Khám Phá Nghệ Thuật Rối Cạn Của Người Tày Tại Định Hóa, Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích từ ngữ về nghệ thuật rối cạn của người tày ở định hóa thái nguyên, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

115
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nghệ thuật rối cạn của người Tày ở Định Hóa Thái Nguyên

Nghệ thuật rối cạn là một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của người Tày tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Đây là một phần quan trọng trong truyền thống văn hóa của cộng đồng người Tày, thể hiện qua các buổi biểu diễn nghệ thuật trong các dịp lễ hội. Nghệ thuật múa rối này không chỉ là hình thức giải trí mà còn mang ý nghĩa tâm linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Vật liệu chính để làm con rối là gỗ thừng mực, một loại cây phổ biến ở miền núi, dễ chế tác và bền chắc. Các con rối thường mô phỏng hình ảnh vua quan, lão nông, và muông thú, phản ánh đời sống và tín ngưỡng của người Tày.

1.1. Lịch sử và nguồn gốc

Nghệ thuật rối cạn của người Tày có lịch sử lâu đời, được cho là xuất hiện từ khoảng 200 năm trước. Nó thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội như Lồng tồng (lễ Xuống đồng), nhằm mục đích cầu mong sự may mắn và thịnh vượng. Nghệ thuật này không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là phương tiện để truyền tải các giá trị văn hóa dân tộc và tín ngưỡng của người Tày. Các phường rối như Ru NghệThẩm Rộc là những đại diện tiêu biểu cho loại hình nghệ thuật này tại Định Hóa.

1.2. Kỹ thuật chế tác và biểu diễn

Kỹ thuật chế tác con rối trong nghệ thuật rối cạn đòi hỏi sự tinh xảo và tỉ mỉ. Vật liệu chính là gỗ thừng mực, được chọn vì tính chất mềm, nhẹ và không bị mối mọt. Các con rối được tạo hình theo các nhân vật truyền thống như vua quan, lão nông, và muông thú. Trong quá trình biểu diễn nghệ thuật, các nghệ nhân sử dụng kỹ thuật điều khiển rối bằng que, tạo nên những chuyển động linh hoạt và sống động. Điều này không chỉ thể hiện tài năng của nghệ nhân mà còn phản ánh sự sáng tạo trong nghệ thuật truyền thống của người Tày.

II. Văn hóa và di sản nghệ thuật rối cạn

Nghệ thuật rối cạn không chỉ là một hình thức nghệ thuật biểu diễn mà còn là một phần quan trọng trong di sản văn hóa của người Tày. Nó phản ánh đời sống tinh thần, tín ngưỡng, và các giá trị truyền thống của cộng đồng. Thông qua các buổi biểu diễn, người Tày gửi gắm những ước nguyện về cuộc sống no đủ, mùa màng tốt tươi, và sự đỗ đạt vinh danh. Nghệ thuật này cũng là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện đại.

2.1. Ý nghĩa văn hóa

Nghệ thuật rối cạn mang ý nghĩa sâu sắc trong đời sống văn hóa của người Tày. Nó không chỉ là hình thức giải trí mà còn là phương tiện để truyền tải các giá trị tinh thần và tín ngưỡng. Các buổi biểu diễn thường diễn ra trong các dịp lễ hội, thể hiện sự kết nối giữa con người với thiên nhiên và thần linh. Điều này phản ánh rõ nét trong các nhân vật và câu chuyện được thể hiện qua con rối, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của người Tày.

2.2. Bảo tồn và phát triển

Trong bối cảnh hiện đại, việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật rối cạn đang được chú trọng. Các phường rối như Ru NghệThẩm Rộc đang nỗ lực duy trì và truyền dạy kỹ thuật chế tác và biểu diễn cho thế hệ trẻ. Đồng thời, các chương trình bảo tồn di sản văn hóa cũng được triển khai nhằm quảng bá và nâng cao nhận thức về giá trị của loại hình nghệ thuật này. Điều này không chỉ giúp bảo tồn nghệ thuật truyền thống mà còn góp phần phát triển du lịch văn hóa tại Định Hóa, Thái Nguyên.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghệ thuật rối cạn của người Tày không chỉ có giá trị về mặt văn hóa dân tộc mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Nó góp phần vào việc giáo dục và truyền bá các giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ. Đồng thời, loại hình nghệ thuật này cũng là một điểm nhấn trong phát triển du lịch văn hóa tại Định Hóa, Thái Nguyên. Việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật rối cạn không chỉ giúp duy trì bản sắc văn hóa mà còn tạo cơ hội kinh tế cho cộng đồng địa phương.

3.1. Giáo dục và truyền thống

Nghệ thuật rối cạn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và truyền bá các giá trị truyền thống của người Tày. Thông qua các buổi biểu diễn, thế hệ trẻ được tiếp cận với các câu chuyện và nhân vật mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về lịch sử và truyền thống của dân tộc mình mà còn khơi dậy niềm tự hào và ý thức bảo tồn di sản văn hóa.

3.2. Phát triển du lịch văn hóa

Nghệ thuật rối cạn là một trong những yếu tố thu hút du khách đến với Định Hóa, Thái Nguyên. Các buổi biểu diễn nghệ thuật này không chỉ mang lại trải nghiệm văn hóa độc đáo mà còn góp phần quảng bá hình ảnh của địa phương. Việc kết hợp giữa bảo tồn nghệ thuật truyền thống và phát triển du lịch văn hóa đang là hướng đi hiệu quả, mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm hình vị, từ, ngữ, nghĩa 1. Hình vị Trong ngôn ngữ học đại cương, hình vị (“morpheme” mooc- phem/ từ tố/ nguyên vị/ hình tố…) và từ tố được coi là những dạng thức cụ thể của hình vị trong những hoàn cảnh nhất dịnh với vai trò cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn (từ). Hình vị là một trong những nội dung thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.

Khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy có một số quan niệm của các tác giả trên thế giới về hình vị như sau: Quan niệm thứ nhất, coi hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của từ. Tiêu biểu cho quan niệm này là phát biểu của Baudouin de Courtnay: “Chuỗi lời nói chia ra câu hay mệnh đề, câu chia ra thực từ, từ chưa ra hình vị. Như vậy, hình vị là bộ phận của từ và là bộ phận có nghĩa nhỏ nhất”. Quan niệm thứ hai, coi hình vị là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ.

Tiêu biểu cho quan niệm này là phát biểu của L. Bloomfield: “Hình vị là một nhát cắt âm thanh nhỏ nhất có sự tương ứng giữa âm và nghĩa, phân biệt được với nhát cắt khác cũng là hình vị; hình vị là hình thức đơn vị nhỏ nhất có nghĩa”. Theo quan niệm này, hình vị được xem là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ và ngôn ngữ gồm ba bậc cơ bản là: âm vị, hình vị và kết cấu. Quan niệm thứ ba, coi hình vị có nội dung rộng hơn cách hiểu của quan niệm thứ nhất nhưng hẹp hơn cách hiểu của quan niệm thứ hai.

Theo đó, hình vị là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất của ngôn ngữ không được sử dụng độc lập về mặt cú pháp. Những nhà nghiên cứu theo quan điểm này coi từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Đi sâu tìm hiểu các quan niệm về hình vị của các nhà Việt ngữ học, chúng tôi nhận thấy một số tác giả với các quan niệm có tính khuynh hướng như: 8 Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - từ ghép - đoản ngữ” đã cho rằng: “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất về mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp” [11]. Như vậy hình vị được coi là tiếng và là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt.

Tuy nhiên, tác giả không đồng nhất tiếng là từ mà có sự phân biệt: tiếng độc lập và tiếng không độc lập. Các tiếng độc lập được coi là từ còn các tiếng không độc lập được coi là các hình vị tự do. Như vậy, Nguyễn Tài Cẩn đã lấy tính độc lập/ không độc lập là tiêu chuẩn để phân biệt từ và hình vị. Rất rõ ràng để thấy các lí giải về hình vị tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn thuộc vào quan niệm thứ hai.

Tác giả Cao Xuân Hạo khi bàn về hình vị, một mặt tán đồng quan điểm hình vị trùng với âm tiết của Nguyễn Tài Cẩn, mặt khác ông đi sâu tìm hiểu cách tổ chức tôn tin của các đơn vị mang nghĩa và các quy tắc cú pháp của tiếng Việt. Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã chứng mình: trong tiếng Việt, đơn vị có cương vị ngôn ngữ học của âm vị là tiếng chứ không phải là âm tố như trong các ngôn ngữ Châu Âu. Từ những phân tích cụ thể, tác giả đi đến kết luận: “Trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị, vừa là từ, và nếu có thể hình dung một ngôn ngữ Âu châu như một cơ chế hoạt động trên ba cái trục chính: âm vị - hình vị và từ, tiếng Việt dường như gộp ba cái trục ấy lại làm một: cái trục hợp nhất ấy là tiếng” [26]. Chính điều này đã tạo ra hiện tượng “một thể ba ngôi” trong tiếng Việt.

Tiếp thu các quan điểm đi trước, các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu,… cho rằng: từ mới là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Nếu quan niệm hình vị là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ thì từ tiếng Việt trùng với hình vị. Điều này dẫn đến nhận định có thể coi từ tiếng Việt trùng với hình vị và âm tiết. Tuy nhiên, không phải âm tiết nào cũng là hình vị và từ bởi có những âm tiết vô nghĩa và không thể coi là hình vị.

Từ việc tìm hiểu các quan niệm trên, chúng tôi nhận thấy có thể coi “hình 9 vị” là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ. Theo đó, hình vị có 2 đặc điểm chính: - Là đơn vị có nghĩa. - Không thể phân chia thành đơn vị có nghĩa nhỏ hơn. Từ Từ là một khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học và đã được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học.

Saussure thì: “… từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng của chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngữ nghĩa, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [36]. Có lẽ vì thế mà đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về từ đã được đưa ra những chưa có định nghĩa nào thỏa mãn được các nhà nghiên cứu. Nhận định này là hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 6000 ngôn ngữ đang được sử dụng và ở mỗi ngôn ngữ từ lại được biểu hiện ở những hình thái khác nhau. Để thấy được sự đa dạng trong định nghĩa về từ, chúng tôi dẫn ra một số định nghĩa thường được nhắc đến như sau: F.

de Saussure cho rằng: “Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng của chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ…” [36, tr. Trong định nghĩa về từ, K. Bukher chú ý đến mặt ngữ âm của từ và cho rằng: “Các từ là kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường”. Nhìn nhận từ góc độ thuộc tính phổ quát của từ.Solnxev nhận định: “a) Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa; b) Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời”.

Theo tác giả, khi nói từ là đơn vị ngôn ngữ là đã có hàm ý phân biệt từ với hình vị, với câu; nói tính hai mặt (âm và nghĩa) là muốn khẳng định tính hoàn chỉnh của từ. Tức là từ có cả hình thái và ngữ nghĩa. Vì vậy, trong lời nói từ có khả năng hoạt động độc lập về cú pháp. Tiếp thu các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã dành sự quan tâm cho vấn đề này.

Có thể kể đến các tác giả 10 với các nhận định về từ được nhiều người đồng thuận như: Tác giả Nguyễn Thiện Giáp khi nghiên cứu về từ đã so sánh từ của các ngôn ngữ Ấn Âu và từ của tiếng Việt [24, tr. Tác giả chỉ ra: 1) Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Trong các ngôn ngữ Ấn Âu, từ có thể là đơn tiết, có thể là đa tiết. Trong Việt ngữ, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những âm vô nghĩa.

Như vậy, từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Đây là một đặc điểm khác hẳn với các ngôn ngữ Ấn Âu. 2) Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và giăng, nhăn và dăn), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa (ví dụ: các ý nghĩa khác nhau của từ ăn…) nhưng không thể có biến thể hình thái học. Dù đứng trong câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức.

3) Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở từ trong tiếng Việt. Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát. Chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa. Từ những phân tích trên, tác giả tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong công đưa ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một ấm tiết, một khối viết liền” [24, tr.

Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong công trình nghiên cứu“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” nhận định: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [17, tr. Khi nghiên cứu đối tượng là từ, tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa về từ như: “Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất trong cấu tạo câu [12, tr. Đây được coi là định nghĩa về từ được nhiều nhiều chấp 11 nhận nhất bởi: định nghĩa này đã chỉ ra được những đặc điểm khái quát cơ bản nhất của từ như sau: 1) Từ là đơn vị hoàn chỉnh có cả hình thức (vỏ âm thanh) và nghĩa. 2) Từ có khả năng hoạt động độc lập và tạo ra câu trong lời nói.

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Hữu Châu để nghiên cứu từ ngữ trong múa rối cạn của người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên. Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được chia thành: từ đơn, từ ghép và từ láy. Từ đơn là “từ chỉ chứa một từ tố”[6, tr. Các từ đơn như: nhà, bàn, lớp, lúa, ngô, chạy, nhảy, cười, khóc, vui, buồn,… Từ ghép là “Từ chứa hai (hoặc hơn hai) từ tố và trong đó nhìn chung không có hiện tượng “hòa phối ngữ âm tạo nghĩa” [6, tr.

Căn cứ theo cấu tạo, từ ghép chia thành: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Từ ghép đẳng lập là từ ghép mà “quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong nó là quan hệ bình đẳng; ý nghĩa ngữ pháp do cơ chế ghép đẳng lập tạo ra nó là ý nghĩa tổng hợp, ý nghĩa chỉ loại sự vật, đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) chung” [6, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghệ thuật rối cạn của người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên" khám phá vẻ đẹp độc đáo của loại hình nghệ thuật truyền thống này, một di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày. Bài viết không chỉ giới thiệu về lịch sử, kỹ thuật biểu diễn mà còn nhấn mạnh giá trị văn hóa và ý nghĩa xã hội của nghệ thuật rối cạn trong đời sống cộng đồng. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

Để hiểu sâu hơn về cách di sản văn hóa được ứng dụng trong giáo dục, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ giáo dục học giáo dục phẩm chất yêu nước cho học sinh lớp 4 thông qua khai thác giá trị văn hóa truyền thống của di tích lịch sử cấp quốc gia. Nếu muốn tìm hiểu về phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm với di tích, Luận văn thạc sĩ giáo dục học tổ chức hoạt động trải nghiệm với di tích cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1975 là tài liệu hữu ích. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục di sản văn hóa cho học sinh các trường trung học cơ sở thành phố Cao Bằng cung cấp góc nhìn toàn diện về quản lý và giáo dục di sản.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan đến di sản văn hóa và giáo dục.