mở đầu cho hàng loạt nghiên cứu ẩn dụ ngừ âm trong liếng Hán được tiến hành cà từ góc độ lý thuyết và thực liền ứng dụng, tiêu biểu có thê kề đến các nghiên cứu sau: 11 (1) Các nghiên cứu tù’ góc độ lý thuyết Bài viết Tìm hiẻu và phân tích án dụ ngừ âm (2006) của Wei Wande và Yi Hui [137] giới thiệu cơ chế tri nhận của ẩn dụ ngữ âm và tiến hành phân loại, đổi chiếu với tiếng Anh. nhằm tìm ra sự khác biệt văn hóa mà ẩn dụ ngữ âm đã thể hiện trong cả hai ngôn ngữ. Tác giá cho rằng, trong quá trình tri nhận ấn dụ ngữ âm. chúng ta phải dựa vào các phương pháp tri nhận phức tạp như tri giác, trí nhớ, sự tường tượng, nhận biết, suy nghĩ và suy luận, ngoài ra phần lớn còn phụ thuộc vào ngữ cánh.
Bài viết An dụ ngữ âm và sự giải mã ngừ dụng của nó (Phonetic Metaphor and Its Pragmatic Interpretation) (2009) của Chen Jiahuang, Duan Cheng [105] cho ràng, định nghĩa ẩn dụ ngừ âm Li Hong đưa ra còn rất mơ hồ, nên đã kết hợp quan diem cua LakoíT và Branko Vuletic giai thích ân dụ ngữ âm như sau: sự liên tưởng giữa những cái biêu đạt khác nhau với những cái được biêu đạt dựa vào những nét tương đồng thê hiện ở những thành phần ngữ âm giống nhau hoặc gần giồng. Nói cách khác, đó ỉà sự ánh xạ qua các miền ý niệm (a cross-domain mapping) trong hệ thống ý niệm ờ bình diện ngừ âm. Có thế thấy rằng, định nghĩa này là sự khăng định lại định nghĩa cúa Branko Vulctíc, có điều xem sự liên tương giữa những cái biểu đạt khác nhau nhờ vào sự tương đồng ngừ âm là ánh xạ theo cách hiêu cũa ngữ học tri nhận. Bài viết An dụ ngữ âm dưới góc nhìn của thuyết Quan yếu (2011) của Liu Xiaoling, Zheng Hongping 1125] cho ràng việc giải mã ẩn dụ ngừ âm phải được tiến hành trong ngữ cánh cụ thể, xem đó là một quá trình minh chi' (ostension) - suy luận (inference).
Trong đó, sự tương đồng ngữ ăm chính là những minh chi kích thích người đọc, người nghe liên tưởng, suy luận đến ý nghĩa hàm ẩn phía sau đó. Bài viểt Cơ sở lý thuyết tồn tại ấn dụ ờ hình diện ngữ ăm cúa Liu Fengxian (2015) [123] bàn về cơ sở hình thành ân dụ ngữ âm bao gồm tính hình hiệu ngôn ngừ, sự tương đồng ngừ âm, cơ sở tâm lý và nguyên lý tiết kiệm. Ngoài ra bài viết 1 Minh chỉ là sự gây chú ý của người đọc, người nghe bằng các hành vi trực quan (ostcnsive behavior) hay các kích thích trực quan (ostensive stimulus) đê kích thích người đọc, người nghe suy luận. 12 còn phân tích mối liên hệ giữa ấn dụ ngừ âm với ân dụ ở các bình diện khác nhau và mối liên hệ giữa hai miền của ấn dụ ngừ âm.
Bài viết Thử bàn về ẩn dụ ngữ âm của Jiang Taishan (2016) 1114] trên cơ sở lý thuyết ẩn dụ tri nhận đã phân tích sâu hơn về quan điểm ấn dụ ngữ âm mà Li Hong đưa ra. Tác gia cho rằng khái niệm ẩn dụ ngữ âm cùa Li Hong bao gồm hai hiện tượng ngôn ngừ khác biệt nhau, đó là hiện tượng một từ ngữ dùng hình thức tương đong ngữ âm, gieo van (hoặc láy vần) đẽ kích hoạt một từ vựng khác; hiện tượng thứ hai chi sự ánh xạ lien miền dựa vào đặc diem phát âm hoặc cam nhận âm thanh của lời nói. Bài viết cũng tìm ra điếm khác biệt giừa ấn dụ ngữ âm với ẩn dụ ý niệm, đó là, giữa hai mien cùa ánh xạ trong ẩn dụ ngừ âm không liên quan về mặt ý nghĩa mà chi dựa vào sự tương đồng ngữ âm Bàn về chức năng ân dụ của ngừ âm (2016) của Wang Huijuan 1135] đã chứng minh ngữ âm có chức năng ẩn dụ và thể hiện ở nhiều cấp độ ngữ âm, âm điệu, từ vựng và cả ngừ đoạn, đồng thời cho rằng; nguồn gốc ngôn ngữ mang tính ẩn dụ cúa âm thanh, chức năng ấn dụ của ngữ âm gắn liền với với hình ánh (image) và tính ân dụ của ngừ âm bắt nguồn từ tư duy có tinh thơ ca cúa văn hóa Trung Quốc. Như vậy chức năng ấn dụ của ngữ âm đều có nguồn gốc sâu xa từ ngôn ngữ học và phương thức tư duy.
Bài viết Bàn về ấn dụ ngữ âm cùa và Zhao Yong (2017) 11441 thông qua mổi liên hệ giữa các từ ngừ có liên quan về mặt ngữ âm với hình thái tu từ và mối quan hệ của tính hình hiệu với ấn dụ. tác giả cho ràng giữa miền nguồn và miền đích không có tính hình hiệu về mặt ngữ nghĩa mà sự ánh xạ liên miền xáy ra dựa trên tương đồng về ngừ âm. vì thế hiện tượng này nên gọi là hoán dụ ngừ âm và cho ràng cách gọi ấn dụ ngữ âm của tu từ ngữ âm là chưa đầy đủ. nên gọi là dùng tính hình hiệu và tính biểu trưng để giải thích tu từ ngữ âm sẽ thỏa đáng hơn.
Trong khi nhiều nghiên cứu ân dụ ngữ âm đều dùng thuyết Quan yếu đế luận giải ý nghĩa ẩn dụ ngữ âm, Chen Minghong (2017) [106] đã ứng dụng lý thuyết Hòa trộn ý niệm (Blending theory) phân lích cư chế tạo nghĩa vả luận giái ý nghía ân dụ âm, đồng thời tổng kết, hệ thống những nghiên cứu quan tâm đến vẩn đề giáng dạy ân dụ ngữ âm trong môn nghe trong hoạt động giảng dạy ngoại ngữ. 13 (2) về phân loại ẩn dụ ngũ âm Wang Yin (2007) [136] trên cơ sở phân loại cùa Li Hong đã tiến hành phân ấn dụ ngừ âm thành bảy tiểu loại: 1) ấn dụ đồng âm dị nghĩa; 2) ẩn dụ trong Yet hậu ngừ và câu đối; 3) ẩn dụ đồng àm đồng tự (chừ) dị nghĩa; 4) ẩn dụ đồng âm dị tự; 5 ) ẩn dụ láy âm đầu (láy phụ âm); 6) ẩn dụ trong từ lóng, từ ám chỉ; 7) ần dụ ngừ âm trong văn hóa dân gian. Cách phân loại này rất mở, có thể bao quát đượchầu hết hiện tượng ấn dụ ngữ âm. tuy nhiên phạm vi quá rộng lại liệt kê từ nhiều góc độ nên trùng hợp.
chồng chéo lẫn nhau. Chen Jiahuang, Duan Cheng (2009) [105] cho rằng sự phân loại của Li Hong có sự chồng chéo lẫn nhau, thực chất chi cẩn phân thành ba loại: ẩn dụ đồng âm dị nghía, an dụ đồng âm đồng tự dị nghĩa và ấn dụ nhại âm (parody). Trong bài viết So sánh đối chiếu liên văn hóa cùa ấn dụ ngừ âm giữa liếng Anh và tiếng Hán (2011) [139], Xin Chunhua căn cứ vào mổi tương quan giữa hai miền ý niệm là âm và nghĩa chia an dụ ngữ âm thành hai loại lớn là: ân dụ ngữ âm dựa vào mối quan hệ ngữ âm - ngừ nghĩa (xét ờ cấp độ từ) và ấn dụ ngữ âm dựa vào âm cảm - tức cảm nhận âm thanh (xét ờ cấp độ âm vị - hình vị). Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy từ sau nghiên cứu đầu tiên cùa Li Hong, hàng năm ở Trung Quốc đều có các nghiên cứu lý thuyết ẩn dụ ngữ âm, đồng thời tập trung chù yếu ờ ba khía cạnh: 1) Cơ sở hình thành ẩn dụ ngừ âm (Wang Yin, Liu Fcngxiang, Zhao Yong, Wang Huijuan.); 2) Phân loại an dụ ngữ âm (Wang Yin, Chen Jiahuang, Duan Cheng, Xin Chuanhua, Li HaiTang, Liu Zhiping.); 3) Tim hiếu cơ chế tri nhận ân dụ ngừ âm.
Đối với cơ sở hình thành ân dụ ngữ âm, phần lớn các nghiên cứu đã xác định ân dụ ngữ âm được hình thành từ nguyên lý phóng hình của ngôn ngừ ờ bình diện ngừ âm, từ đồng âm và cơ sở tâm lý xuất phát từ nguyên tắc tiết kiệm trong giao tiếp ngôn ngữ. Điều này góp phần chứng minh ẩn dụ cũng tồn tại ờ bình diện ngữ âm chứ không chi có ở bình diện ngừ pháp hay từ vựng mà người ta thường gọi là ẩn dụ ngữ pháp và ấn dụ từ vựng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chí dừng lại ờ mức độ gợi ý chứ chưa bàn sâu về vấn đề này. Do đó đây cũng là một khoảng trống 14 để luận án tiếp tục bổ sung, củng cố thêm luận cứ.
chứng minh hiện tượng ẩn dụ ngừ âm ton tại trong ngôn ngữ là tất yếu. về phân loại ân dụ ngừ âm, các nghiên cứu ban đầu liệt kê đay đú những trường hợp được cho là ân dụ ngừ âm, tuy nhiên sự phân loại này không cùng góc độ và cấp độ nên chồng chéo nhau (Li Hong (2005) [118], Wang Yin (2007) [136]). Các nghiên cứu sau này đà tập tiling xem xét ân dụ ngữ âm ở góc độ ngôn ngừ học và tiến hành phân loại cụ thể và có trình tự rõ ràng hơn. Chẳng hạn, Chen Jiahuang và Duan Cheng (2010) [105] chia ẩn dụ ngữ âm thành ba loại là ấn dụ đồng âm dị nghĩa, ẩn dụ đồng âm đồng tự dị nghĩa và ẩn dụ do nhại lại âm (parody); Chen Chuanhua phân thành hai loại là ẩn dụ ngữ âm dựa vào cảm âm (cảm nhận âm thanh) và ẩn dụ ngừ âm dựa vào mối quan hệ âm và nghĩa.
Cách phân loại cúa Chen Chuanhua tương ứng vói cơ sớ hình thành an dụ ngừ âm. Đó là, ấn dụ dựa vào cám âm - tức tính hình hiệu ngừ âm và mối quan hệ âm - nghĩa là ẩn dụ ở cấp độ từ vựng. Các tác giả lập trung lìm hiếu cơ chế tri nhận ADNA đều lừ góc nhìn của thuyết quan yếu (Relavance Theory), trong đó nổi bật có Wei Wande và Yi Hui (2006) [137], Liu Xiaoling, Guo Hongping (2011) [125]. Họ cho ràng, việc sử dụng và luận giải ẩn dụ ngữ âm phải được tiến hành trong ngữ cảnh nhất định và cơ chế tri nhận nó là quá trình minh chi - suy luận.
Góc nhìn này làm rõ dược yếu tố ngừ dụng. Tuy nhiên, các nhà ngừ học tri nhận cho ràng, suy nghi và tư duy cùa con người vốn là một quá trình phức tạp, và ẩn dụ cũng chinh là một phương thức tư duy mà theo ngôn ngữ học tri nhận nó phái được phân tích là sự ánh xạ giữa các miền ý niệm và cơ sở luận giải ý nghĩa là kinh nghiệm luận, còn cơ chế tạo nghía là quá trình hội nhập ý niệm (Conceptual Blending) (xem Lakoff & Johnson (1980), Ungerer. Trên cơ sở này, Chen Minghong (2017) [106], Cheng Yige, Peng Chen, Huang Qun (2017) [109] đã ứng dụng lý thuyết Hội nhập ý niệm phân tích cư chế tạo nghĩa và luận giải ý nghĩa ân dụ âm.