Tổng quan luận án
Công trình Ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng và vấn đề chuyển dịch chúng sang tiếng Việt là luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu (mã số: 9222024), do nghiên cứu sinh Phan Thị Hà thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đình Phức và TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh. Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng định tính, kết hợp khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và lý luận dịch thuật để khảo sát các biểu thức ngữ âm mang tính biểu trưng trong tác phẩm văn học cổ điển Trung Quốc và bản dịch tiếng Việt.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định dựa trên bốn căn cứ khoa học cụ thể:
- Thứ nhất, trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, hiện tượng ẩn dụ chủ yếu được xem xét ở bình diện tu từ hoặc bình diện tri nhận gắn với từ vựng và cú pháp, trong khi bình diện ngữ âm ít được quan tâm khảo sát một cách hệ thống. Từ khi nhà ngôn ngữ học Ivan Fónagy đưa ra thuật ngữ "ẩn dụ ngữ âm" (Phonetic Metaphor) vào năm 1999 trong công trình Why Iconicity, hiện tượng này bắt đầu được nghiên cứu ở một số ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Hungary, tiếng Croatia. Tại Việt Nam, thuật ngữ ẩn dụ ngữ âm vẫn chưa được nghiên cứu chính danh trong các công trình ngôn ngữ học.
- Thứ hai, ngôn ngữ học tri nhận ra đời đã thay đổi quan niệm miêu tả ngôn ngữ biệt lập ("trong bản thân nó và vì bản thân nó" theo quan điểm của F. de Saussure), thiết lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ với các quá trình tư duy, tâm lý và kinh nghiệm nghiệm thân của con người. Nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm từ góc độ tri nhận luận giúp làm rõ cơ chế tạo nghĩa và quy trình xử lý thông tin ở cấp độ vỏ âm thanh.
- Thứ ba, hiện tượng đồng âm và cận âm là cơ sở ngữ âm hình thành ẩn dụ ngữ âm. Tiếng Hán và tiếng Việt đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Tiếng Hán có số lượng âm tiết hạn chế (khoảng 1.330 âm tiết) nên hiện tượng đồng âm xuất hiện với tần suất cao. Tiếng Việt có 21.096 âm tiết trên phương diện cấu tạo âm vị học, thực tế sử dụng khoảng 10.000 âm tiết (theo Lê Trung Hoa và Hồ Lê, 1995) và có khoảng 7.000 đơn vị từ vựng đồng âm (theo Từ điển đồng âm tiếng Việt, Hoàng Văn Hành chủ biên, 1997). Tiếng Việt tiếp nhận khối lượng lớn từ gốc Hán, tạo nên hiện tượng tương tác và xung đột vỏ âm thanh giữa các đơn vị ngôn ngữ khác nhau về nguồn gốc.
- Thứ tư, tiểu thuyết Hồng lâu mộng viết bằng văn Bạch thoại đã khai thác triệt để hiện tượng đồng âm và tượng thanh như một phương thức tạo nghĩa ẩn dụ đa tầng (tên nhân vật, địa danh, vật phẩm, thơ từ, câu đối, câu đố). Tuy nhiên, các công trình trước đây chưa khảo sát toàn diện hệ thống ẩn dụ ngữ âm trong tác phẩm này, đồng thời vấn đề chuyển dịch các ẩn dụ ngữ âm sang tiếng Việt vẫn chưa được nghiên cứu có hệ thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm:
- Làm rõ vai trò của các ẩn dụ ngữ âm trong tác phẩm Hồng lâu mộng cũng như khả năng ứng dụng của chúng trong sáng tác văn học nghệ thuật;
- Khảo sát các thủ pháp chuyển dịch ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng từ tiếng Hán sang tiếng Việt, từ đó góp phần xây dựng quy trình dịch thuật đối với các văn bản văn học nghệ thuật sử dụng ẩn dụ ngữ âm.
Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số theo văn bản luận án gồm ba nhiệm vụ:
- Hệ thống lại lý thuyết ẩn dụ ngữ âm từ khái niệm, phân loại đến cơ sở hình thành, cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ ngữ âm (từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận).
- Phân tích đặc điểm và vai trò của các ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng.
- Xác định, đánh giá các phương pháp dịch ẩn dụ ngữ âm từ tiếng Hán sang tiếng Việt trong bản dịch Việt ngữ của nhóm dịch giả Vũ Bội Hoàng, có so sánh, đối chiếu với một số bản dịch tiếng Anh; đề xuất một số giải pháp gợi ý cho dịch giả khi chuyển dịch ẩn dụ ngữ âm nhằm nâng cao chất lượng bản dịch về phương diện nội dung và nghệ thuật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các ẩn dụ ngữ âm trong lớp từ phỏng thanh, từ đồng âm và từ cận âm trong văn bản Hồng lâu mộng; các phương pháp dịch ẩn dụ ngữ âm trong bản dịch tiếng Việt của nhóm tác giả Vũ Bội Hoàng.
- Phạm vi tư liệu và ngữ liệu: Bản tiếng Trung Hồng lâu mộng bát hồi hiệu bản gồm 120 hồi của Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc do Nhà xuất bản Văn học Nhân dân Bắc Kinh ấn hành năm 1958; bản dịch Việt ngữ gồm 3 tập của nhóm Vũ Bội Hoàng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành (bản tái bản năm 1996). Luận án cũng đối chiếu với 2 bản dịch tiếng Anh: The Story of the Stone của David Hawkes & John Minford (1973–1986) và A Dream of Red Mansions của Yang Hsien-yi & Gladys Yang (1978).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu theo từng giai đoạn lý thuyết và từng nhóm vấn đề cụ thể:
Lược sử nghiên cứu ẩn dụ:
- Giai đoạn truyền thống: Khởi đầu từ Aristotle trong Rhetoric và Poetics (khoảng năm 335 TCN) đến giữa thế kỷ XX, ẩn dụ được nhìn nhận qua ba thuyết chính: thuyết so sánh (xem ẩn dụ là so sánh rút gọn, tiêu biểu có nhận định của Cornell Way, 1991), thuyết thay thế (Quintilian và Aristotle xem ẩn dụ là phương tiện trang trí ngôn từ), và thuyết tương tác (Interaction Theory). I.A. Richards (1936) và Max Black (1962) đặt nền tảng cho thuyết tương tác, khẳng định ẩn dụ diễn ra ở cấp độ câu thông qua sự tương tác ngữ nghĩa giữa biểu thức ẩn dụ và ngữ cảnh. Donald Davidson (1978) nhấn mạnh ẩn dụ kích hoạt quá trình tư duy, giúp nhận thức đối tượng này thông qua đối tượng khác.
- Giai đoạn tri nhận: George Lakoff và Mark Johnson (1980) công bố Metaphors We Live By, xác lập quan điểm ẩn dụ ý niệm: ẩn dụ là phương thức tư duy và công cụ tri nhận, vận hành theo cơ chế ánh xạ một chiều từ miền nguồn (source domain) cụ thể sang miền đích (target domain) trừu tượng dựa trên nền tảng kinh nghiệm nghiệm thân.
Nghiên cứu tính phỏng hình và ẩn dụ ngữ âm trên thế giới:
- Vấn đề mối quan hệ có lý do giữa âm thanh và ý nghĩa được nghiên cứu qua khái niệm tính phỏng hình (iconicity) bởi Roman Jakobson (1965), John Haiman (1980, 1983, 1985), Talmy Givón (1985), Paul Hopper & Elizabeth Traugott (2003), John Saeed (2003).
- Thuật ngữ "ẩn dụ ngữ âm" được Ivan Fónagy đưa ra năm 1999 trong bài báo Why Iconicity, xác định sự tương ứng giữa phương thức phát âm với sắc thái tình cảm và cử động cơ thể. Branko Vuletić (1980 trong Gramatika govora; 1997; 2003 trong Phonetic Metaphor) xây dựng nền móng cho thuyết ẩn dụ ngữ âm, định nghĩa đây là sự liên tưởng giữa các nội dung khác nhau thông qua sự tương đồng hoặc tương cận của cái biểu đạt.
Nghiên cứu ẩn dụ ngữ âm tại Trung Quốc:
- Li Hong (2005) công bố bài viết Some Reflections on Phonetic Metaphors, vận dụng ngữ pháp tri nhận của Ronald Langacker và lý thuyết ẩn dụ tri nhận của Lakoff để xem ẩn dụ ngữ âm là đơn vị biểu trưng (symbolic unit), chia thành sáu loại: ẩn dụ kiểu đồng âm dị nghĩa, ẩn dụ trong yết hậu ngữ và câu đối, ẩn dụ đồng âm đồng tự dị nghĩa, nhại âm (parody), gieo vần ngữ âm, ẩn dụ ngữ âm trong văn hóa.
- Nghiên cứu lý thuyết tiếp theo gồm: Wei Wande và Yi Hui (2006) đối chiếu văn hóa Hán - Anh; Chen Jiahuang và Duan Cheng (2009, 2010) giải thích ẩn dụ ngữ âm qua thuyết tri nhận và chia thành ba loại; Liu Xiaoling và Zheng Hongping (2011) tiếp cận qua thuyết Quan yếu (Relevance Theory) với cơ chế minh chỉ - suy luận; Liu Fengxian (2015) phân tích cơ sở tâm lý và nguyên lý tiết kiệm; Jiang Taishan (2016) phân biệt ánh xạ ngữ âm với ẩn dụ ý niệm; Wang Huijuan (2016) bàn về chức năng hình ảnh của ngữ âm; Zhao Yong (2017) đề xuất cách gọi hoán dụ ngữ âm; Chen Minghong (2017) và Cheng Yige, Peng Chen, Huang Qun (2017) vận dụng lý thuyết Hội nhập ý niệm (Conceptual Blending Theory); Wang Yin (2007) phân loại thành bảy tiểu loại; Xin Chunhua (2011) phân chia theo mối quan hệ âm - nghĩa và cảm nhận âm thanh.
- Nghiên cứu ứng dụng tại Trung Quốc khảo sát ẩn dụ ngữ âm trên ngôn ngữ mạng (Li Limin 2009; Wu Zhihui 2010; Chen Yebei và Shen Meiying 2017), báo chí và thành ngữ (Zhang Lei 2009; Hu Zhongkun 2011), tiếng Nhật (Guo Xiumei 2012), quảng cáo (Wu Yiting 2010; Liu Zhiping 2013; Li Haitang 2012), giảng dạy ngoại ngữ (Chun Linluo 2014; Chen Minghong 2017), và nghệ thuật tấu hài tướng thanh.
Nghiên cứu liên quan tại Việt Nam:
- Hướng biểu tượng ngữ âm: Cao Xuân Hạo (1963) phân tích từ mô phỏng; Đỗ Hữu Châu (1997) khẳng định đặc tính vật lý của âm thanh phục vụ cho nghĩa; Cù Đình Tú (1983) xác lập 21 khuôn ngữ âm - ngữ nghĩa tạo biểu tượng ngữ âm; Nguyễn Thị Hai (1986), Phi Tuyết Hinh (1990, 1998), Nguyễn Quang Minh Triết (2009) nghiên cứu nghĩa biểu trưng khuôn vần từ láy; Đinh Trọng Lạc (2012) phân tích 4 phương tiện ngữ âm và 7 biện pháp tu từ ngữ âm; Nguyễn Thái Hòa (2006) khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm trong từ điển chuyên ngành.
- Hướng chơi chữ đồng âm: Lãng Nhân (1970) trong Chơi chữ khảo sát 12 thể loại văn học; Lê Trung Hoa và Hồ Lê (1990, 2013) phân loại 14 loại hình chơi chữ; Triều Nguyên (2007) phân tích nghệ thuật chơi chữ theo nguồn gốc thuần Việt và Hán - Việt.
Nghiên cứu về Hồng lâu mộng và dịch thuật:
- Cứ liệu bình chú: Bản bình của Chi Nghiễn Trai (1754–1760) gồm khoảng 3.000 lời bình chú, sử dụng hài âm đồng âm để giải mã ý đồ tác giả; phái Sách Ẩn (Vương Mộng Nguyên, Thẩm Bình Am 1916; Thái Nguyên Bồi; Đặng Cuồng Ngôn 1919); phái Tân Hồng học khảo chứng tiểu sử (Hồ Thích 1921; Du Bình Bá 1923, 1954).
- Hài âm và ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng: Hướng tu từ học truyền thống có Li Fangyuan (1996), Kong Zhaoqi (2015), Xie Shuhe (2017), Li Han (2016); hướng tri nhận luận có Meng Xiaoxi (2006), Tan Shanyan và Huang Shuguang (2008), Li Han (2017), Cheng Yige, Peng Chen và Huangpan (2017).
- Vấn đề dịch thuật: Feng Qinghua (2008), Li Xiang (2001), Wang Jinbo và Wang Yan (2004), Wang Jing (2010), Chen Ying (2016), Chen Quanxian và Zhou Yunrui (2010), Zhang Yu (2011), Bao Shanshan (2016) khảo sát chiến lược dịch hài âm sang tiếng Anh và tiếng Duy Ngô Nhĩ dựa trên bản dịch của Hawkes và Yang.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn: Luận án xác định khoảng trống là chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu chuyên biệt về tác phẩm Hồng lâu mộng dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời hệ thống ẩn dụ ngữ âm trong tác phẩm và thực tế chuyển dịch sang tiếng Việt qua bản dịch của nhóm Vũ Bội Hoàng chưa từng được khảo sát và đánh giá có hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết phân tích của luận án dựa trên các luận điểm của ngôn ngữ học tri nhận và ngữ nghĩa học tri nhận:
- Khái niệm tri nhận và mô hình không gian tinh thần: Gilles Fauconnier (1985) xác định không gian tinh thần (mental spaces) là các cấu trúc nhận thức tạm thời được thiết lập khi con người tư duy và giao tiếp; Ronald Langacker đưa ra khái niệm vùng tri nhận (domain); Trần Văn Cơ phân chia ý niệm thành ba nhóm (nhóm ý niệm lịch sử - sự kiện - tổ chức, nhóm ý niệm địa danh học, và nhóm ý niệm đời sống tinh thần - cảm xúc).
- Bốn nguyên lý tạo nghĩa của ngữ nghĩa học tri nhận (theo Vyvyan Evans & Melanie Green, 2009; William Croft & D. Alan Cruse, 2004):
- Cấu trúc ý niệm được nhập thân hóa (kinh nghiệm cơ thể là nền tảng tri nhận);
- Cấu trúc ngữ nghĩa là cấu trúc ý niệm (ngôn ngữ biểu đạt ý niệm trong tâm trí);
- Biểu hiện nghĩa có tính bách khoa (nghĩa quy ước là điểm truy cập vào kho kiến thức nền);
- Quá trình tạo nghĩa là quá trình ý niệm hóa (tạo nghĩa năng động thông qua ngữ cảnh và suy luận).
- Cơ chế tạo nghĩa của ẩn dụ: Mô hình ánh xạ hai miền (Mapping) của George Lakoff & Mark Johnson; Mô hình Hội nhập ý niệm (Conceptual Blending Theory) của Gilles Fauconnier & Mark Turner (2002) với mạng bốn không gian (hai không gian đầu vào Input 1 và Input 2, không gian chung Generic Space, và không gian hội nhập Blended Space); Thuyết Quan yếu (Relevance Theory) giải thích quy trình giải mã ngữ dụng qua cặp thao tác minh chỉ - suy luận.
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích định tính giữ vai trò chủ đạo, có bổ sung các dữ liệu thống kê định lượng làm cơ sở miêu tả.
- Phương pháp miêu tả: Dùng để phân loại cấu tạo, mô hình hóa các ẩn dụ ngữ âm và hệ thống hóa các kỹ thuật dịch thuật trong bản dịch Việt ngữ.
- Phương pháp phân tích: Phân tích ngữ nghĩa, phân tích thành tố biểu trưng và ý nghĩa văn hóa - lịch sử hàm ẩn.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu giữa văn bản nguyên tác tiếng Hán với bản dịch tiếng Việt của Vũ Bội Hoàng, kết hợp đối sánh diện mạo dịch thuật với 2 bản dịch tiếng Anh của David Hawkes và Yang Hsien-yi.
- Năm thủ pháp nghiên cứu bổ trợ:
- Thủ pháp nghiên cứu tư liệu (sách giáo trình, từ điển, công trình lý thuyết và khảo cứu Hồng học);
- Thủ pháp tổng hợp và chọn lọc ngữ liệu (thu thập các đơn vị ẩn dụ ngữ âm phù hợp tiêu chí);
- Thủ pháp phân loại (phân chia ẩn dụ ngữ âm và phương pháp dịch theo hệ thống tiêu chí nhất quán);
- Thủ pháp thống kê (xác định tần suất sử dụng và tỷ lệ các phương pháp dịch);
- Thủ pháp hệ thống hóa (sắp xếp dữ liệu theo trật tự logic phục vụ miêu tả).
Nguồn ngữ liệu nghiên cứu:
- Nguyên tác tiếng Hán: Hồng lâu mộng bát hồi hiệu bản 120 hồi (Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc, NXB Văn học Nhân dân Bắc Kinh, 1958).
- Bản dịch tiếng Việt: Hồng lâu mộng (bộ 3 tập, nhóm dịch giả Vũ Bội Hoàng, NXB Văn học, 1996).
- Cứ liệu bình chú và khảo chứng: Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch đầu ký (1754–1760); Chi Nghiễn Trai Hồng lâu mộng tập bình của Du Bình Bá (1954); Hồng lâu mộng chú bình của Mao Đức Bưu, Lưu Mậu Thần, Lưu Thịnh Xương (1981); luận án của Huang Shengtai (2011).
- Tư liệu đối sánh tiếng Anh: Bản dịch của David Hawkes & John Minford (1973–1986) và bản dịch của Yang Hsien-yi & Gladys Yang (1978).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 1 trình bày khung lý thuyết nền tảng gồm ngôn ngữ học tri nhận, lý thuyết ẩn dụ ngữ âm, bối cảnh văn bản học của tác phẩm Hồng lâu mộng và các lý thuyết dịch thuật liên quan:
- Hệ thống hóa các khái niệm ngôn ngữ học tri nhận: tri nhận, không gian tinh thần, vùng tri nhận, ý niệm, cấu trúc miền nguồn và miền đích. Phân tích bốn nguyên lý tạo nghĩa của ngữ nghĩa học tri nhận và cơ chế ánh xạ, hội nhập ý niệm (Hình 1: Mạng hội nhập ý niệm dạng cơ bản theo Fauconnier & Turner 2002; Hình 2: Ẩn dụ That surgeon is a butcher; Hình 3: Mạng hội nhập ý niệm ẩn dụ "Thật tốt khi về già").
- Phân tích cơ sở hình thành ẩn dụ ngữ âm: tính phỏng hình ngữ âm, đặc tính âm học - thính giác, hiện tượng từ đồng âm và cận âm, cơ sở tâm lý học và nguyên tắc tiết kiệm trong giao tiếp ngôn ngữ. Xác định quá trình tạo nghĩa của ẩn dụ ngữ âm theo mô hình hội nhập ý niệm qua sự kích hoạt vỏ âm thanh tương đồng.
- Trình bày bối cảnh ra đời của Hồng lâu mộng, thân thế Tào Tuyết Cần, bối cảnh lịch sử - xã hội thời Khang Hi - Ung Chính - Càn Long. Luận án phân tích hệ thống cứ liệu bình chú của Chi Nghiễn Trai như căn cứ giải mã nghĩa ẩn dụ ngữ âm.
Dưới đây là bảng trích dẫn một số trường hợp giải mã ẩn dụ ngữ âm do Chi Nghiễn Trai bình chú được tác giả tổng hợp trong luận án:
| Hồi |
Câu trong nguyên tác Hồng lâu mộng |
Lời bình chú của Chi Nghiễn Trai |
Ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm giải mã |
| Hồi 1 |
Chỉ có một con gái, nhũ danh là Anh Liên |
Tựa như nói ƯNG LÂN (yīng lián) vậy. |
"Anh Liên" đồng âm với "Ưng Lân" (đáng thương). |
| Hồi 7 |
Người nói tên Hương Lăng. |
Hương Lăng khởi từ chữ liên (sen), đại khái Anh Liên tức đáng thương; Hương Lăng có nghĩa tương liên (xiāng lián). |
Đổi tên từ Anh Liên sang Hương Lăng hàm ý "thương nhau". |
| Hồi 1 |
Lúc nãy đi qua cửa trước, vì nhìn thấy ả đầu Kiều Hạnh đó đi mua chỉ. |
Kiều Hạnh (âm đọc Jiāo Xìng) cũng như Kiểu hạnh (jiǎo xìng) vậy. |
"Kiều Hạnh" đồng âm với "kiểu hạnh" (may mắn ngẫu nhiên). |
| Hồi 4 |
Cái người bị đánh này chính là con trai của một viên quan nhỏ trong vùng tên Phùng Uyên. |
Phùng Uyên (Féng Yuān) tựa như nói phùng oan (féng yuān). |
"Phùng Uyên" đồng âm với "phùng oan" (gặp phải oan khiên). |
| Hồi 5 |
Trà này tên gọi Thiên Hồng Nhất Khốc. |
Thiên Hồng Nhất Khốc (qiān hóng yì kū) ẩn chữ khốc (kū). |
Tên trà ẩn nghĩa "nghìn sắc hồng cùng khóc than". |
| Hồi 5 |
Nên tên là Vạn Diễm Đồng Bôi. |
Vạn Diễm Đồng Bôi (wàn yàn tóng bēi) ẩn chữ bi (bēi). |
Tên rượu đồng âm ẩn nghĩa "muôn vẻ đẹp cùng bi thương". |
- Tổng quan lý thuyết dịch thuật: Khái quát định nghĩa về dịch, các phương pháp dịch cơ bản (dịch nghĩa đen/trực dịch, dịch nghĩa bóng/dịch ý, phỏng dịch, dịch ngữ nghĩa, dịch trung thành) và sự tương tác giữa hai hệ thống ngôn ngữ khi xử lý hiện tượng hài âm.
Chương 2: Ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng
Chương 2 phân loại và miêu tả hệ thống ẩn dụ ngữ âm trong tác phẩm theo cấu tạo và chức năng biểu đạt:
- Phân loại ẩn dụ ngữ âm trong tác phẩm thành ba loại hình:
- Ẩn dụ phỏng hình âm thanh tự nhiên;
- Ẩn dụ phỏng hình cấu âm - thính giác;
- Ẩn dụ phỏng hình đồng âm (bao gồm đồng âm hoàn toàn, cận âm, đồng âm dị tự, đồng âm đồng tự).
- Phạm vi sử dụng và vai trò của ẩn dụ ngữ âm:
- Ẩn dụ ngữ âm trong từ mô phỏng âm thanh: Tác giả khảo sát các từ tượng thanh không chỉ mô tả tiếng động vật lý mà còn biểu trưng cho tâm trạng, tính cách và số phận nhân vật. Luận án xác lập mô hình ẩn dụ ÂM THANH LÀ TRẠNG THÁI NHÂN VẬT (Bảng 2 trong luận án).
- Ẩn dụ ngữ âm trong tên riêng (họ tên nhân vật, địa danh, tên vật phẩm): Luận án chứng minh tên gọi trong tác phẩm đóng vai trò tóm lược số phận nhân vật và phản ánh hiện thực xã hội thông qua các bảng khảo sát chuyên biệt:
- Bảng 3: Một số tên nhân vật biểu trưng sự kiện lịch sử (ví dụ: các nhân vật phản ánh biến cố triều đại);
- Bảng 4: Tóm lược một số tên nhân vật biểu trưng thực trạng xã hội (Gia Hóa - Giả Hóa, Chân Sĩ Ẩn - Chân thị ẩn, Tiền Đoạt Lễ);
- Bảng 5: Một số ẩn dụ trong tên Lâm Đại Ngọc (phân tích mối quan hệ hài âm giữa Đại Ngọc, đới ngọc, mộc thạch tiền minh);
- Bảng 6: Một số tên nhân vật biểu trưng sự kiện/tình tiết câu chuyện (như Bốc Thế Nhân - Bất thị nhân, Thân Hoan - Lại hoan);
- Bảng 7: Một số tên nhân vật biểu trưng công việc/nghề nghiệp của nhân vật (như tên các a hoàn, tiểu đồng, người hầu trong Giả phủ gắn với chức năng làm việc).
Chương 3: Vấn đề chuyển dịch ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng sang tiếng Việt
Chương 3 khảo sát thực tế dịch thuật ẩn dụ ngữ âm trong bản dịch Việt ngữ của nhóm Vũ Bội Hoàng (1996) và đối sánh với hai bản dịch tiếng Anh:
- Khảo sát bản dịch của nhóm Vũ Bội Hoàng: Luận án phân tích tám phương pháp và kỹ thuật dịch được nhóm dịch giả áp dụng:
- Phương pháp dịch ý;
- Phương pháp dịch ý thêm chú thích;
- Phương pháp trực dịch;
- Phương pháp trực dịch kết hợp bổ sung chú thích;
- Phương pháp trực dịch kết hợp dịch ý và bổ sung chú thích;
- Phương pháp trực dịch kết hợp phương pháp phỏng dịch và dịch nghĩa có chú thích;
- Phương pháp dịch trung thành có thêm chú thích;
- Phương pháp dịch ngữ nghĩa thêm chú thích.
- Đánh giá tình hình dịch từ mô phỏng âm thanh và tên riêng:
- Bảng 8: Tình hình dịch từ tượng thanh biểu trưng tính cách nhân vật (khảo sát cách xử lý từ tượng thanh sang các từ tượng thanh hoặc từ láy tiếng Việt tương đương);
- Bảng 9: Tình hình dịch ẩn dụ ngữ âm trong nhóm tên riêng là ẩn dụ đồng âm đồng tự;
- Tác giả chỉ ra ưu thế của tiếng Việt khi sử dụng hệ thống âm Hán - Việt để trực dịch tên riêng, giúp giữ nguyên âm tiết nhưng đòi hỏi phải bổ sung chú thích để độc giả nhận biết nghĩa hài âm hàm ẩn.
- Đối sánh bản dịch tiếng Việt với các bản dịch tiếng Anh của David Hawkes và Yang Hsien-yi:
- Bảng 10: Bảng đối sánh chiến lược dịch ẩn dụ ngữ âm trong từ mô phỏng âm thanh giữa bản dịch tiếng Việt với các bản dịch tiếng Anh;
- Bảng 11: So sánh phương pháp dịch ẩn dụ đồng âm hoàn toàn giữa bản dịch tiếng Việt và các bản dịch tiếng Anh;
- Bảng 12: So sánh phương pháp dịch các ẩn dụ ngữ âm có chú thích;
- Bảng 13: So sánh dịch ẩn dụ tương cận âm và đồng âm.
- Phân tích đối sánh cho thấy: Hai dịch giả tiếng Anh Hawkes và Yang không có hệ thống từ Hán - Việt hỗ trợ nên buộc phải dịch nghĩa tên riêng sang tiếng Anh (phương pháp dịch ý/phỏng dịch) để truyền tải nghĩa biểu trưng, hoặc phiên âm bính âm (Pinyin) kèm chú thích cuối trang. Nhóm Vũ Bội Hoàng giữ nguyên âm Hán - Việt của tên riêng, duy trì tính nguyên bản của văn hóa Trung Hoa nhưng phụ thuộc lớn vào việc có chú thích giải nghĩa hài âm hay không.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa lý thuyết ẩn dụ ngữ âm trên nền tảng ngôn ngữ học tri nhận, làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc âm thanh và cấu trúc ý niệm thông qua mô hình hội nhập ý niệm (Conceptual Blending).
- Chứng minh ẩn dụ không chỉ tồn tại ở bình diện từ vựng, ngữ pháp mà hiện diện có quy luật ở bình diện ngữ âm, hình thành từ tính phỏng hình, hiện tượng đồng âm - cận âm và cơ chế tiết kiệm nhận thức.
- Xác lập khung miêu tả và phân loại ẩn dụ ngữ âm trong văn bản văn học cổ điển, làm rõ đặc trưng loại hình ngôn ngữ đơn lập của tiếng Hán trong mối quan hệ đối chiếu với tiếng Việt.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp luận cứ khoa học để giới thiệu và vận dụng thuật ngữ ẩn dụ ngữ âm vào nghiên cứu Việt ngữ học.
- Khảo sát toàn diện hệ thống ẩn dụ ngữ âm trong 120 hồi Hồng lâu mộng, giải mã các tầng nghĩa hàm ẩn trong tên nhân vật, địa danh, vật phẩm và từ mô phỏng âm thanh dựa trên cứ liệu lịch sử và bình chú Hồng học.
- Đánh giá hệ thống các phương pháp dịch ẩn dụ ngữ âm trong bản dịch tiếng Việt của nhóm Vũ Bội Hoàng, chỉ ra những ưu điểm khi khai thác vốn từ Hán - Việt và những điểm hạn chế khi thiếu chú thích ngữ cảnh.
- Cung cấp bảng dữ liệu đối sánh dịch thuật giữa tiếng Việt và tiếng Anh (bản dịch của Hawkes và Yang), làm cơ sở tham khảo cho công tác biên dịch văn học nghệ thuật và giảng dạy đối chiếu Hán - Việt.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Luận án đề xuất quy trình dịch ẩn dụ ngữ âm cho dịch giả gồm các bước: (1) Nhận diện tín hiệu ngữ âm và đối chiếu ngữ cảnh bách khoa; (2) Xác định miền đích và ý đồ hàm ẩn của tác giả nguyên tác; (3) Lựa chọn chiến lược dịch phù hợp (kết hợp trực dịch âm Hán - Việt với bổ sung chú thích ngữ nghĩa đối với tên riêng; lựa chọn từ tượng thanh tương đương trong tiếng Việt đối với từ mô phỏng âm thanh).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài theo công bố trong văn bản:
- Phạm vi khảo sát ngữ liệu giới hạn trong văn bản 120 hồi của bản in Hồng lâu mộng bát hồi hiệu bản (1958) và bản dịch tiếng Việt của nhóm Vũ Bội Hoàng (1996), đối chiếu với hai bản dịch tiếng Anh của Hawkes và Yang; luận án chưa mở rộng sang các bản dịch tiếng Việt khác xuất bản ở các thời điểm khác nhau.
- Đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu vào ba nhóm phương tiện: từ mô phỏng âm thanh, từ đồng âm và từ cận âm trong tên riêng, chưa bao quát toàn bộ các hình thức lời thoại nhân vật, thơ phú, câu đố hay các yếu tố tu từ khác trong tác phẩm.
- Việc luận giải ý nghĩa ẩn dụ phụ thuộc vào các tài liệu bình chú lịch sử hiện có (đặc biệt là bản bình của Chi Nghiễn Trai và các công trình của Tân Hồng học), chưa thể bao quát hết các giả thuyết văn bản học mới phát hiện.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Ứng dụng mô hình ẩn dụ ngữ âm để nghiên cứu các tác phẩm văn học cổ điển khác của Trung Quốc hoặc các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam có sử dụng nghệ thuật chơi chữ, hài âm (như thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Truyện Kiều).
- Khảo sát hiện tượng ẩn dụ ngữ âm trong ngôn ngữ hiện đại: ngôn ngữ quảng cáo, truyền thông, tiêu đề báo chí và giao tiếp trên mạng xã hội tại Việt Nam.
- Nghiên cứu ứng dụng ẩn dụ ngữ âm trong phương pháp giảng dạy tiếng Trung Quốc cho người Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Ngôn ngữ học tri nhận: Tham khảo khung lý thuyết hội nhập ý niệm áp dụng cho bình diện ngữ âm và quy trình phân tích ngữ liệu văn bản học.
- Giảng viên và sinh viên ngành Hán học, Trung Quốc học, Văn học phương Đông: Sử dụng nguồn ngữ liệu phân tích chi tiết về tên nhân vật, địa danh, vật phẩm trong Hồng lâu mộng để phục vụ giảng dạy tác phẩm.
- Dịch giả và người làm công tác biên dịch văn học: Tham khảo các phân tích thực nghiệm về tám phương pháp dịch, các bảng đối chiếu Hán - Việt - Anh và đề xuất giải pháp dịch tên riêng, từ tượng thanh mang ẩn dụ ngữ âm.
Các phần có giá trị tư liệu cao:
- Bảng tổng hợp các trường hợp giải mã ẩn dụ ngữ âm của Chi Nghiễn Trai (Bảng 1);
- Các bảng phân loại tên riêng biểu trưng cho sự kiện lịch sử, hiện thực xã hội, nghề nghiệp nhân vật (Bảng 3, Bảng 4, Bảng 6, Bảng 7);
- Hệ thống bảng đối sánh chiến lược dịch thuật giữa bản dịch của nhóm Vũ Bội Hoàng với hai bản dịch tiếng Anh của David Hawkes và Yang Hsien-yi (Bảng 10, Bảng 11, Bảng 12, Bảng 13).
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "ẩn dụ ngữ âm" (Phonetic Metaphor) được hình thành và tiếp nhận trong ngôn ngữ học như thế nào?
Thuật ngữ này được nhà ngôn ngữ học Ivan Fónagy đưa ra lần đầu tiên vào năm 1999 trong bài báo Why Iconicity nhằm chỉ mối tương quan có lý do giữa phương thức cấu âm và ý nghĩa biểu đạt. Sau đó, Branko Vuletić (2003) xây dựng thành chuyên luận Phonetic Metaphor. Tại Trung Quốc, Li Hong (2005) là người đầu tiên đưa khái niệm này vào nghiên cứu tiếng Hán trên cơ sở kết hợp lý thuyết ẩn dụ tri nhận của Lakoff và ngữ pháp tri nhận của Langacker, mở đầu cho chuỗi nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng tại Trung Quốc.
2. Hiện tượng đồng âm đóng vai trò gì trong việc tạo lập ẩn dụ ngữ âm trong Hồng lâu mộng?
Hiện tượng đồng âm và cận âm là cơ sở ngôn ngữ trực tiếp để hình thành ẩn dụ ngữ âm. Tiếng Hán có số lượng âm tiết hạn chế (khoảng 1.330 âm tiết) nên lượng từ đồng âm rất lớn. Trong Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần đã khai thác đặc tính này để tạo nên cấu trúc nghĩa hai tầng: tầng nghĩa hiển minh trên mặt chữ và tầng nghĩa hàm ẩn thông qua vỏ âm thanh đồng âm hoặc cận âm (như Giả Hóa đồng âm với "giả hóa", Chân Sĩ Ẩn đồng âm với "sự thật bị giấu kín", Phùng Uyên đồng âm với "phùng oan").
3. Tác giả vận dụng lý thuyết nào để giải thích cơ chế tạo nghĩa của ẩn dụ ngữ âm?
Tác giả vận dụng lý thuyết Hội nhập ý niệm (Conceptual Blending Theory) của Gilles Fauconnier và Mark Turner (2002). Theo mô hình này, nghĩa của ẩn dụ ngữ âm không chỉ là sự ánh xạ một chiều giữa miền nguồn và miền đích, mà được tạo ra thông qua sự tích hợp mạng không gian tinh thần: các yếu tố ngữ âm từ không gian đầu vào 1 và ý niệm từ không gian đầu vào 2 được phóng chiếu có chọn lọc vào không gian hội nhập (Blended Space) để làm nảy sinh nghĩa mới mang tính cấu trúc và biểu cảm.
4. Bản dịch tiếng Việt của nhóm Vũ Bội Hoàng sử dụng những phương pháp chính nào khi dịch ẩn dụ ngữ âm?
Luận án chỉ ra nhóm Vũ Bội Hoàng đã sử dụng tám phương pháp/kỹ thuật dịch: dịch ý; dịch ý thêm chú thích; trực dịch; trực dịch kết hợp bổ sung chú thích; trực dịch kết hợp dịch ý và bổ sung chú thích; trực dịch kết hợp phỏng dịch và dịch nghĩa có chú thích; dịch trung thành có thêm chú thích; dịch ngữ nghĩa thêm chú thích. Đối với tên riêng, phương pháp chủ đạo là trực dịch theo âm Hán - Việt, kết hợp có chọn lọc với việc ghi chú thích giải nghĩa hài âm.
5. Điểm khác biệt căn bản giữa bản dịch tiếng Việt của Vũ Bội Hoàng và hai bản dịch tiếng Anh của Hawkes và Yang khi xử lý tên riêng là gì?
Nhóm Vũ Bội Hoàng tận dụng lợi thế tiếng Việt có lớp từ Hán - Việt tương ứng âm - chữ với tiếng Hán nên giữ nguyên hình thức ngữ âm Hán - Việt của tên riêng (như Chân Sĩ Ẩn, Giả Vũ Thôn), giữ được tính nguyên bản nhưng độc giả phải tự liên tưởng hoặc đọc chú thích mới hiểu nghĩa ẩn dụ. Ngược lại, hai bản dịch tiếng Anh của David Hawkes và Yang Hsien-yi không có hệ thống từ trung gian này nên thường phải dịch nghĩa tên gọi sang từ tiếng Anh tương đương để truyền tải nghĩa ngụ ý cho độc giả phương Tây, hoặc dùng phiên âm bính âm kèm chú thích.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phan Thị Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống hiện tượng ẩn dụ ngữ âm trong kiệt tác văn học Hồng lâu mộng và sự chuyển dịch của chúng sang tiếng Việt trên cơ sở lý luận của ngôn ngữ học tri nhận. Bằng phương pháp phân tích định tính kết hợp đối sánh ngữ liệu Hán - Việt - Anh, tác giả đã làm rõ cơ chế tạo nghĩa của các ẩn dụ ngữ âm trong từ tượng thanh và tên riêng, đồng thời xác lập các mô hình biểu trưng ngữ âm gắn với bối cảnh lịch sử và bình chú Hồng học. Công trình đã đánh giá khách quan các kỹ thuật dịch thuật của nhóm dịch giả Vũ Bội Hoàng, chỉ ra ưu thế cũng như giới hạn của việc sử dụng âm Hán - Việt trong dịch thuật văn học cổ điển, từ đó đề xuất các giải pháp dịch thuật giàu tính ứng dụng thực tiễn.