Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê địa lý và nhân khẩu học, huyện Định Hóa thuộc tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên khoảng 520 km2, là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng người Tày với bề dày văn hóa dân gian phong phú. Trong bức tranh văn hóa đa dạng đó, nghệ thuật múa rối cạn truyền thống có lịch sử hình thành hơn 200 năm, đóng vai trò hạt nhân trong Lễ hội Lồng tồng (Lễ hội Xuống đồng) nhằm gửi gắm ước nguyện mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập văn hóa và xu hướng chuyển đổi ngôn ngữ khi hơn 87% đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng thành thạo tiếng Việt phổ thông, hệ thống từ ngữ nghề nghiệp múa rối cạn đang đối mặt với nguy cơ mai một nghiêm trọng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam của tác giả Vi Thị Thuận (2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Văn Trường tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tập trung nhận diện, thống kê và phân tích toàn diện 308 đơn vị từ ngữ chuyên ngành múa rối cạn tại 2 phường rối cổ truyền: thôn Thẩm Rộc (xã Bình Yên) và thôn Ru Nghệ (xã Đồng Thịnh). Mục tiêu trọng tâm của đề tài là giải mã đặc điểm cấu tạo hình thức, cơ chế ngữ nghĩa, phương thức định danh và các tầng vỉa văn hóa tộc người ẩn sâu trong lớp từ nghề nghiệp này. Về giá trị thực tiễn, công trình cung cấp nguồn ngữ liệu chuẩn xác với 100% thuật ngữ bản địa được giải nghĩa tường minh, trực tiếp phục vụ đề án bảo tồn văn hóa truyền thống của huyện Định Hóa và đóng góp nguồn tư liệu quý báu cho công tác biên soạn từ điển nghề cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn được triển khai dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 trụ cột lý thuyết ngôn ngữ học và văn hóa học hiện đại:

  • Lý thuyết cấu tạo từ và ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu: Xem xét từ và ngữ dưới tư cách đơn vị định danh cơ bản của ngôn ngữ đơn lập, phân loại hệ thống thành từ đơn, từ phức (ghép đẳng lập, ghép chính phụ), từ láy và ngữ định danh cố định.
  • Lý thuyết trường nghĩa học (Semantic Field) của Jost Trier và John Lyons: Phân chia hệ thống từ vựng múa rối cạn theo cấu trúc trường nghĩa dọc (trường biểu vật, trường biểu niệm) và trường nghĩa tuyến tính, phản ánh trọn vẹn quy trình sản xuất vật chất và thực hành nghi lễ.
  • Lý thuyết định danh và mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa của Ferdinand de Saussure, Edward Sapir và Trần Ngọc Thêm: Khẳng định ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu môi trường sinh thái, tư duy tri nhận và biểu tượng văn hóa của tộc người Tày.

Hệ thống khái niệm công cụ được vận dụng xuyên suốt bao gồm 5 thuật ngữ then chốt: hình vị, từ nghề nghiệp, ngữ định danh, ngôn ngữ sân khấu múa rối và biểu tượng văn hóa tộc người.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu của luận văn được thu thập trực tiếp trong năm 2019 thông qua quá trình khảo sát thực địa tại 2 không gian di sản: phường rối Thẩm Rộc và phường rối Ru Nghệ tại huyện Định Hóa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 308 đơn vị từ ngữ chuyên ngành múa rối cạn được phân lập theo từng công đoạn. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích, phỏng vấn sâu trực tiếp các nghệ nhân cao tuổi và nghệ nhân ưu tú nắm giữ bí quyết chế tác cũng như kỹ thuật biểu diễn.

Các phương pháp phân tích chính bao gồm:

  • Phương pháp điều tra điền dã dân tộc học ngôn ngữ: Quan sát trực tiếp thao tác đục đẽo gỗ thừng mực, lắp ráp trục điều khiển và ghi âm các bài giáo tuồng cổ trong buồng trò kín.
  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Ứng dụng thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp và phân tích trường nghĩa nhằm bóc tách cấu trúc ngữ âm - ngữ pháp của từng đơn vị từ ngữ tiếng Tày ghi bằng tự dạng Latinh.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối sánh các đơn vị từ vựng tiếng Tày với tiếng Việt và các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tày - Thái để làm nổi bật nét đặc thù bản địa.

Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là vì tiếng Tày thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính, đòi hỏi phải khảo sát trực tiếp trong ngữ cảnh diễn xướng thực tế mới có thể giải mã chính xác các nét nghĩa phái sinh và nghĩa biểu niệm của từ nghề nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng trên tổng thể 308 đơn vị từ ngữ múa rối cạn của người Tày ở Định Hóa đã mang lại 3 phát hiện cấu trúc nổi bật:

  • Cơ cấu hình thái từ vựng: Từ phức chiếm tỷ trọng lớn nhất với 146 đơn vị (đạt 47,40%), tiếp đến là từ đơn với 99 đơn vị (chiếm 32,15%) và cụm từ/ngữ định danh gồm 63 đơn vị (đạt 20,45%). Sự áp đảo của từ phức cho thấy xu hướng ghép hóa mạnh mẽ nhằm định danh chi tiết các sự vật mới xuất hiện trong nghề.
  • Phân bố theo 4 nhóm trường nghĩa chức năng: Nhóm từ ngữ chỉ con rối chiếm số lượng cao nhất với 118 từ (đạt 38,31%), nhóm chỉ quá trình biểu diễn gồm 106 từ (đạt 34,42%), nhóm chỉ công đoạn chế tác gồm 65 từ (chiếm 21,10%) và nhóm chỉ công cụ chế tác có 51 từ (chiếm 16,56%).
  • Mô hình cấu tạo ngữ pháp: Hầu hết các từ phức và ngữ định danh tiếng Tày tuân thủ mô hình ghép phân nghĩa Chính trước - Phụ sau (C - P hoặc C - P1 - P2). Thành tố chính biểu thị loại thể sự vật (như slíu - đục, pja - dao, tua - con), trong khi thành tố phụ đảm nhiệm vai trò phân nghĩa về hình dáng, kích thước hoặc chức năng (như slíu mẻ - đục chàng, pja sliểm - dao nhọn, tua tò hua - con rối đầu trò).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh tư duy tri nhận trực quan, cụ thể và gắn liền với thế giới tự nhiên của người Tày. Phương thức định danh con rối dựa trên hình thức và đặc điểm bên ngoài chiếm hơn 60% tổng số tên gọi nhân vật, phản ánh trọn vẹn kết cấu xã hội truyền thống (như Pùa - vua, lao thầu - trùm phường, Pú ké - ông già) cùng thế giới muông thú quen thuộc nơi núi rừng (tua lình - con khỉ, tua vài - con trâu, tua thưa - con hổ).

Trong nghiên cứu, toàn bộ khối dữ liệu định lượng này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ cấu tạo từ vựng (47,40% từ phức, 32,15% từ đơn, 20,45% cụm từ) và biểu đồ cột đối sánh quy mô 4 trường nghĩa chức năng.

So sánh với các công trình nghiên cứu sân khấu múa rối của Nguyễn Huy Hồng (1974, 2003) và Hoàng Kim Dung (1997), luận văn đã tiến xa hơn khi tiếp cận lớp từ ngữ như một hệ thống biểu tượng văn hóa. Việc đồng bào Tày sử dụng độc nhất chất liệu gỗ cây thừng mực (cọ mạy mục) - loại cây thân gỗ nhẹ, mềm xốp, dễ đục gọt và tuyệt đối không mối mọt - để tạc quân rối đã chứng minh kinh nghiệm ứng xử môi trường và tri thức bản địa tích lũy qua hơn 2 thế kỷ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu ngữ liệu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản múa rối cạn Tày tại huyện Định Hóa:

  • Chuẩn hóa và số hóa 100% cơ sở dữ liệu 308 thuật ngữ nghề múa rối cạn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên chủ trì phối hợp với Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên xuất bản tài liệu "Bách khoa thư mini về nghệ thuật rối cạn Định Hóa", hoàn thành trước quý IV năm 2026.
  • Gia tăng 40% tần suất biểu diễn thực cảnh gắn với du lịch di sản: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Định Hóa đưa hoạt động diễn xướng rối cạn vào chương trình cố định tại Lễ hội Lồng tồng và tuyến du lịch về nguồn ATK Định Hóa, thực hiện định kỳ trong giai đoạn 2025-2028.
  • Khôi phục và mở rộng 2 lớp truyền dạy kỹ năng chế tác và điều khiển quân rối: Các nghệ nhân nắm giữ bí quyết tại phường rối Thẩm Rộc và Ru Nghệ trực tiếp đào tạo tối thiểu 20 học viên trẻ người Tày, đảm bảo nắm vững toàn bộ vốn từ vựng và kỹ năng biểu diễn trước năm 2027.
  • Tích hợp tri thức văn hóa rối cạn vào chương trình giáo dục địa phương: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Định Hóa triển khai các hoạt động trải nghiệm ngoại khóa về múa rối cạn cho 100% học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn trong giai đoạn 2026-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và nhân học văn hóa: Khai thác 308 mục từ thực địa chuẩn xác để nghiên cứu quy luật định danh tộc người và sự tương tác giữa ngôn ngữ Tày - Thái với tiếng Việt.
  • Giảng viên và sinh viên ngành Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Sân khấu học: Sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình điền dã ngôn ngữ học và phương pháp phân tích trường nghĩa học từ nghề nghiệp.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách tại Thái Nguyên: Tiếp cận hệ thống cứ liệu khoa học để hoàn thiện hồ sơ khoa học đề nghị ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia cho 2 phường rối Thẩm Rộc và Ru Nghệ.
  • Nghệ nhân, đạo diễn và người thực hành sân khấu truyền thống: Tìm hiểu kỹ thuật tạo hình con rối từ gỗ thừng mực và các làn điệu giáo tuồng cổ phục vụ sáng tạo các tác phẩm sân khấu dân gian đương đại.

Câu hỏi thường gặp

  • Nghệ thuật múa rối cạn của người Tày ở Định Hóa ra đời từ khi nào? Nghệ thuật múa rối cạn Tày tại Định Hóa có lịch sử hình thành khoảng 200 năm trước. Loại hình này phát triển chủ yếu tại 2 phường rối cổ Thẩm Rộc và Ru Nghệ, gắn chặt với nghi lễ Lễ hội Lồng tồng đầu xuân.

  • Vì sao gỗ cây thừng mực lại được chọn làm vật liệu duy nhất để chế tác quân rối? Gỗ thừng mực (cọ mạy mục) có đặc tính mềm, thớ mịn, nhẹ và kháng mối mọt vượt trội. Điều này giúp nghệ nhân dễ đục đẽo tạo hình và giúp người diễn điều khiển con rối trên cao không bị mỏi tay.

  • Tỷ lệ phân bố các dạng cấu tạo từ ngữ múa rối cạn Tày như thế nào? Trong tổng số 308 đơn vị được khảo sát, từ phức chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,40% (146 từ), từ đơn chiếm 32,15% (99 từ) và cụm từ/ngữ định danh chiếm 20,45% (63 cụm từ).

  • Trật tự cấu tạo ngữ pháp chủ yếu của từ ngữ múa rối cạn Tày là gì? Hầu hết các từ phức và ngữ định danh tuân thủ cấu trúc Chính trước - Phụ sau (C - P), trong đó thành tố chính chỉ chủng loại công cụ/nhân vật và thành tố phụ bổ sung đặc điểm, màu sắc hoặc công năng.

  • Nghiên cứu từ ngữ rối cạn đóng góp gì cho công tác bảo tồn tiếng Tày hiện nay? Trong bối cảnh hơn 87% người dân sử dụng thành thạo tiếng Việt khiến tiếng mẹ đẻ có nguy cơ thu hẹp, nghiên cứu giúp ghi nhận và lưu giữ vĩnh viễn 308 thuật ngữ cổ về một nghề thủ công truyền thống quý báu.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập danh mục hoàn chỉnh gồm 308 đơn vị từ ngữ chuyên ngành múa rối cạn của người Tày tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
  • Chứng minh đặc trưng cấu tạo ngữ pháp với 47,40% từ phức và 32,15% từ đơn, phản ánh quy luật ghép phân nghĩa Chính trước - Phụ sau điển hình của tiếng Tày.
  • Bóc tách toàn diện 4 trường nghĩa chức năng, làm sáng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa ngôn ngữ nghề nghiệp với không gian diễn xướng Lễ hội Lồng tồng hơn 200 năm lịch sử.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp khả thi nhằm bảo tồn và số hóa di sản văn hóa phi vật thể tại 2 phường rối Thẩm Rộc và Ru Nghệ giai đoạn 2025-2030.
  • Khẳng định bảo tồn từ vựng nghề cổ truyền chính là giải pháp then chốt để gìn giữ bản sắc văn hóa và tiếng nói của các dân tộc thiểu số trong tiến trình phát triển bền vững.