mở đầu của tháng có xu hướng được một tạm lắng trên thị trường. Nhà đầu tư nắm giữ các cổ phiếu trong chỉ 7 số DJ trong những ngày xấu này từ năm 1900-2008 theo thực nghiệm sẽ mất khoảng 70%.2 Hiệu ứng những ngày nghỉ lễ của chỉ số DJ 1933-2008 Nghiên cứu ban đầu của Fosback bao gồm trước kỳ nghỉ lễ, mà ông định nghĩa là hai ngày trước khi thị trường nghỉ lễ. Với mục đích xem xét ảnh hưởng của những ngày nghỉ lễ, Arthur J. Minton, đã loại trừ ảnh hưởng của ngày Martin Luther King, Jr Day, vì nó là một này lễ được bổ sung thời gian gần đây.
Vì vậy Arthur chỉ xét những ngày lễ như: Ngày của tổng thống (President’s Day), Good Friday, ngày thương binh liệt sỹ (Memorial Day), ngày Độc lập (Independence Day), lễ Lao động (Labor Day), lễ tạ ơn (Thanksgiving), lễ Giáng sinh (Christmas), ngàyTết Tây (New Year's Day) Một ngày trước khi kỳ nghỉ diễn ra có hiệu lực rất mạnh, chiếm phần lớn ở thế kỷ 20. Một khoản đầu tư duy nhất $1.000 vào ngày hôm đó có thể tăng lên đến $3.147 trong giai đoạn 1933-2008. Tương ứng với lợi nhuận hàng năm là 62,3% so với mức trung bình hàng năm của tất cả các ngày giao dịch khác là 5,9%. Nếu thêm vào ngày tiếp theo đến ngày cuối cùng (next-to-last day) trước một kỳ nghỉ thì số tiền nhận được tăng thêm, nhưng không gia tăng mạnh mẽ.
Khoản đầu tư $1,000 vào chỉ số Dow từ 1933-2008 vào hai ngày đã lên đến $ 4,552. Lợi nhuận hàng năm cho hai ngày này là 37,5% so với 6% cho tất cả các ngày giao dịch khác.3 Hiệu ứng ngày trong tuần của một số thị trường chứng khoán trên thế giới Một số nghiên cứu sớm nhất về thị trường chứng khoán Mỹ cho thấy lợi suất chứng khoán tiêu cực tập trung nhiều vào ngày thứ Hai và tích cực vào ngày thứ Sáu (Cross,1973; Lakonishok và Levi, 1982; Rogalski, 1984; Keim và Stambaugh, 1984). Các hiệu ứng này cũng có vẻ có mặt tại thị trường chứng khoán của các nước phát triển khác, như Nhật Bản, Canada và Australia, mặc 8 dù trong một số của các thị trường này là các hiệu ứng khác cũng có mặt. Đối với một số nước châu Âu, kết quả khá hỗn hợp, cũng bộc lộ những mẫu mới bất thường (Jaffe và Westerfield, 1985a, 1985b; Hawawini, 1984; Solnik và Bousquet, 1990).
Kết quả hỗn hợp cũng đã được quan sát trong các thị trường mới nổi (Wong, năm 1992; Balaban, 1995; Choudhry, 2000). Cần lưu ý rằng nghiên cứu trước đây đã sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau để điều tra các hiệu ứng. Đương nhiên, mỗi nghiên cứu phản ánh một quan điểm của tác giả cũng như cách tiếp cận cụ thể của họ. Trong các thị trường Mỹ, một nghiên cứu của French (1980) kiểm tra lợi suất hàng ngày của S&P 500 trong giai đoạn 1953-1977.
Kết quả cho thấy hiệu ứng tiêu cực vào ngày thứ Hai và tích cực vào các ngày thứ Tư, thứ Năm và thứ Sáu. French cho rằng hiệu ứng tiêu cực vào ngày thứ Hai là do xu hướng của các công ty công bố thông tin bất lợi ở cuối tuần trước. Sử dụng phương pháp tương tự, nhưng qua một khoảng thời gian khác nhau, lợi suất hàng ngày của chỉ số S&P 500 cho giai đoạn 1962-1978, Gibbons và Jess (1981) cũng cho thấy lợi nhuận tiêu cực có nghĩa là vào thứ Hai. Jaffe và các cộng sự (1985) kiểm tra lợi suất hàng ngày các chỉ số thị trường chứng khoán của Nhật Bản, Canada, Australia, Anh và Mỹ.
Họ nhận thấy lợi nhuận đáng kể tiêu cực thứ Hai ở Mỹ, Canada và Vương quốc Anh, và ngày thứ ba cho Nhật Bản và Australia, trong khi một hiệu ứng tích cực thứ Sáu đã được tìm thấy trong tất cả các thị trường ngoại trừ Vương quốc Anh. Họ chỉ ra rằng thời gian khác nhau giữa các thị trường khu vực đó và thị trường Mỹ có thể tài khoản cho sự hiện diện của các hiệu ứng tiêu cực thứ Ba. Tuy nhiên, nó đã được tìm thấy rằng sự khác biệt múi giờ chỉ có thể giải thích sự bất thường trong thị trường chứng khoán Úc. Ở các thị trường mới nổi, Wong et al.
(1992) thử nghiệm sự khác biệt trong lợi nhuận có nghĩa là qua ngày trong tuần trong chỉ số thị trường chứng khoán của năm quốc gia châu Á trong giai đoạn 1975-1988. Họ tìm thấy một hiệu ứng tiêu cực đáng kể vào ngày thứ Hai tại Singapore, Malaysia và Hong Kong, một hiệu ứng tiêu cực vào thứ Ba ở Thái Lan, và một hiệu ứng tích cực vào ngày thứ Sáu trong bốn thị trường. Xem xét dữ liệu hàng ngày của Chứng khoán 9 Istanbul Exchange Composite Index cho giai đoạn 1988-1994, Balaban (1995) tìm thấy một ảnh hưởng tích cực đáng kể vào ngày thứ Tư và ngày thứ Sáu, và thứ Hai là ngày dễ bay hơi nhất để trả về chứng khoán. Wong và Yuanto (1999) tìm thấy một tác động tiêu cực đáng kể vào thứ Ba và có ảnh hưởng tích cực vào thứ Sáu của chỉ số Composite Index Jakarta (Indonesia) cho giai đoạn 1983-1997.
Mookerjee và Yu (1999) khám phá các chỉ số thị trường chứng khoán hàng ngày của sàn Thượng Hải và Thâm Quyến cho giai đoạn 1990- 1994. Hiệu ứng tích cực đáng kể vào ngày thứ Năm và thứ Sáu đã được quan sát trong giao dịch của chỉ số chứng khoán Shanghai, nhưng không có hiệu ứng ngày trong tuần tuần một cách có hiệu lực ở chỉ số Shenzen.4 Kết quả nghiên cứu và một số mô hình về sự ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng lên chỉ số chứng khoán trên Thế giới 1.1 Kết quả nghiên cứu Từ năm 1985, Rotton và Kelly đã trích dẫn một nghiên cứu của Rotton và Rosenberg (1984) kiểm tra mối quan hệ giữa các giai đoạn âm lịch và giá đóng cửa trung bình của chỉ số Dow-Jones. Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy không có liên quan khác biệt về chỉ số Dow-Jones và các pha của mặt trăng, kết quả này khác với các nghiên cứu trước của họ. Hai nghiên cứu cùng được công bố năm 2001 của Dichev và Janes (2001), Kathy Yuan, Lu Zheng và Qiaoqiao Zhu (2001), được nghiên cứu độc lập nhau nhưng cả hai nghiên cứu đều thừa nhận có mối quan hệ giữa các chu kỳ của mặt trăng với lợi suất của chỉ số chứng khoán Mỹ.
Những phát hiện của hai nghiên cứu này bổ sung khá tốt cho nhau. Trong nghiên cứu của Dichev và Janes, họ tập trung hơn vào thị trường Mỹ và sử dụng một chuỗi thời gian dài của chỉ số chứng khoán Mỹ. Còn nghiên cứu của Kathy Yuan, Lu Zheng và Qiaoqiao Zhu cung cấp thêm bằng chứng toàn cầu bằng cách bao gồm 48 quốc gia với mức độ khác nhau của thị trường các nước phát triển trong mẫu thử. Dữ liệu mà Kathy Yuan và các cộng sự (2001) được thu thập từ ngày giao dịch đầu tiên của 48 quốc gia đến tháng 7/2001.
Kết quả của điều tra này chỉ ra 10 rằng, tất cả 23 thị trường chứng khoán phát triển có tương quan âm với giai đoạn trăng tròn (ngày 15 âm lịch). Đối với 25 thị trường mới nổi còn lại thì có đến 20 nước cũng có tương quan âm với giai đoạn trăng tròn, năm quốc gia còn lại có tương quan dương bởi sự thay đổi trong hai chu kỳ trăng gần như bằng không.2 Một số mô hình kiểm tra sự ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng lên chỉ số chứng khoán trên Thế giới Mặc dù nghiên cứu ở những thị trường khác nhau nhưng để kiểm tra hiệu ứng chu kỳ mặt trăng với lợi suất chứng khoán Fatma Hammami và Ezzeddine Abaoub (2010) và Kathy Yuan, Lu Zheng và Qiaoqiao Zhu (2001) cùng sử dụng phương pháp phân tích thống kê, và phân tích hồi quy. Dữ liệu thống kê được lấy theo giá đóng cửa của các chỉ số cần kiểm tra, từ đó tính ra lợi suất theo ngày của từng chỉ số theo công thức: P t – Pt-1 Rt = Pt-1 Cả hai nghiên cứu trên đều sử dụng khung thời gian 7 ngày và 15 ngày tập trung xung quanh ngày trăng mới và những ngày trăng tròn. Riêng nghiên cứu của Fatma Hammami và Ezzeddine Abaoub thì mở rộng thêm hai khung thời gian nữa với khung thời gian 3 ngày xung quanh ngày trăng mới và trăng tròn; và tại chính hai ngày này với khung thời gian 1 ngày.
Bằng cách sử dụng phân tích hồi quy hàm có biến cosin có thể kiểm tra một cách rõ ràng tính chu kỳ của các hiệu ứng âm lịch lên lợi suất chứng khoán. Theo mô hình này, hiệu ứng âm lịch đạt đến đỉnh điểm vào thời điểm trăng tròn rồi giảm và tạo đáy tại thời điểm trăng mới, sau một đường cong cosin với một khoảng thời gian 29,53 ngày (độ dài trung bình của một chu kỳ âm lịch). Ngoài ra, mô hình phân tích hồi quy có sử dụng biến giả cũng được sử dụng để kiểm tra những ngày lân cận ngày trăng rằm so với những ngày khác trong tháng. 11 Để mở rộng mô hình Kathy Yuan và các cộng sự còn sử dụng thêm những biến giả khác nhưng: biến giả theo quốc gia, biến giả theo tháng; hay sử dụng hàm ảnh hưởng của khối lượng giao dịch trung bình theo chu kỳ mặt trăng.3 Kết quả một số nghiên cứu liên quan đến Thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua Thị trường chứng khoán Việt Nam trải 10 năm phát triển nhưng vẫn còn khá non trẻ so với sự phát triển của những thị trường chứng khoán khác trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu chuyên sâu về thị trường chứng khoán Việt Nam đã xuất hiện từ năm 2006 liên quan đến tính hiệu quả, tâm lý bầy đàn và tính mùa vụ (hiệu ứng ngày trong tuần) của thị trường cũng đã được công bố. Trong bài luận văn này tác giả sẽ tóm tắt một số kết quả nghiên cứu của một số công trình liên quan đến những chủ đề này trong thời gian qua.1 Tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam ở dạng yếu Việc nhận dạng được thị trường hiệu quả ở cấp độ nào có ý nghĩa thực tiễn lớn. Khi biết được dạng cụ thể của thị trường, các thành phần tham gia thị trường sẽ có thể điều chỉnh các hoạt động của mình để thị trường trở nên hiệu quả hơn. Đối với các nước phát triển, TTCK thường được đánh giá bằng thực nghiệm với các kết quả là TTCK của các nước này hầu như đạt hiệu quả dạng yếu, một số nước đạt đến hiệu quả trung bình, còn hiệu quả ở dạng mạnh chỉ tồn tại trên lý thuyết mà thôi.
Tại Việt Nam một số nghiên cứu về tính hiệu quả của thị trường chứng khoán nước ta cho thấy mức độ hiệu quả ở dạng yếu.