Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU CÂY BÁCH BỆNH 1. Đặc điểm sinh học cây bách bệnh Tên khoa học: cho đến nay bách bệnh có 4 loài khác nhau đã được báo cáo là E. longifolia, Entomophthora apiculata, Polyathia bullata và Goniothalamus sp.
thuộc họ Simaroubaceae [32]. longifolia là loài phổ biến nhất, được sử dụng thường xuyên cho các phương thuốc truyền thống. Longifolia được gọi bởi nhiều tên khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia như: tongkat ali ở Malaysia và Singapore, pasak bumi ở Indonesia, tung saw ở Thái Lan. Ở Việt Nam cây này có nhiều tên gọi khác nhau như bách bệnh, bá bệnh, mật nhân.
Hệ thống phân loại: cây bách bệnh thuộc - Giới (kingdom): Thực vật (Plantae) - Ngành (Division): Thực vật có hoa (Magnoliophyta) - Lớp (Class): Thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida) - Bộ (Order): Bồ hồn (Sapindales) - Họ (Family): Thanh thất (Simaroubaceae) - Chi (Genus): Eurycoma - Loài (Species): longifolia [18] Bách bệnh là cây thảo mộc, thường xanh, sinh trưởng chậm, là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, chiều cao tối đa 15-18 m và ra quả sau 2-3 năm nuôi trồng. Tuy nhiên, để cây tích lũy các hợp chất sinh học tốt nhất có thể mất đến 25 năm, nhưng vì mục đích thương mại, hầu như rễ của cây được thu hoạch sau 4-5 năm. Quả có màu xanh, dài 2-3 cm, chuyển sang màu đỏ thẩm khi chín. Lá xẻ lông chim, mọc xoắn, dài từ 25-40 cm với 10-30 lá chét.
Hoa tạo thành 6 cụm lớn, thuộc dạng đơn tính khác gốc [32]. Ở Việt Nam, bách bệnh phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi thấp (dưới 1000 m) và trung du. Các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung gặp nhiều hơn các tỉnh phía Bắc [2]. Nguyễn Thành Mến và cs (2014) khi nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái của cây bách bệnh ở Lâm Đồng cho thấy với đặc điểm biên độ sinh thái rộng, cây bách bệnh có phổ phân bố theo độ cao biến thiên từ điểm thấp nhất khoảng 200 m cho đến độ cao 1.129 m, phân bố tập trung trong khoảng độ cao từ 500 m đến 900 m.
Bách bệnh thường xuất hiện nhiều ở dạng địa hình sườn dốc với tỷ lệ 63,0%, ở các đỉnh đồi là 33,3% và nơi chân dốc chỉ 3,7%. Trong tự nhiên, loài bách bệnh thường phân bố theo từng dải và đôi khi mọc thành cụm khoảng 3-8 cây ở ven các rừng lá rộng. Tuy nhiên, hình thức phân bố phân tán ngẫu nhiên là phổ biến [7]. Bách bệnh là loài cây ưa sáng và chịu được khô hạn, các quần thể bách bệnh ít khi mọc theo đám mà thường xuất hiện phân tán ở sườn đồi, ven rừng, khu đất trống hoặc nương rẫy.
Đặc biệt, thường gặp cây tái sinh trên các nương rẫy mới và dưới tán rừng thông 3 lá. Về phẩm chất, loài bách bệnh thường sinh trưởng tốt, ít bị sâu bệnh, tỷ lệ cây phẩm chất tốt chiếm đến 92,2% tổng số cây điều tra [7]. Nhìn chung, rễ của cây được thu hoạch thủ công và cần nhiều thời gian, để nhổ một cây có đường kính khoảng 70-100 mm có thể cần đến 8-10 h. Cây sinh trưởng nhanh trên nền cát, đất thoát nước tốt, che bóng một phần và được tưới nước đầy đủ.
Cây bách bệnh là loài được thông báo cần được bảo vệ ở hầu hết các vùng mà nó sinh trưởng và việc thu hoạch chúng đã bị nghiêm cấm [32]. Hầu như tất cả các bộ phận của cây được sử dụng trong các phương thuốc dân gian. Dịch chiết của rễ được sử dụng để phục hồi năng lượng và sinh lực, tăng cường lưu thông máu, và được bổ sung vào thành phần thảo 7 dược cho phụ nữ sau khi sinh. Lá của nó được sử dụng bởi các thầy thuốc địa phương để điều trị sốt rét, khối u, bệnh về nướu răng, ngoài ra chúng còn được chữa một số bệnh lây qua đường sinh dục như giang mai, lậu [63].
Thành phần hóa học chủ yếu của cây bách bệnh Rất nhiều hợp chất hóa học đã được phân lập và phân tích đặc tính từ cây bách bệnh, đặc biệt là từ rễ. Thành phần hoạt chất chính của cây bách bệnh là quassinoid. Quassinoid là một nhóm triterpenoid giảm cấp giàu oxy, có vị đắng, phân bổ chủ yếu trong họ Simaroubaceae. Công thức hóa học của một số hợp chất chính trong cây bách bệnh được trình bày ở hình 1.
Năm 1982, Darise và cs phát hiện trong thành phần của rễ bách bệnh có chứa eurycomanone, eurycomanol, eurycomanone-2-O-β-glycopyranoside và 9-hydroxycanthin-6-one. Năm 1983, các tác giả đã phát hiện được β- sitosterol; 9-hydroxycanthin-6-one-N-oxide trong lá cây này [41]. Từ năm 1990-1993, Morita và cs tìm thấy các hợp chất eurycomanol, klaineanone; 11-ketone trong thành phần hóa học của cây bách bệnh. Đã phân lập được 2 đồng phân mới là 2,2’-dimethoxy-4-(3-hydroxy-1-propenyl)-4’- (1,2,3-trihydroxypropyl) diphenyl ether, và 2 biphenyl mới 2-hydroxy-3,2’,6’- trimethoxy-4’-(2,3-epoxy-1-hydroxypropyl)-5-(3-hydroxy-1- openyl)-biphenyl và 2-hydroxy-3,2’-dimethoxy-4’-(2,3-epoxy-1-hydroxypropyl)-5-(3-hydroxy- 1-propenyl)-biphenyl từ thân của cây này.
Sau đó, hai hợp chất mới có khung quassinoid (C19): 6-dehydroxylongilactone; 7α- hydroxyeurycomalactone và 7 hợp chất: 13α(21)-epoxyeurycomanone; 15-Acetyl-13α(21)- epoxyeurycomanone; 12,15-diacetyl-13α(21)-epoxyeurycomanone; 12-acetyl- 13,12-dihydroeurcomanone; 15 β-acetyl-14-hydroxyklaineanone; 6α-acetoxy- 14,15β-dihydroxyklaineanone; 6α-acetoxy-14,15β- dihydroxyklaineanone cũng được phân lập [96]. Cấu trúc hóa học của một số hợp chất có hoạt tính sinh học trong cây bách bệnh (Abubakar và cs, 2017) [18]. 9 Năm 2001, Jiwajinda và cs đã phân lập được longilactone; 6- dehydroxylongilactone; 11-dehydroxyklaineanone; 15β- dihydroxyklaineanone; 14,15β- dihydroxyklaineanone; 15β-O-acetyl-14- dihydroxyklaineanone khi nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính của cây bách bệnh [65]. Năm 2004, Kuo và cs đã phân lập gần 65 hợp chất từ rễ của cây bách bệnh, phân tích đặc tính của chúng bằng NMR (Nuclear Magnetic Resonance – Cộng hưởng từ hạt nhân) và phương pháp khối phổ.
Trong số đó, lần đầu tiên họ xác định được 4 hợp chất quassinoid diterpenoid có nguồn gốc tự nhiên, đó là: eurycomalide A; eurycomalide B; 13β, 21- dihydroxyeurycomanol và 5α, 14β, 15β-trihydroxyklaineanone [70]. Shafiqul và cs (2006) đã phân tích dịch chiết của cây bách bệnh bằng phương pháp GC-MS (Gas chromatography-mass spectrometry - sắc ký khí ghép khối phổ) và phân tích sự tương quan với 12 hợp chất đã được xác định bằng phương pháp QCM sensor (Quartz crystal microblance sensor - cảm biến vi cân tinh thể thạch anh). Hợp chất chính bay hơi được xác định gồm: curcumene, massoilactone, 3-phenoxy-1-propanol, octanoic acid, benzoic, acetic acid, menthol, 2-phenoxyethanol, 4-ethynyl-4-hydroxy-3,5,5-trimethyl- 2-cyclohex-1-enone. Từ kết quả đó, sự tương quan được thiết lập giữa khoảng cách mùi vị với cảm biến bằng tinh thể thạch anh để phân loại dịch chiết thực vật nhằm nghiên cứu độ nhạy của công nghệ.
Tác giả đã nhấn mạnh khả năng của chiếc mũi điện tử để phát hiện sự thay đổi nhỏ trong mùi hương không chỉ ở cây bách bệnh mà còn có thể phát triển thành phương pháp xác định nhanh mùi hương của các cây thảo mộc khác [123]. Năm 2009, Phan Văn Kiệm và cs đã sử dụng các phương pháp sắc ký khác nhau đã phân lập được 10 hợp chất từ lá của cây bách bệnh, bao gồm: 9- methoxycanthin-6-one; 9-hydroxycanthin-6-one; 11-dehydroklaineanone; 10 longilactone; 4(18)-isomer, 2-alcohol-longilactone; eurycomalactone; eurycomanone; 13β,18-dihydroeurycomanone; eurylene; kaempferol 3-O-α- L-rhamnopyranoside [2]. Một β-carboline alkaloid mới là 7-methoxy- (9H-β-carbolin-1-il)-(E)-1- propenoic acid (1) kết hợp cùng với 9-methoxycanthin-6-one (2) và 9- hydroxycanthin- 6-một (3) đã được tách chiết từ các mẫu cấy rễ tơ của cây bách bệnh. Ảnh hưởng của các hợp chất này đối với việc sản xuất nitric oxyde (NO) cảm ứng với lipopolysaccharide (LPS) tạo ra trong các tế bào RAW264.7 đã được nghiên cứu.
Hợp chất số 1 ức chế mạnh quá trình tạo NO trong khi hợp chất 2 và 3 lần lượt có tác dụng yếu và không có tác dụng. Kết quả cho thấy, hợp chất 1 làm giảm sự biểu hiện của xyclooxygenase-2 và cảm ứng tổng hợp oxide nitric [105]. Thành phần hóa học chính của cây bách bệnh được tổng hợp lại như sau [116]: Quassinoid: bao gồm các dạng của eurycomanone (pasakbumin-A), eurycomanols, pasakbumin-B, hydroxyklaineanones, eurycomalactones, eurycomadilactones, eurylactones, laurycolactones, longilactones, và hydroxyglaucarubol được phân lập từ rễ. Các chất có nguồn gốc từ squalene bao gồm teurilene, eurylene; 14- deacetyleurylene; và longilene peroxide.
Nhóm biphenyl neolignans: 2-hydroxy-3,2,6-trimethoxy-4-(2,3-epoxy-1- hydroxypropyl)-5-(3-hydroxy-1-propenyl)-biphenyl; two isomeric 2,2- dimethoxy-4-(3-hydroxy-1-propenyl)-4-(1,2,3-trihydroxypropyl) diphenyl ethers; and 2-hydroxy-3,2-dimethoxy-4-(2,3-epoxy-1-hydroxypropyl)-5-(3- hydroxy-1-propenyl)biphenyl. Alkaloids bao gồm 5,9-dimethoxycanthin-6-one; 9,10- 11 dimethoxycanthin-6-one, 11-hydroxy-10-methoxycanthin-6-one; 10-hydroxy- 9-methoxycanthin-6-one; và 9-methoxy-3-methylcanthin-5,6-dione. Đặc tính dược lý của cây bách bệnh Mặc dù một số phương thuốc dân gian sử dụng cây bách bệnh đã được ghi nhận, nhưng giá trị khoa học và dẫn chứng y học vẫn là điều kiện tiên quyết cho mục đích khai thác thương mại. Hoạt tính chống sốt rét Sốt rét là một trong những căn bệnh gây tử vong cao nhất trên thế giới.
Theo ước tính mỗi năm trên thế giới có gần 2-3 triệu người chết vì căn bệnh này, nguyên nhân là do ký sinh trùng thuộc nhóm Plasmodium, nhưng đến nay nó vẫn chưa được tiêu diệt do sự kháng thuốc của các loài Plasmodium sp. (chủ yếu là P. falciparum), đây là bệnh phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Đông Nam Á và vùng Châu Phi hạ Sahara. Việc chữa trị hiện nay đối với bệnh này là sử dụng các loại thuốc như: chloroquine, artmisinin và clindamycin.
Vì vậy rất cần thiết để nghiên cứu và phát triển một loại thuốc chống sốt rét mới hiệu quả hơn, rẻ hơn, dễ sử dụng, an toàn hơn, không bị kháng bởi ký sinh trùng. Để góp phần giải quyết vấn đề này, một vài nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học về dịch chiết cây bách bệnh có khả năng chống được bệnh sốt rét [92]. Thực vật được sử dụng trong cộng đồng để điều trị bệnh sốt rét, trong đó cây bách bệnh được sử dụng phổ biến như là một phương thuốc hiệu quả. Các loại thuốc điều trị bệnh sốt rét hiện nay như chloroquine, artmisinin có nguồn gốc từ thực vật.
Al-Adhroey và cs (2010) đã khảo sát các loài thực vật được sử dụng truyền thống ở vùng Peninsular, Malaysia để chữa bệnh sốt rét. Họ đã phỏng vấn 233 người bản xứ, các hộ gia đình ở nông thôn và các thầy lang về tên của vài loài thực vật được sử dụng để điều trị bệnh này. Kết quả 12 cây bách bệnh là loài thực vật được đề cập nhiều nhất. Điều đó có thể nói rằng, cây bách bệnh có tiềm năng phát triển thành nguồn nguyên liệu cho loại thuốc mới để chống lại căn bệnh nguy hiểm này [24].
Mohd Ridzuan và cs (2007) nghiên cứu đặc tính chống bệnh sốt rét của dịch chiết rễ cây bách bệnh đã chuẩn hóa dòng TA164 kết hợp với artemisinin in vivo cho thấy rằng sự xử lý kết hợp này đã khử được Plasmodium yoelii lây nhiễm trên chuột. Các tác giả đã so sánh hoạt tính kháng sốt rét của dịch chiết chuẩn gồm 3 loại quassinoid chính là: eurycomanone; 13, 21- dihydroeurycomanone và 13α (21) epoxyeurycomanone với dịch chiết chuẩn kết hợp với artemisinin và nhận thấy rằng sự kết hợp giữa dịch chiết và thuốc đã làm tăng hoạt tính chống sốt rét [95]. Nguyen-Pouplin và cs (2007) đã thử hoạt tính chống sốt rét của dịch chiết cây bách bệnh được sử dụng trong các phương thuốc dân gian ở Việt Nam.