ sự dịch chuyển của đất xung quanh hố đào. Tóm lại thì việc chống đỡ chỉ làm hạn chế những dịch chuyển của đất chứ không hoàn toàn loại trừ được dịch chuyển đất. Một số tác giả (Clough, Davidson và Tomlinson) “theo tài liệu: Thiết kế và thi công hố móng sâu-PGS.TS Nguyễn Bá Kế” cho rằng: độ lớn biến dạng tại mỗi độ sâu đã cho của hố đào là một hàm của các đặc trưng chống đỡ của đất chứ không phải chỉ là độ cứng của hệ chống đỡ.
Theo nghiên cứu của Tomlinson thì với cấu kiện thép, thậm chí có tiết diện rất lớn cũng trở nên không đủ độ cứng để làm giảm chuyển vị của đất bằng độ cứng đáng kể của nó. Ông cho thấy những tường bê tông cốt thép biến dạng cùng một lượng tương tự như với tường cọc ván cừ.