Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng của bạo hành gia đình đến sinh non và trẻ nhẹ cân tại TP.HCM

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên hệ giữa bạo hành gia đình và tình trạng sinh non, sinh con nhẹ cân tại TP.HCM, cung cấp dữ liệu quan trọng cho can thiệp y tế.

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2019

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ BẠO HÀNH GIA ĐÌNH

1.2. CÁC HÌNH THỨC BẠO HÀNH GIA ĐÌNH

1.2.1. Một số định nghĩa

1.2.2. Các hình thức của BHGĐ

1.2.2.1. Bạo hành thể chất
1.2.2.2. Bạo hành tình dục
1.2.2.3. Dọa bạo hành thể chất hoặc tình dục
1.2.2.4. Bạo hành tinh thần

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp chọn mẫu

2.4. Cách tiến hành và thu thập số liệu

2.5. Công cụ thu thập số liệu

2.6. Định nghĩa các biến số

2.7. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.8. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Các tỷ lệ về bạo hành gia đình

3.3. Tỷ lệ sinh non/sinh nhẹ cân

3.4. Các yếu tố liên quan với sinh non hoặc nhẹ cân

3.5. Phân tích hồi quy đa biến

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.2. Các tỷ lệ và hình thức bạo hành gia đình

4.3. Tỷ lệ sinh non/sinh nhẹ cân

4.4. Mối liên quan giữa yếu tố dịch tễ - xã hội với sinh non hoặc nhẹ cân

4.5. Mối liên quan giữa bạo hành gia đình với sinh non hoặc nhẹ cân

4.6. Điểm mạnh và hạn chế của đề tài

4.7. Giá trị ứng dụng của đề tài

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng thu thập thông tin sản khoa và đặc điểm kinh tế – văn hóa – xã hội

Phụ lục 2: Bảng thu thập thông tin về bạo hành gia đình

Phụ lục 3: Bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 4: Phiếu xét nghiệm tế bào cổ tử cung

Phụ lục 5: Bảng câu hỏi gốc của Tổ chức Y tế Thế giới

Phụ lục 6: Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học

Phụ lục 7: Số liệu dân số và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại Tp.HCM năm 2013

Phụ lục 8: Bản đồ địa điểm lấy mẫu ngẫu nhiên tại Tp.HCM

Phụ lục 9: Chọn cụm nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống

Phụ lục 10: Một số hình ảnh trong quá trình nghiên cứu

Phụ lục 11: Tờ bướm về Bạo hành gia đình

Phụ lục 12: Danh sách các đối tượng tham gia nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về bạo hành gia đình và ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Bạo hành gia đình là vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ mang thai. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bạo hành gia đình bao gồm các hành vi cưỡng bức về thể chất, tinh thần và tình dục. Nghiên cứu tại TP.HCM cho thấy tỷ lệ phụ nữ bị bạo hành trong thai kỳ dao động từ 4-29%. Bạo hành gia đình không chỉ gây tổn hại đến sức khỏe tâm thần và sinh sản của người mẹ mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của trẻ sơ sinh, đặc biệt là nguy cơ sinh nontrẻ nhẹ cân.

1.1. Định nghĩa và các hình thức bạo hành gia đình

Bạo hành gia đình được định nghĩa là các hành vi cưỡng bức về thể chất, tinh thần và tình dục. Các hình thức bao gồm bạo hành thể chất, bạo hành tình dục, bạo hành tinh thầndọa bạo hành. Theo nghiên cứu, bạo hành thể chấttình dục là những hình thức phổ biến nhất, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của phụ nữ và trẻ sơ sinh.

1.2. Ảnh hưởng của bạo hành gia đình đến sức khỏe bà mẹ

Bạo hành gia đình trong thai kỳ làm tăng nguy cơ sinh nontrẻ nhẹ cân. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, bạo hành thể chất có thể gây ra các biến chứng như nhau bong non, ối vỡ non và nhiễm trùng đường sinh dục. Ngoài ra, bạo hành tinh thần cũng gây ra căng thẳng kéo dài, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.

II. Nghiên cứu thực trạng bạo hành gia đình tại TP

Nghiên cứu được thực hiện tại TP.HCM nhằm xác định tỷ lệ bạo hành gia đình và mối liên quan giữa bạo hành gia đình với sinh nontrẻ nhẹ cân. Kết quả cho thấy, tỷ lệ bạo hành gia đình ở phụ nữ mang thai tại TP.HCM là 5%, trong đó bạo hành thể chất chiếm tỷ lệ cao nhất. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bạo hành gia đình làm tăng nguy cơ sinh non gấp 1,91 lần và trẻ nhẹ cân gấp 2,11 lần.

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, với đối tượng là phụ nữ mang thai tại TP.HCM. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi và phân tích bằng phương pháp hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa bạo hành gia đình và các biến chứng thai kỳ.

2.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sinh nontrẻ nhẹ cân ở nhóm phụ nữ bị bạo hành gia đình cao hơn đáng kể so với nhóm không bị bạo hành. Các yếu tố như bạo hành thể chất, bạo hành tình dụcbạo hành tinh thần đều có ảnh hưởng đến kết quả thai kỳ.

III. Giá trị ứng dụng và khuyến nghị

Nghiên cứu này có giá trị ứng dụng cao trong việc nâng cao nhận thức về bạo hành gia đình và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chương trình can thiệp y tếgiáo dục sức khỏe nhằm giảm thiểu tỷ lệ bạo hành gia đình và cải thiện sức khỏe thai kỳ tại TP.HCM.

3.1. Khuyến nghị cho ngành y tế

Cần tăng cường các chương trình phòng chống bạo lựcchăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai. Nhân viên y tế cần được đào tạo để phát hiện và hỗ trợ các nạn nhân của bạo hành gia đình, đồng thời cung cấp các dịch vụ tư vấn và điều trị kịp thời.

3.2. Khuyến nghị cho cộng đồng

Cần nâng cao nhận thức cộng đồng về bạo hành gia đình và hậu quả của nó. Các chiến dịch truyền thông nên tập trung vào việc giáo dục về quyền của phụ nữ và trẻ em, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc phòng chống bạo lực gia đình.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ điều tra thực trạng về ảnh hưởng giữa bạo hành gia đình và sinh non hoặc sinh con nhẹ cân tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bạo hành gia đình (BHGĐ) nói chung và BHGĐ đối với phụ nữ nói riêng là vấn đề đã tồn tại từ lâu trong lịch sử. Năm 1997, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã đưa ra định nghĩa BHGĐ là:“Những hành động cưỡng bức về thể chất, tinh thần và tình dục của bạn tình nam hiện tại hoặc trước đây đối với phụ nữ trong độ tuổi vị thành niên và trưởng thành”[184]. Đa số nạn nhân của các vụ bạo hành là phụ nữ. BHGĐ hiện đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng đang được quan tâm.

Trên thế giới, cứ 3 người phụ nữ thì có 1 trường hợp bị đánh, bị xâm phạm tình dục hoặc bị bạo hành về tinh thần trong cuộc đời. Phần lớn thủ phạm là thành viên trong gia đình của người phụ nữ đó[88]. Mang thai là thời điểm dễ bị tổn thương nhất đối với những nạn nhân bị BHGĐ do thay đổi nhu cầu về thể chất, xã hội, tình cảm và kinh tế; nhiều nghiên cứu (NC) cho thấy tỷ lệ phụ nữ bị bạo hành bởi chồng/bạn tình trong thời kỳ mang thai dao động từ 4 – 29%[38]. Nghiên cứu quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010 cho thấy 58% phụ nữ đã từng bị bạo hành ít nhất một lần trong đời (bao gồm cả bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục); 32% phụ nữ đã từng kết hôn cho biết đã trải nghiệm BHTC trong suốt đời và 6% đã từng bị BHTC trong 12 tháng qua.

Tỷ lệ BHTC trong thai kỳ ở Việt Nam đã được báo cáo là 5%[91]. BHGĐ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và tâm thần của người phụ nữ mà còn gây tác động xấu đến sức khoẻ và sự phát triển sau này của trẻ[27]. Kết quả từ một phân tích gộp của Donovan và cs. cũng chỉ ra rằng BHGĐ làm tăng nguy cơ sinh non gấp 1,91 lần (KTC 95% : 1,60 – 2,29) và nguy cơ sinh con nhẹ cân cao gấp 2,11 lần (KTC 95% : 1,68 – 2,65)[60].

BHGĐ ảnh hưởng đến nguy cơ sinh non bởi nhiều cách khác nhau. BHTC tác động trực tiếp vào vùng bụng hoặc BHTD gây ra biến chứng như nhau bong non, kích thích cơn gò tử cung, ối vỡ non hoặc nhiễm trùng đường sinh dục[84]. BHGĐ còn có thể đưa đến những hành vi nguy cơ cho thai phụ làm ảnh hưởng xấu đến thai, ví dụ: hút thuốc, sử dụng ma túy, chăm sóc trước sinh không đầy đủ[48],[84],[152]. Tại Việt Nam, 63.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm và 50% số ca tử vong này xảy ra ở trẻ sơ sinh.

Một trong 2 những nguyên nhân chính của tử vong trẻ sơ sinh là do biến chứng của sinh non và nhẹ cân, chiếm gần 50% tổng số ca tử vong sơ sinh[123]. Trẻ sơ sinh non tháng hay nhẹ cân có nhiều nguy cơ bệnh tật như suy hô hấp, bệnh màng trong, viêm phổi, di chứng thần kinh, chỉ số IQ thấp, chậm phát triển về cân nặng và chiều cao. Đây là gánh nặng cho gia đình, xã hội về tinh thần và tài chính để điều trị bệnh cũng như các di chứng của trẻ. Do đó sinh non hay nhẹ cân được ngành y tế đặc biệt quan tâm vì nó là một trong những nguyên nhân gây tử vong chu sinh ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.

Tỷ lệ sinh non hay nhẹ cân tại Mỹ từ 5% đến 12%, tại Đông Nam Á khoảng 13,5% và Việt Nam tỷ lệ này 9,4%[28]. Mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu trên nhiều đối tượng, nhiều cộng đồng khác nhau về BHGĐ nhưng ở Việt Nam, các báo cáo về vấn nạn này chỉ mới dừng lại ở những số thống kê chung hoặc vài nghiên cứu nhỏ lẻ. Trong “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản” do Bộ Y tế ban hành vào 29/07/2016 đã dành 6 trang nói về BHGĐ đối với phụ nữ và đề cập đến vai trò của nhân viên y tế trong việc tuyên truyền, phát hiện, tư vấn, điều trị các nạn nhân BHGĐ cũng như cung cấp thông tin cho các cơ quan truyền thông đại chúng[2]. Điều này cho thấy vấn nạn BHGĐ cũng đang được sự quan tâm của ngành y tế nhất là trong lĩnh vực Sản phụ khoa.

Hiện nay đây là vấn đề phổ biến mang tính thời sự không chỉ riêng của ngành y tế mà của toàn xã hội. Do đó, những nghiên cứu về vấn đề này của ngành Sản phụ khoa là những nghiên cứu hết sức cần thiết và đầy tính nhân văn. TPHCM là trung tâm tài chính kinh tế của cả nước, nơi có đời sống kinh tế và dân trí cao, tuy nhiên vấn nạn BHGĐ cũng còn khá phổ biến và chưa được nghiên cứu đánh giá sâu rộng. Đa số trước đây, các NC thường đề cập đến tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến sinh non hay nhẹ cân, nhưng chưa có nhiều khảo sát về mối liên quan giữa BHGĐ với nguy cơ sinh non hay nhẹ cân.

Hy vọng với NC này, sẽ có cái nhìn rõ hơn về tình hình BHGĐ đối với phụ nữ ở TPHCM nói chung và phụ nữ sinh con non tháng hay nhẹ cân nói riêng. Vì vậy, nghiên cứu được tiến hành nhằm trả lời cho câu hỏi: “Tỷ lệ BHGĐ ở TP.HCM là bao nhiêu và có liên quan với sinh non/sinh nhẹ cân hay không?” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ bạo hành gia đình và các loại bạo hành gia đình ở phụ nữ sống tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 01/01/2015 đến 04/07/2016. Xác định mối liên quan giữa bạo hành gia đình với sinh non hoặc nhẹ cân hiện bé còn sống ở phụ nữ cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh.

4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐỊNH NGHĨA VỀ BẠO HÀNH GIA ĐÌNH Thông thường khi nói tới BHGĐ, ta liên tưởng ngay đến hình ảnh một người chồng hung dữ, mặt mũi đỏ gay, đang nắm tóc một người đàn bà, đánh, đấm, đá hoặc la hét người vợ của mình. Đó chính là vì ngay từ thời phong kiến, trong xã hội Việt Nam, phụ nữ được coi là những người chân yếu, tay mềm, có nhiệm vụ phải chăm sóc nhà cửa, nuôi con và chu toàn bổn phận của một người con, người vợ và người mẹ. Khi còn sống chung với cha mẹ, họ phải phục tùng và vâng lời cha mẹ, phải có nhiệm vụ chăm sóc gia đình mình. Khi đã trưởng thành và lập gia đình, trở thành những nàng dâu trong gia đình, họ không những phải phục tùng và hầu hạ gia đình chồng mà còn phải phục tùng chồng, không được cãi lời chồng và không được ngang hàng với chồng.

Trái lại, người chồng có trách nhiệm phải “giáo dục” người vợ của mình bao gồm cả đánh vợ. Tất cả những điều trên cho thấy rằng phong tục tập quán Việt Nam đã coi thường người phụ nữ, coi họ như là những tôi tớ trong nhà, nếu thích thì đánh đập họ, xử phạt họ. Đàn ông là người có quyền quyết định tất cả trong gia đình, người phụ nữ chỉ chấp hành những “mệnh lệnh” từ người chồng đưa ra, phải nghe lời và phục tùng chồng. Người phụ nữ phải “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

Chính vì vậy mà người phụ nữ không được nói lên tiếng nói riêng của mình, không được bình đẳng với người đàn ông và đây là những lý do dẫn đến bạo hành trong gia đình. Dưới con mắt của xã hội BHGĐ là như vậy còn về góc độ luật pháp và y học thì BHGĐ lại có những khái niệm rõ ràng, cụ thể hơn. Trong cuốn sách “Hãy biết đến những Quyền của Bạn: Bạo Hành Gia Đình (Know Your Rights: Domestic Violence)”, được ấn hành bởi Hiệp hội Luật sư Mỹ, nói rằng “BHGĐ là một chuỗi lặp đi lặp lại của nhiều hành vi điều khiển nhằm đạt 5 được và duy trì quyền lực và sự kiểm soát đối với một bạn tình, như bạo hành về thể chất, ngược đãi về tinh thần, cô lập nạn nhân, hăm dọa, áp bức và nạt nộ”. Hiệp hội Y khoa Mỹ đã xuất bản một cuốn sách hướng dẫn chẩn đoán và điều trị cho các bác sĩ, trong đó có đưa ra định nghĩa lạm dụng bạn tình (intimate partner abuse) là sự lạm dụng về thể chất, tinh thần, và/hoặc tình dục đối với một cá nhân bởi người bạn tình trước đây hoặc hiện tại của họ.

Mặc dù định nghĩa này mang tính chất bình đẳng giới nhưng phụ nữ thường là đối tượng bị tổn thương về mặt thể chất và thường gánh chịu những hậu quả về mặt tinh thần do bạn tình gây ra[148]. Snugg và cộng sự đã định nghĩa BHGĐ là :“Sự bạo hành trong quá khứ hoặc hiện tại về thể chất và/hay tình dục giữa những người bạn tình trước đây hoặc hiện tại, giữa những người thân trong gia đình, hoặc trẻ vị thành niên và cha mẹ. Mối quan hệ giữa nạn nhân và thủ phạm có thể là tình dục khác giới hoặc tình dục đồng giới”[172]. Định nghĩa theo vấn đề: BHGĐ là bạo hành giữa những người bạn tình trong độ tuổi trưởng thành.

Mặc dù định nghĩa trên nghe có vẻ đơn giản nhưng nó lại được chấp nhận về phương diện luật pháp và việc áp dụng định nghĩa này thay đổi tùy theo từng quốc gia. Tuy nhiên, định nghĩa cụ thể hơn cả là định nghĩa do TCYTTG đưa ra vào năm 1997, trong đó BHGĐ là:“Những hành động cưỡng bức về thể chất, tinh thần và tình dục của bạn tình nam hiện tại hoặc trước đây đối với phụ nữ trong độ tuổi vị thành niên và trưởng thành”[184]. Ở nước ta, theo định nghĩa của “Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản” do Bộ Y tế ban hành năm 2016, bạo hành đối với phụ nữ là bất cứ hành động bạo lực nào trên cơ sở giới gây ra, hoặc có thể gây ra tổn hại cho phụ nữ về mặt thể chất, tình dục hoặc về tâm lý hay kinh tế, bao gồm cả việc đe dọa thực hiện những hành động đó, ép buộc hay cố tình tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay đời sống riêng tư [2].2 CÁC HÌNH THỨC BẠO HÀNH GIA ĐÌNH[151] 1.1 Một số định nghĩa:  Nạn nhân: đối tượng bị bạo hành hoặc lạm dụng.  Thủ phạm: người gây ra những hành vi bạo hành hoặc lạm dụng đối với nạn nhân.

 Bạn tình: bao gồm – Chồng hiện tại (có kết hôn nhưng có hoặc không có hôn thú). – Những người đang hẹn hò với nhau, kể cả hẹn hò lần đầu (khác giới hoặc cùng giới). – Bạn trai hoặc bạn gái (khác giới hoặc cùng giới). – Chồng đã ly thân hoặc ly dị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng bạo hành gia đình đến sinh non và trẻ nhẹ cân tại TP.HCM là một tài liệu quan trọng, tập trung vào việc phân tích mối liên hệ giữa bạo hành gia đình và các vấn đề sức khỏe ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là tình trạng sinh non và nhẹ cân. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp bằng chứng khoa học về tác động tiêu cực của bạo hành gia đình đến sức khỏe bà mẹ và trẻ em mà còn đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu hậu quả. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, chuyên gia y tế và những người quan tâm đến sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan đến phụ nữ và trẻ em, bạn có thể tham khảo thêm Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại BV Phụ sản TP Cần Thơ năm 2014-2015, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến thai kỳ. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định genotype HPV ở phụ nữ cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe phụ khoa. Cuối cùng, Nghiên cứu mật độ xương và tình trạng vitamin D ở trẻ em cung cấp thêm góc nhìn về sức khỏe trẻ em, một chủ đề liên quan mật thiết đến sự phát triển toàn diện của trẻ.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các khía cạnh khác nhau của sức khỏe phụ nữ và trẻ em, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề y tế hiện nay.