Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DI SẢN VĂN HÓA CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), nhận thấy nguy cơ các di sản văn hóa có thể bị hủy diệt, năm 1954 Công ước bảo vệ di sản văn hóa trong sự kiện xung đột vũ trang (The convention for protection cultural heritage in event armed conflict) ra đời đã thể hiện sự quan tâm của thế giới đối với vấn đề này. Lời nói đầu của Công ước này đã khẳng định: “bảo vệ di sản văn hóa là điều rất quan trọng đối với tất cả mọi người trên thế giới và quan trọng là di sản đó phải nhận được sự bảo vệ tầm quốc tế”.
Đến năm 1971, tổ chức UNESCO có những bước chuẩn bị đầu tiên cho việc xây dựng văn bản pháp lí về bảo vệ văn hóa dân gian thông qua văn kiện mang tên Khả năng thiết lập các văn kiện quốc tế để bảo vệ văn hóa dân gian (Posibility establishing international instrument to protect folklore). Sau Công ước năm 1971, nhiều nước thành viên của tổ chức UNESCO đã kêu gọi xây dựng hệ thống bảo tồn di sản văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian. Vào năm 1989, Đại hội đồng của UNESCO cuối cùng đã thông qua Nghị quyết về việc bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian. Đại hội đưa ra đề xuất rằng các nước thành viên cần phải thực hiện các chương trình tập huấn về công tác bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể và lập danh sách các di sản văn hóa này.
Còn theo Tổ chức Du lịch thế giới, ước tính 37% du lịch toàn cầu xuất phát từ động lực tìm hiểu văn hóa nơi đến. Các di sản văn hóa ngày càng thể hiện vai trò nguồn lực nội sinh cho sự làm giàu và phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Cùng với các ngành công nghiệp sáng tạo, ngành du lịch văn hóa trở thành một “ngành sản xuất”, tạo ra của cải xã hội và ngày càng chiếm một tỉ trọng lớn 6 trong ngân sách mỗi quốc gia. Chính vì vậy mỗi một quốc gia là thành viên tham gia Công ước Bảo vệ di sản văn hóa của UNESCO đã rất nỗ lực để đưa di sản văn hóa vào trong chương trình nghị sự phát triển bền vững quốc tế và cho ra đời một chương mới trong Hướng dẫn Công ước 2003, khẳng định tầm quan trọng của di sản “sống” đối với hội nhập và phát triển bền vững.
Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế và văn hóa, bảo vệ di sản văn hóa cũng chính là đóng góp một phần nhỏ bé cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời hướng cho cộng đồng các dân tộc hướng cùng tham vào việc ngăn ngừa tranh chấp, xây dựng hòa bình và thịnh vượng. Quán triệt nội dung Nghị quyết số 33/NQ-TW ngày 09/6/2014, Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, để văn hóa thực sự trở thành “nền tảng tinh thần” của xã hội; là động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững, là cơ sở hết sức quan trọng để tiếp tục xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách phù hợp với các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn tiếp cận với một số công trình nghiên cứu đề cập đến việc giáo dục di sản cho học sinh khác như: Tác giả Nguyễn Dục Quang trong bài viết “Về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục di sản thế giới cho học sinh Phổ thông Việt Nam” đã đề cập đến việc giáo dục di sản thế giới thông qua các môn học. Tác giả đã xác định cụ thể mục tiêu giáo dục di sản thế giới trong nhà trường là để mở mang tri thức văn hóa, khoa học; góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.
Nội dung và phương pháp giáo dục có thể tiến hành qua các hoạt động ngoại khóa hoặc qua các môn học ưu thế như Địa lý, Lịch sử, GDCD. Tác giả Nguyễn Minh Nguyệt “Giáo dục trải nghiệm di sản ở nhà trường Phổ thông - hướng tiếp cận mới trong giáo dục truyền thống”. Công trình đã có đóng góp to lớn trong việc thay đổi quan điểm dạy học theo hướng 7 tích cực, đẩy mạnh hoạt động giáo dục trải nghiệm trong học tập về di sản văn hóa, học sinh sẽ dễ dàng ghi nhớ và thêm yêu thích tìm hiểu về di sản văn hóa của dân tộc, cũng như tăng cường được tinh thần, ý thức bảo tồn di sản văn hóa trong học sinh [12]. Tác giả Nguyễn Văn Huy“Quy trình giáo dục trải nghiệm di sản trong nhà trường”.
Tác giả đã đưa ra được quy trình bao gồm 8 bước trong giáo dục trải nghiệm di sản trong nhà trường giáo viên nên áp dụng để nâng cao hiệu quả giáo dục. Quy trình nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động tìm hiểu nhu cầu trải nghiệm di sản trong học sinh, trên cơ sở đó thực hiện hoạt động giáo dục trải nghiệm đảm bảo đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về di sản văn hóa trong học sinh, từ đó giúp học sinh thêm yêu thích hoạt động giáo dục trải nghiệm di sản văn hóa [9]. Tác giả Lê Hà với bài viết “Tạo sức sống bền vững cho di sản từ trường học”. Đây là công trình có đóng góp to lớn trong việc đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng giáo dục di sản văn hóa trong các nhà trường hiện nay, từ đó cải tiến hoạt động giáo dục di sản văn hóa nhằm không ngừng đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả giáo dục di sản văn hóa trong trường học [6].
Nhìn chung, các công trình hiện nay mới đưa ra được khái niệm thế nào là di sản, di sản văn hóa, tầm quan trọng của giáo dục di sản văn hóa trong trường học, nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục di sản văn hóa cho học sinh tại các trường THCS. Chính vì thế tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục di sản văn hóa cho học sinh trường THCS thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng” làm công trình nghiên cứu. Một số khái niệm công cụ của đề tài 1.
Khái niệm quản lý Theo Phạm Viết Vượng “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá 8 trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [18]. Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [7]. Theo tác giả Nguyễn Thị Tính: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra” [15]. Hay nói một cách khác: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng QL như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Từ sự khái quát trên quản lý bao gồm các yếu tố cơ bản sau: - Chủ thể quản lý (có thể một hoặc nhiều người). - Đối tượng bị quản lý (có thể một hoặc nhiều người, sự vật, sự việc. - Mục tiêu quản lý nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả lao động.
- Chủ thể tiến hành các tác động quản lý bằng các công cụ quản lý và các phương pháp quản lý. - Quản lý về cơ bản là tác động lên con người, sự vật để điều hành các hoạt động có lợi cho tổ chức và đạt được những mục tiêu tổ chức đặt ra. Để quản lý tốt trước hết cần hiểu sâu sắc về con người, sự vật với tư cách là đối tượng của quản lý, sau đó phải được đào tạo huấn luyện cách thức tác động đến con người, sự vật; Quản lý là tìm cách, biết cách ràng buộc một cách thông minh, tế nhị việc thỏa mãn nhu cầu cho con người, trên cơ sở đó khích lệ con người đem hết năng lực thực hiện công việc được giao. - Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động của cấp dưới; Đó chính là thực hiện các chức năng của QL 9 - Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động chung được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển.
- Quản lý là chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách gian tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực của cá nhân, tổ chức theo mục tiêu đã đặt ra. Nói một cách tổng quát nhất có thể xem quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Như vậy bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích có kế hoạch của lực lượng quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của quản lý. Từ những khái niệm trên theo tôi: “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành thuận lợi và đạt được mục tiêu đề ra.