mở đầu gió mùa mùa hè ở Kerala và nam Ấn Độ với dị thường SST ở Tây Bắc Thái Bình Dương. Nghiên cứu về khí hậu Việt Nam, tác giả Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc đã khẳng định rằng gió mùa đóng vai trò rất quan trọng trong điều kiện khí hậu, nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới vì những tác động đảo ngược với các quy luật địa đới. Tuy nhiên, nghiên cứu về gió mùa thường chưa được chú ý đúng mức và đánh giá đầy đủ trong các công trình khảo sát và phân tích- ứng dụng khí hậu từ xưa đến nay. Với những công cụ và kho số liệu hiện nay, người ta đã có thể biểu thị cấu trúc, đặc điểm diễn biến của gió mùa khu vực rất phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên, một công cụ cổ điển nhưng khá hiệu quả là việc xây dựng các chỉ số khí hậu nhằm thể hiện một cách tổng hợp và đặc trưng nhất những đặc điểm, sự diễn biến của các hiện tượng khí tượng cần quan tâm cũng đã được nhiều chuyên gia gió mùa sử dụng. Đó là việc sử dụng các chỉ số gió mùa. Để xây dựng các chỉ số gió mùa, trước hết người ta dựa vào định nghĩa và bản chất vật lý của nó, chọn ra những yếu tố và khu vực đặc trưng, những hệ thống gió mùa cần quan tâm. Từ định nghĩa về gió mùa, người ta khảo sát sự tương phản của gió thông qua các bản đồ tích hoặc hiệu của các thành phần kinh, vĩ hướng của véc tơ gió giữa hai mùa, xác định những khu vực gió có sự đổi hướng trong năm[20].Cho tới nay, những chỉ số gió mùa thường được sử dụng bao gồm:Chỉ số về lượng mưa (dựa trên lượng mưa trung bình các tháng gió mùa);Chỉ số hoàn lưu (dựa trên sự chênh lệch các thành phần gió tại các mực khí áp);Chỉ số đối lưu (dựa trên lượng bức xạ phát xạ sóng dài OLR),.Trong đó, các chỉ số về mưa thường được áp dụng ở những nước gió mùa có liên quan tới chế độ nhiệt ẩm, đặc biệt là gió mùa mùa hè ở khu vực châu Á.
Ngoài ra, một số tác giả còn sử dụng chênh lệch khí áp mặt biển làm chỉ số gió mùa, tuy nhiên, chỉ số này ít được sử dụng do trên các vùng vĩ độ thấp chênh lệch áp nhỏ, không điển hình và khá phức tạp[20]. Trong bài báo nghiên cứu về chỉ số mưa gió mùa khu vực Ấn Độ của tác giả Parthasarathy, chỉ số mưa gió mùa toàn Ấn Độ AIMR (All-India Monsoon Rainfall)được sử dụng để phản ánh hoạt động của gió mùa mùa hè. AIMR được tính trung bình từ tất cả các tiểu vùng của Ấn Độ cho chuỗi số liệu nhiều năm[41].Mặc dù thể hiện được mức độ mạnh yếu của lượng mưa gió mùa trên toàn Ấn Độ nhưng chỉ số AIMR chưa đại diện cho hoàn lưu gió mùa mùa hè trên quy mô lớn ở Nam Á [23]. Chỉ số hoàn lưu WYI đã được sử dụng nhằm phản ánh tính biến động của gió mùa châu Á, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được tính là hiệu thành phần gió vĩ hướng giữa mực 850hPa và mực 200 hPa trung bình trên khu vực nam Á.
Tuy nhiên chỉ số AIMR và WYI lại không có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, do đó, chỉ số mưa Ấn Độ mở rộng RM1 được đưa vào sử dụng, được tính là tổng lượng mưa gió mùa mùa hè trên khu vực lục địa Ấn Độ cộng với phần phía Bắc của Vịnh Bengal và phần phía Nam Trung Quốc, bao trùm khu vực (10- 30°N, 70-100°E). Chỉ số này có mối liên hệ khá tốt với chỉ số hoàn lưu Hadley MHI (được tính bằng hiệu thành phần gió kinh hướng giữa 850 và 200 hPa cho chính khu vực có lượng mưa mở rộng nêu trên. MHI cũng có liên hệ khá tốt với AIMR [30]. Một số chỉ số cho khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, Nam Mỹ, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương,.cũng được nghiên cứu và áp dụng như các chỉ số WNPMI, AUSMI, ZI, SSI1, GI,.Tiếp đó, các tác giả đã đề cập một số chỉ số hoàn lưu cho những khu vực khác nhau của gió mùa châu Á [23,48].
Khu vực Đông Nam Á có phạm vi trải rộng theo hướng Đông-Tây, bao trùm cả phía Tây Thái Bình Dương, các chỉ số gió mùa xây dựng cho khu vực này phải đảm bảo phản ánh được sự biến động của gió mùa trên một phạm vi rộng lớn. Chỉ số hoàn lưu và đối lưu trên khu vực Đông Nam Á được tính toán dựa trên kết quả phân tích mối quan hệ giữa các đặc trưng gió mùa khu vực nghiên cứu (10-20°N, 115-140°E). Hai chỉ số được lựa chọn cho khu vực này bao gồm: Chỉ số hoàn lưu MCI 2 được tính bằng hiệu thành phần gió vĩ hướng mực 850 hPa trung bình của khu vực (5 - 15°N, 90 -130°E) và khu vực (22,5 - 32,5°N, 110 -140°E) tính trung bình cho mùa gió mùa từ tháng 6 tới tháng 9; Chỉ số đối lưu được tính bằng chuẩn sai âm của bức xạ phát xạ sóng dàikhu vực (10-20°N, 115- 140°E) [23].1 đưa ra một số chỉ số gió mùa cho các khu vực khác nhau.1: Một số chỉ số gió mùa Chỉ số Dạng chỉ số Cách xác định Áp dụng Tác giả AIMR(AIRI) (All-India Monsoon Mưa (Ấn Tổng lượng mưa gió mùa từ tháng 6 Parthasarathy Rainfall) or (All Độ) tới tháng 9 trên các tiểu vùng Ấn Độ (1992)[41] Indian Rainfall Index) Tổng lượng mưa gió mùa từ tháng 6 tới tháng 9 trên khu vực lục địa Ấn Mưa (khu Độ cộng với phần phía Bắc của Vịnh Goswami B.N RM1 vực Ấn Độ Bengal và phần phía Nam Trung (1999)[30] mở rộng) Quốc giới hạn bởi (10 - 30°N, 70 - 110°E) WNPMI Hoàn lưu vĩ (Western Norht U850(5-15oN, 100-130oE)-U850(20- Wang et al hướng (Tây Pacific Monsoon 30oN, 110-140oE) (2001)[48] Bắc TBD) Index) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ số Dạng chỉ số Cách xác định Áp dụng Tác giả AUSMI Hoàn lưu vĩ (Australian Wang et al hướng U850(0-10oS,120-150oE) Summer (2004)[46] (Australia) Monsoon Index) Chuẩn sai Marcelo ATL3I (Atlantic nhiệt (Nam ATL3=SST(20°W - 0°E, 3°S-3°N) Barreiro et al index) Mỹ) [39] ZI (The mean 850 mb Zonal Hoàn lưu Marcelo winds over the (Đại Tây ZI=U850(60-20°W, 5°S-5°N) Barreiro et al western Dương) [39] equatorial Atlantic Index) Hoàn lưu Wang & Fan SSI1 (Southerly V850– V200 ((5-15oN,120-145oE) và (1999) [23] (khu vực Ấn shear Index) (5oS-5 oN,90-120oE)) Độ) Hoàn lưu vĩ U850-U200 WYI (Weber Weber & Yang hướng(Nhiệt and Yang Index) o o (0-20 N, 40-110 E) (1992)[49] đới châu Á) Hoàn lưu vĩ hướng GI = SLP (<-5 hPa) (10-50°N, 100- Guo, GI (Guo Index) (Châu Á- 160°E) (1983)[33] Thái Bình Dương) CI1 (Convection Đối lưu (Ấn Wang & Fan OLR(10-25oN, 70-100oE) Index 1) Độ) (1999) [23] CI2 (Convection Đối lưu OLR(10-20oN,115-140oE), trung bình Wang & Fan Index 2) (Nam Á) từ tháng 6- tháng 9 (1999) [23] + Trong hậu (pentad – thời kỳ 5 ngày liên tiếp) bùng nổ, U U bengal (Gió vĩ bengal>0 hƣớng trung Hoàn lưu Bùi Minh Tuân, + Trong 3 hậu bình mực 850 mực thấp Nguyễn Minh U bengal= U850 (5-10°N, 90-100°E) tiếp theo, bao hPa trên vịnh (Vịnh Trường, gồm cả hậu Bengal) Bengal) 2010[10] bùng nổ, U bengal phải dương trong ít nhất 3 hậu và giá trị trung bình hậu U 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ số Dạng chỉ số Cách xác định Áp dụng Tác giả bengal > 3 m/s + Hoàn lưu Ngưỡng:EAWM EAMI (East EAMI= U850-U200 (0-10°N, 100- (Đông Á- mạnh, yếu: ±0.Zhu, Asian Monsoon 130°E) +SLP (10-50°N ,160°E) –SLP Thái Bình 2005)[27] Index) (10-50°N ,110°E) ) + Ngưỡng: Dương) EASM mạnh yếu: ±1 EASMI (East Asian Summer (Đông Á) EASMI=ΔSLP(10-50 oN,110-160 oE) Guo (1983)[32] Monsoon Index) + ESMI mùa hè được tính bằng hiệu số lượng vận tải ẩm của ESMI phần Nam và Vận tải ẩm ESMI = Δ VQSC (22,5-27,5oN,105- Bắc Trung Quốc Liang Ping, (East Asian (Cận nhiệt 120oE)-Δ VQNC (35-40oN, 105- các tháng 6-8, Tang Xu (2008) subtropical đới Đông Á) 115oE) giai đoạn 1971- [37] summermonsoon 2000. index) + ESMI > 25 (< - 25) tương ứng với gió mùa mạnh (yếu) RM2 (EAMI) Hoàn lưu vĩ (Regional U200(40-50oN, 110-150oE)-U200(25- Lau et al hướng Monsoon Index) 35oN, 110-150oE) (2001)[36] (Đông Á) or (East Asian Monsoon Index) DU2 (SEAMI), (MCI2) (The difference Hoàn lưu vĩ hướng U850(5-15oN, 90-130oE)- Wang & Fan between thewesterly (Đông Nam o U850(22.
Wang, Lin 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ số Dạng chỉ số Cách xác định Áp dụng Tác giả China Sea hướng(Biển 120°E) đầu tiên sau Ho, Y Zhang. Summer Đông) ngày 25/4 thỏa M. Lu, Monsoon) mãn: (1) (2004)[22,26] SCSSM >0 trong hậu bùng nổ, (2)Bốn hậu tiếp theo, gồm cả hậu bùng nổ, SCSSM >0 trong ít nhất 3 hậu và SCSSM trung bình 4 hậu đó>1m/s Hoàn lưu SCSMI (South vĩ SCSMI= U850(5-15°N,110-120°E)- Bin Wang et al China Sea hướng(Biển U850(20-25°N,110-120°E) (2009) [24] Monsoon Index) Đông) ORLI(Outgoing JiangYu Mao Đối lưu Longwave ORLI=ORL(5-20°N, 110-120°E) and Johny C. (Biển Đông) Radiation Index) Chan,2004 [38] Guihua Wang, SCSMI (South Hoàn lưu SCSMI = 𝜏 𝑥 (5.25°N,110 - Chunzai Wang, China Sea (Biển Đông) 120°E) - 𝜏 𝑥 (17.25°N, 110- Rui Xin Huang Monsoon Index) 120 °E) (2010) [31] EASMI (East Hoàn luu vĩ Quingyun U850(10-20oN, 100-150oE)-U850(25- Asian Summer hướng Zhang, Shiyang 35oN, 100-150oE) Monsoon Index) (Đông Á) Tao (1998) Issm Issm= Psub – Psib (Subtropical Nhiệt đới Psub=SLP(40-50 oN, 110 oE) Zhao Ping [54] Summer đông Á Monsoon Index) Psib=SLP(30-40 oN, 160 oE) Hoàn lưu SSI2 (Southerly V850 – V200((15-30oN,85-100oE) và Wang & Fan (khu vực shear Index) (0-15oS,40-55oE)) (1999) [23] Nam Á) MHI (HSACELL) Hoàn lưu V850-V200 Goswami et al (Monsoon kinh hướng Hadley o o (10-30 N, 70-110 E) (1999)[30] (Nam Á) Circulation Index) B.
Wang, Lin UEOF1 (the first Hoàn Ho, Y Zhang. Lu, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ số Dạng chỉ số Cách xác định Áp dụng Tác giả Orthogonal Á) (2004)[22,26] UEOF1=U850hPa(0-40°N, 100- Function mode 140°E) of the 850 hPa zonal wind) Có 5 cấp độ gió mùa (GM): (1) CSHL ≥ 1: GM mạnh; (2) 0.5 < CSHL <1: GM vừa; Nguyễn Thị Hoàn CSHL=Δ U850(2.5<CSHL< hoàn lƣu) Thuận,2002 Bộ) 120 °E) 0.5:GM bình [11] thường; (4) -1 ≤ CSHL≤ -0.5:GM yếu vừa; (5)CSHL < -1: GM yếu + CSĐL< 0, đối lưu yếu hơn Đối lưu bình thường Nguyễn Thị CSĐL (Chỉ số (Nam Bộ- CSĐL = - ΔOLR(5-15°N, 100-115°E) Hiền đối lƣu) + CSĐL >0,đối Việt Nam) Thuận,2002[11] lưu mạnh hơn bình thường Một số nghiên cứu đã cho thấy gió mùa nam Á hoạt động yếu hơn bình thường trong những năm El Nino, dẫn tới thiếu hụt lượng mưa mùa hè ở trong thời kỳ El Nino xuất hiện, tuy nhiên, trong những năm gần đây, có những năm El Nino, lượng mưa tại khu vực Ấn Độ lại cao hơn trung bình nhiều năm [43]. Ảnh hưởng của ENSO đối với khu vực gió mùa châu Á thường xảy ra vào những năm sau của ENSO.