MỞ ĐẦU 1. Lý đo chọn đề tài Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng âm, mưa nhiều. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các loại cây an quả nhiệt đới phát trién. Cây ăn quả không chỉ mang lại giá trị đỉnh dưỡng mà còn mang lại giá trị kinh tế cao cho dat nước.
Ngoài ra, cây ăn quả còn có tác dụng lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái như làm sạch không khí, giảm tiếng ồn, nơi trú ngụ các loài động vat,. Cam xoàn (Citrus sinensis L.) là một cây thuộc họ Rutaceae được trồng nhiều ở các tính miền Tây Nam Bộ như An Giang. Tiền Giang, Hậu Giang. Trong đó, Đồng Tháp là nơi trồng Cam xoàn thơm ngon và nôi tiếng nhất [2].
Đây là một loại quả có mùi vị ngọt thanh, có hương thơm đặc trưng, dong thời là một bài thuốc quý trong đông y. có tác dụng điêu trị các bệnh dân gian như cảm lạnh, viêm phế quản, hen suyễn, táo bón, viêm khớp,. Bên cạnh đó, vỏ quả, hoa và lá Cam dùng đề cất tỉnh dầu và tách các hợp chất flavonoid có hoạt tính sinh học cao như chống oxi hóa, kháng viêm. kháng khuẩn, ức chế các tế bào ung thư và ngăn ngừa các bệnh về tim mạch [4], [5].
Do đó, Cam xoàn ngày càng được ưa chuộng trên thị trường Việt Nam [7]. Tuy nhiên, hiện nay tình hình biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan xảy ra với mật độ thường xuyên, hạn hán và xâm nhập mặn không còn diễn ra theo chu kỳ đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất cây ăn trái tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó, sản lượng Cam xoàn cũng bị ảnh hượng nặng né [8]. Từ thang 2 — 5/2023, tình hình xâm nhập mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long diễn biên phức tap, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của người dân [9]. Do đất nhiễm mặn bị giảm hàm lượng gibberellin và cytokinin cần thiết cho sự phát triển của cây, đồng thời, stress mặn còn làm cho hàm lượng acid abscisic trong cây do muối tăng đột ngột [10], [11].
Ngoài ra, stress mặn ngăn cản sự tăng trưởng, quang hợp: tác động lên sự thầm thấu và gây hai do độc tính của ion [14], [15]. Stress mặn còn gây ảnh hưởng đến các hoạt động sinh lý của cây như trao đôi nước, ảnh hưởng sự sinh trưởng của các cơ quan trên mặt đất; ức chế quá trình hút khoáng ở rễ làm cây thiếu năng lượng: ức chế vận chuyên và phân bố các chất đồng hoá trong cây: kìm hãm quá trình sinh trưởng của cay [16]. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp dé giúp cây chong chịu với stress, trong đó phương pháp ding chất điều hòa tăng trưởng thực vật đang được quan tâm. Chất điều hoà tăng trưởng thực vật gồm các hormone thực vật và các hợp chất hữu cơ nhân tạo có bản chất hoá học khác nhau nhưng đều có khả năng điều hoà quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật [17].
Trong đó, auxin là chất điều hoà tăng trưởng thực vật với vai trò kích thích cho sự sinh trưởng và phát triển của cây, kích thích sự phân chia và kéo đài tế bào [18]. Đồng thời, auxin còn kiêm soát quá trình sinh tông hop, vận chuyền. truyền tín hiệu, giúp cây chồng lại các điều kiện bất lợi do môi trường tạo ra [19]. Trong điều kiện stress mặn, chức năng của auxin giống với chức năng của acid abscisic làm giảm tăng trưởng của thực vật giúp cây có kha năng chống chịu stress [16].
Từ những luận giải trên. đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của ALA lên sự sinh trưởng của giống Cam xoàn (Citrus sinensis L.) nuôi cây in vitro trong điều kiện stress man” được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của stress mặn và tác động của auxin lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa. hình thái của cây Cam xoàn trong điều kiện stress mặn nuôi cây in vitro, Từ đó, làm cơ sở khoa học cho định hướng ap dụng trong quy trình trồng trọt Cam xoàn ở những vùng đất bị nhiễm mặn. Mục tiêu nghiên cứu Xác định ảnh hưởng của chat điều hòa sinh trưởng thực vật AIA đến sự sinh trưởng của cây Cam xoan (Citrus sinensis L.) in vitro moc từ hạt khi bị stress mặn.
Đối tượng nghiên cứu Cây Cam xoan (Citrus sinensis L.) in vitro được nay mầm từ hạt trong điều kiện stress man. Nhiệm vụ nghiên cứu Dé đạt được những mục tiêu trên, nghiên cứu này sẽ thực hiện các nội dung sau đây: - Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của NaCIO và HgCl, ở các nồng độ khác nhau đến khả năng khử trùng của hạt giếng Cam xoàn (Citrus sinensis L. - Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng cua stress mặn lên sự sinh trưởng của cây Cam xoan (Citrus sinensis L.) in vitro qua các chỉ tiêu hình thai, sinh lý, sinh hóa, giải phẫu. Xác định nồng độ muối ảnh hưởng lên sự sinh trưởng của cây Cam xoàn (Citrus sinensis L.) in vitro nhiều nhất.
- Nội dung 3: Khao sát ảnh hưởng của AIA lên sự sinh trưởng của cây Cam xoàn (Citrus sinensis L.) in vitro trong điều kiện stress mặn qua các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hóa, giải phẫu. Phạm vi nghiên cứu Trong giới hạn của dé tài, chi nghiên cứu sự ảnh hưởng AIA ở các nông độ khác nhau lên sự sinh trưởng của giống Cam xoàn (Citrus sinensis L.) trong điều kiện stress mặn nuôi cấy in vitro. Sơ lược về giống Cam xoan (Citrus sinensis L. Vị trí phân loại Phân loại khoa học - Giới ; Plantae - Ngành : Magnoliophyta - Lớp ; Magnoliopsida - Phan lớp : Rosidae - Bộ : Rutales - Họ : Rutaceae - Chi : Citrus [20] - Loai : Citrus sinensis (L.
Xoan [74] ~ Tên khác : Cam xoàn, Cam hai đồng xu 1. Nguén gốc và sự phân bỗ Cam, quýt trong trọt hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á. mién nam Trung Quốc, Nhật Bản. Chi Cam quýt (Citrus) có khoảng hơn 20 loài và được phân bố tự nhiên ở An Độ.
miễn Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và Myanmar, trong đó, khu vực Án Độ và Malaysia là trung tâm phong phú và đa dạng nhất [22]. Theo Sahoo (2001), Cam (Citrus sinensis L.) có nguồn gốc từ Trung Quốc và An Độ. hiện được trồng rộng rãi ở các vùng cận nhiệt đới [23]. Ở Việt Nam, chỉ Cam quýt có khoảng 20 loài và rất nhiều giống được trồng hầu hết ở các vùng trên cả nước [24].
Cam xoàn cùng ho với Cam mật, đều thuộc nhóm Cam ngọt (Citrus sinensis) [25]. Cam xoàn là loại cam có nguồn gốc xuất xứ từ một số tinh miền Tây Nam Bộ như An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang. Bến Tre và Vĩnh Long. Trong đó, huyện Trà Ôn (tinh Vĩnh Long) và huyện Long Mỹ (tinh Hậu Giang) là hai trong những địa phương trồng nhiều giống cam này [26].
Đặc điểm sinh học Cây Cam quýt thuộc đạng thân gỗ, đạng bụi hay bán bụi (không có trục thân chính rõ rệt) [27]. Một cây trưởng thành có thê có 4 — 6 cành chính. Nếu không chú ý tạo tán ngay từ đầu thì Cam quýt sẽ rất ít khi có thân chính. Các cành chính thường mọc ra ở các vị trí trong khoảng | m cách mặt đất.
Canh có thé có gai. nhất là khi trồng bằng hạt. Tuy nhiên sau khi ra hoa trái, các gai thường ít phát triển. Ở một vài loài, gai chi moc ra từ những cành sinh trưởng mạnh.
Cành Cam quýt phát triên theo lối hợp trục, khi cành mọc dài đến một khoảng nhất định thì ngừng lại, các mam bên dưới đỉnh sinh trưởng của ngọn cành sẽ mọc ra, các cành thứ cấp này cũng mọc dai đến một khoảng nhất định thì ngừng và các mam bên dưới đỉnh sinh trưởng lại tiếp tục phát triển giống như cũ. Sự phát triển của cành tùy thuộc nhiều vào số trái trong năm. Trong điều kiện tự nhiên, nếu năm nay cây sai trái thì năm sau số trái ra ít đi vì số lượng cành mọc ra không nhiều [27]. Các giống Cam quýt khi trồng bằng hạt thường có một rễ cái và nhiều rễ nhánh.
Từ rễ nhánh mọc ra các rễ lông yếu ớt. Sự phát trién của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất [27]. RE của Cam quýt phân bố ở tầng sâu 10 — 30 cm. Rễ hút tập trung ở tầng sâu 10 - 25 em.
Rễ hoạt động mạnh ở thời kỳ 1 — 8 năm tudi sau trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém. Ở nước ta từ tháng 2 đến tháng 9 dương lich, rễ Cam quýt sinh trưởng và hap thu dinh dưỡng mạnh mẽ nhất [21]. Rễ mọc ra từ hạt thường khỏe, mọc sâu, nêu đất thoát nước tốt và tơi xốp. rễ có thé mọc sâu trên 4 m.
ở đồng bằng sông Cửu Long, trên những vùng đất thấp việc trồng Cam quýt bằng hạt hay gốc ghép thường bị ảnh hưởng bởi mực thủy cấp. Nếu không lên líp trồng cao và thiết kế bờ bao vườn dé điều tiết nước thì cây có thé bị suy yếu dan và chết do thối rễ. Trái lại rễ mọc ra từ cây chiết hay cành giâm thường ăn cạn hơn, ít bị ảnh hưởng bởi mực thuỷ cấp [27]. Lá Cam quýt thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá, không có lông.
nhọn ở đầu, lá dày xanh đậm. cuống có cánh và có đốt ở đáy phiến lá [27]. Ở 14, khí không tập trung nhiều nhất ở mặt dưới, số lượng thay đôi tùy giống, trung bình 400 — 500 khí không/mm”, kích thước khí không rất nhỏ, thường mở ra lúc 10 giờ sáng đến 4 giờ chiêu [21]. Lá có chứa các túi tỉnh dầu, hiện diện ở 5 lớp mô giậu.
Ngoại trừ loài Cam 3 lá (Poncirus trifoliata) rụng lá theo mùa, các loài còn lại có lá sống từ 1 năm hay lâu hơn tùy điều kiện khí hậu và chăm sóc [27]. Hoa Cam quýt thường có 5 cánh, màu trắng luân phiên với các lá đài, cánh hoa day, gắn xen ké với nhau. Trong điều kiện tự nhiên, hoa thường mọc ra trong mùa xuân, tuy nhiên sau một đợt hạn kéo đài rồi gặp mưa hay nước tưới thì cây cũng ra hoa rộ như thường thấy ở đầu mùa mưa hay trong kỹ thuật siết nước kích thích ra hoa. Hoa Cam quýt có dạng hình thuân tròn, đỉnh hơi to hơn phía dưới, đường kính rộng từ 2,5 - 4 cm, rất thơm, thường là hoa lưỡng tính [27].
Hoa mọc thành chùm hoặc đơn độc (Poncirus trifoliata) [21]. Đài hoa dai không rụng, hình chén. Bao phan có 4 ngăn màu vàng. mọc bằng hay hơi nhô cao hơn đầu nướm nhụy.
Dầu nướm nhụy cái to.