mở đầu cho thể loại phóng sự ở Việt Nam. Tam Lang đã viết tập phóng sự Tôi kéo xe (1932), Vũ Trọng Phụng cũng viết phóng sự Cạm bẫy người (1933) và Kĩ nghệ lấy Tây (1934) đóng góp vào văn học hiện thực phê phán. Cây bút đáng chú ý của văn ho ̣c thời kỳ này còn có Tú Mỡ với thơ trào phúng : “Bằng những vần thơ trào phúng, Tú Mỡ đã phê phán những cái xấu xa, bỉ ổi, rởm đời cùng với những hủ tục, tập quán lạc hậu trong xã hội thực dân phong kiến. Tiếng cười trào phúng của ông đậm đà màu sắc dân tộc, hóm hỉnh, có duyên nhưng đôi khi chưa thật sâu sắc” [38, 202].
Nói chung, tính chiến đấu của văn học hiện thực phê phán chặng đường này chưa cao, mục đích phê phán có khi còn chưa chính xác, nền tảng nhân đạo chủ nghĩa chưa vững vàng nhưng nhà văn hiện thực phê phán đã nỗ lực để phản ánh được tính bất công, vô nhân đạo của xã hội, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, thương xót đối với những nạn nhân của xã hội đó. Chặng đường 1936 – 1939, thời kỳ Mặt trận Dân chủ, văn học hiện thực phê phán phát triển mạnh mẽ, phong phú trên nhiều thể loại mà trong đó tiêu biểu nhất là tiểu thuyết và truyện ngắn. Chặng đường này, ngoài Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Vũ Trọng Phụng và Tam Lang, xuấ t hiê ̣n nhiề u nhà văn cách mạng như Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Bùi Huy Phồn, Mạnh Phú Tư. Phạm vi phản ánh, tầm bao quát hiện thực trong văn học hiện thực phê phán ở giai đoạn này sâu sắc hơn, không chỉ phản ánh những hiện tượng nổi lên trên bề mặt của xã hội mà còn khám phá được chiều sâu của hiện thực.
Nhà văn hiện thực phê phán đã đặt được những vấn đề lớn có tầm khái quát cao của thời đại và được thể hiện những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội. “Nhiều cây bút dường như đã đưa hẳn những sự kiện chính trị, xã hội có tính chất thời sự nóng hổi vào trong tác phẩm của mình (Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Lầm than của Lan 16 Khai, Kim tiền của Vi Huyền Đắc. Chính vì vậy, có thể nhâ ̣n thấ y tình hình chính trị, xã hội chính là một trong những nhân tố thúc đẩy văn học hiện thực phê phán phát triển. Chặng đường 1940 – 1945, trong văn học hiện thực phê phán ít đề cập đến những vấn đề xã hội rộng lớn và cũng ít trực tiếp thể hiện phê phán những mâu thuẫn xã hội một cách mãnh liệt như ở chặng đường trước.
Bởi chế độ kiểm duyệt khắt khe và sự khủng bố của chính quyền thực dân không cho phép các nhà văn hiện thực viết về những vấn đề ấy. “Dưới gọng kìm kiểm duyệt của bọn phát xít, những tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài. tuy không trực tiếp bóc trần những mâu thuẫn giai cấp đối kháng trong xã hội và ca ngợi tinh thần đấu tranh của quần chúng nhưng cũng duy trì được một thái độ dám nhìn thẳng vào sự thật, thấy được cái không khí oi bức, dông bão của một xã hội đang ngột thở, đang quằn quại lột xác để chuyển mình, để đổi thay” [28, 351]. Trong trào lưu văn học hiện thực phê phán ở chặng đường cuối cùng này, Nam Cao được đánh giá cao với những truyện ngắn Chí Phèo (1941), Lão Hạc (1943), Đời thừa, Một đám cưới (1944), và tiểu thuyết Sống mòn (1944).
Qua hai đề tài người nông dân và người trí thức tiể u tư sản , Nam Cao đã dựng đươ ̣c bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam đương thời trên con đường bần cùng hóa, phá sản, không lối thoát, hết sức đau lòng và khắ c ho ̣a sâu sắ c những tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản nghèo đầy khát vọng, giàu tài năng mà phải số ng mòn. Như đã nói , trong giai đoạn 1930 – 1945, chúng tôi thấy các nhà văn hiện thực phê phán đã có ý thức gắn liền cảm hứng sáng tác với hiện thực xã hội và do đó các tác phẩm của họ được mang tính thời sự. Nhiều tác phẩm đã hòa nhập được với bầu không khí, những sự kiện văn hóa, chính trị xã hội đương thời. Nhà văn miêu tả cuộc sống một cách chân thật và miêu tả về con người rất cụ thể, chính xác nhằm đáp ứng một phần những yêu cầu cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc.
“Các nhà văn hiện thực phê phán đều tập trung hướng ngòi bút của mình vào việc phê phán, tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn áp bức bóc lột, những chính sách mị dân bịp bợm, giả dối của giai cấp thống trị, đồng thời phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân với một thái độ cảm thông sâu sắc” [38, 204]. Trong trào 17 lưu văn học hiện thực phê phán, đã hình thành một dòng chảy của văn học trào phúng với hàng loạt sáng tác dưới ngòi bút châm biếm sắc sảo của Ngô Tất Tố, với một bút pháp riêng đầy tính sáng tạo của Nam Cao, truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, dưới ngòi bút đả kích trực diện vào bọn đề quốc Nhật – Pháp của Nguyên Hồng. và đặc biệt là nhà văn Vũ Trọng Phụng với những tác phẩm tiểu thuyết như Số đỏ, Giông tố, Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô. Văn học hiện thực phê phán Việt Nam không phải là không có mạch nguồn từ trong quá khứ.
Ở Việt Nam, truyện tiếu lâm, văn học trào phúng đặc biệt phong phú, có truyền thống và đã có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng tiếng cười, rất lạc quan, và rất giỏi về nghệ thuật tạo tiếng cười. “Văn học cười và trào phúng của Việt Nam được sáng tác ra trong những điều kiện lịch sử nhất định để phục vụ cho giáo dục và đấu tranh giai cấp” [42, 170] và “đến ngày nay vẫn có tác dụng bồi dưỡng đạo đức, tư tưởng con người, và rèn giũa ý chí đấu tranh của con người” [42, 171]. Tiểu thuyết hiện thực phê phán cũng tiếp thu truyền thống hài hước, châm biếm của văn học dân tộc với nghệ thuật trào phúng dồi dào. Nhưng đối với mục đích của nghệ thuật trào phúng thì văn chương truyền thống và văn học hiện thực phê phán khác nhau.
Tiếng cười trong văn học truyền thống thì phần lớn là tiếng cười hài hước, cười hả hê vui tươi và cũng có ít nhiều khi có tiếng cười chế giễu, trào lộng nhưng cũng làm người đọc thoải mái, thư giãn mà thôi. Nhưng các nhà văn hiện thực phê phán đã sử dụng tiếng cười trong văn học như những mũi tên nhằm vào một loại đối tượng nào đó của xã hội. Vì tiếng cười mang trong mình sức mạnh cách mạng, góp phần vào việc lật đổ các thế lực phản động trong xã hội giai cấp. “Thơ trào phúng của Tú Mỡ thường xuyên châm biếm, đả kích những người và việc diễn ra hàng ngày.
Nhiều phóng sự của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng đã phản ánh và tố cáo nhanh nhạy, kịp thời những tệ nạn xã hội bị dư luận 18 lên án” [38, 213-214]. Chính vì vậy, những nhà văn hiện thực phê phán đã có ý thức sử dụng đến tiếng cười phê phán trào phúng để lên án tố cáo những mặt xấu xa thối nát, rởm đời của xã hội thực dân phong kiến đương thời, và nói lên nỗi thống khổ của các tầng lớp nhân dân lao động. Còn văn học hiện thực phê phán của Việt Nam là vừa kế thừa truyền thống thích cười vừa khắc phục những nhược điểm còn tồn tại trong thế giới quan để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới mẻ của thời kỳ hiện đại. Đầu năm thế kỷ XX, ở Hàn Quốc bắt đầu hình thành văn học hiện đại với phong trào Shinmunhak (văn học mới), nhà văn tiêu biểu là Yi Kwang Su, Kim Tong In, Kim Yoo Jeong.
Trong bài Văn Xuôi Triều Tiên trên đường hiện thực chủ nghĩa, giáo sư Yu Chong Ho cho rằng văn xuôi Triều Tiên thời kỳ đầu có quan điểm coi văn học như là một công cụ để xây dựng hoặc khai sáng xã hội cho nên những tác phẩm không tránh khỏi mang tính chất giáo huấn khô cứng. Nhưng nhận thức về vai trò khai sáng và giải phóng của văn học lại ngày càng phù hợp với quan niê ̣m sáng tác của các nhà văn đi theo xu hướng chủ nghĩa hiện thực. Nói về thời kỳ này chúng tôi không thể không nhắc tên của ông Yom Sang Sop và Chae Man Shik vì hai ông này đều là nhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu nhất trong giai đoạn này và đã phản ánh đươ ̣c nhiề u phương diện thực tế Hàn Quốc thời thuộc địa thông qua nghệ thuật trào phúng. Ông Yom Sang Sop đã viết tiểu thuyết Mansejeon (Trước hoan hô) và Sam đae (Ba thế hệ), trong đó ông đã nêu bâ ̣t l ên những đă ̣c trưng hiện thực chủ nghĩa một cách sắc sảo.
Sam đae là “một tác phẩm hiếm hoi kết hợp được cả tiểu thuyết xã hội và tiểu thuyết phong tục. Nhờ bức tranh xã hội rộng lớn và những bức chân dung tính cách sinh động thể hiện trong đó, cuốn tiểu thuyết này đã được xem như một trong những thành tựu nổi bật của văn học Triều Tiên đương đại” [11, 17]. Đối với ông Chae Man Shik, tuy tác phẩm của ông không nhiều nhưng các tác phẩm đều mang đậm cảm hứng phê phán. Trong tiểu thuyết Thakryu (Dòng chảy tăm tối) đã nêu lên những mâu thuẫn xã hội đầy bất công và dối trá và tố cáo sự bóc lột kinh tế của Nhật Bản một cách mạnh mẽ.
Ngày ấy, người dân Hàn Quốc sống khổ dưới ách đô hộ Nhật Bản cũng như 19 Việt Nam dưới chế độ nửa phong kiến thực dân Pháp. Chính quyền đô hộ hiểu rõ văn học chính là một thứ vũ khí sắc bén và lợi hại có thể làm lung lay địa vị thống trị của chúng. Vì các nhà văn thực sự có năng lực, có tinh thần dân tộc, có thể sử dụng ngòi bút của mình để tuyên truyền, quảng bá được cho đại chúng tinh thần yêu nước và đấu tranh giải phóng trong thời gian ngắn. Cho nên chính quyền đô hộ Nhật Bản đã kiểm soát khắt khe văn học Hàn Quốc “buộc các nhà văn phải quay sang viết các tiểu thuyết về các sự kiện quá khứ để giúp họ tạm thời lảng tránh những vấn đề hiện tại” [11, 17].