Giá trị biểu đạt của từ láy trong thơ Tố Hữu từ năm 1937 đến năm 1961

Tài liệu nghiên cứu Giá trị biểu đạt của từ láy trong thơ tố hữu từ năm 1937 đến năm 1961, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

2014

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá bí quyết dùng từ láy trong thơ Tố Hữu 1937 1961

Tố Hữu, lá cờ đầu của thơ cách mạng Việt Nam, đã để lại một di sản văn học đồ sộ. Thơ ông không chỉ là tiếng nói của lịch sử, của lý tưởng, mà còn là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ. Trong đó, nghệ thuật sử dụng từ láy là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên phong cách thơ Tố Hữu độc đáo. Giai đoạn 1937-1961, qua ba tập thơ tiêu biểu là tập thơ Từ ấy, tập thơ Việt Bắctập thơ Gió lộng, Tố Hữu đã cho thấy sự tài hoa trong việc vận dụng lớp từ vựng giàu sức gợi của dân tộc. Việc phân tích tác phẩm Tố Hữu qua lăng kính từ láy giúp làm sáng tỏ những tầng ý nghĩa sâu sắc, những rung cảm tinh tế mà nhà thơ gửi gắm. Từ láy trong thơ ông không chỉ đơn thuần là công cụ miêu tả mà còn là phương tiện biểu đạt cảm xúc, tạo ra tính nhạc trong thơ và khắc họa đậm nét tính dân tộc. Nghiên cứu này sẽ đi sâu vào việc giải mã cách Tố Hữu biến những từ láy quen thuộc thành những “nhãn tự” đắt giá, góp phần định hình một phong cách thơ trữ tình - chính trị đặc sắc, có sức lay động mãnh liệt qua nhiều thế hệ.

1.1. Vai trò của từ láy trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu

Trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu, từ láy đóng một vai trò không thể thay thế. Chúng là phương tiện hữu hiệu để cụ thể hóa những trạng thái cảm xúc, những hình ảnh và âm thanh của đời sống cách mạng. Không giống như nhiều nhà thơ khác, Tố Hữu sử dụng từ láy một cách tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng, nhưng lại đạt đến hiệu quả nghệ thuật cao. Từ láy giúp thơ ông vượt qua tính công thức, ước lệ, trở nên sống động và biểu cảm hơn. Chúng góp phần quan trọng trong việc thể hiện cảm hứng lãng mạn cách mạng, biến những sự kiện chính trị khô khan thành những vần thơ chan chứa tình cảm. Hơn nữa, từ láy còn là yếu tố tạo nên nhịp điệu, vần điệu, làm cho thơ Tố Hữu giàu chất nhạc, dễ đi vào lòng người và dễ nhớ, dễ thuộc, xứng đáng với danh xưng nhà thơ của nhân dân.

1.2. Đặc trưng phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu qua ba tập thơ

Giai đoạn 1937-1961 đánh dấu những chặng đường quan trọng trong sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu, tương ứng với ba tập thơ lớn. Tập thơ Từ ấy (1937-1946) ghi lại niềm hân hoan, say mê của một thanh niên khi bắt gặp lý tưởng cộng sản, với những từ láy trong trẻo, sôi nổi. Tập thơ Việt Bắc (1946-1954), trái tim của thơ ca kháng chiến chống Pháp, lại trầm lắng, đằm thắm hơn, sử dụng từ láy để thể hiện tình quân dân, nỗi nhớ và sự gian khổ nhưng hào hùng của cuộc chiến. Sang tập thơ Gió lộng (1955-1961), cảm hứng thơ lại chuyển sang ngợi ca cuộc sống mới, với những từ láy thể hiện sự vui tươi, phơi phới, tin tưởng vào tương lai. Sự biến chuyển trong cách dùng từ láy qua ba tập thơ cho thấy sự vận động trong tư tưởng và bút pháp Tố Hữu, luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc.

II. Giá trị biểu cảm của từ láy Chìa khóa giải mã thơ Tố Hữu

Sức hấp dẫn trong thơ Tố Hữu phần lớn đến từ giá trị biểu cảm của từ láy. Ông không dùng từ láy một cách ngẫu nhiên mà luôn có sự chọn lọc tinh tế để đạt được mục đích nghệ thuật cao nhất. Mỗi từ láy được đặt đúng chỗ, đúng lúc, có khả năng gợi mở cả một không gian hình ảnh, âm thanh và tâm trạng. Chúng không chỉ miêu tả sự vật ở bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất, thổi hồn vào cảnh vật và con người, làm cho bức tranh thơ trở nên có chiều sâu. Hiểu được cách Tố Hữu phân loại từ láy và vận dụng chúng chính là nắm được chìa khóa để giải mã những tầng nghĩa ẩn sau câu chữ. Từ những từ láy đơn sơ, mộc mạc, Tố Hữu đã kiến tạo nên một thế giới thơ ca vừa đậm đà tính dân tộc, vừa mang tầm vóc của khuynh hướng sử thi, phản ánh chân thực và sinh động những giai đoạn lịch sử hào hùng của đất nước. Đây chính là một trong những đặc sắc nghệ thuật thơ Tố Hữu.

2.1. Phân loại từ láy Từ láy tượng hình và từ láy tượng thanh

Tố Hữu khai thác triệt để hai dạng chính của từ láy là từ láy tượng hìnhtừ láy tượng thanh. Các từ láy tượng hình như “lom khom”, “mỏng mảnh”, “thăm thẳm”, “loắt choắt” không chỉ vẽ ra hình dáng, đường nét mà còn thể hiện được cả trạng thái, tình cảm của đối tượng. Ví dụ, hình ảnh bà má “lom khom” đi lượm củi vừa gợi dáng vẻ già nua, vất vả, vừa ẩn chứa sức sống bền bỉ. Trong khi đó, các từ láy tượng thanh như “xạc xào”, “rầm rập”, “ríu rít”, “sằng sặc” lại mô phỏng âm thanh cuộc sống một cách chân thực. Tiếng gió “xạc xào” không chỉ là âm thanh tự nhiên mà còn là tiếng lòng của người mẹ nhớ con. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai loại từ láy này tạo nên một không gian thơ đa chiều, tác động mạnh mẽ đến giác quan của người đọc.

2.2. Sức mạnh tạo hình và tính nhạc độc đáo trong thơ

Giá trị tạo hình của từ láy trong thơ Tố Hữu là không thể phủ nhận. Những từ như “mủm mỉm”, “nhầy nhụa”, “run rẩy” có sức mạnh như những nét vẽ tài tình, khắc họa chân dung con người và cảnh vật một cách sắc nét. Bên cạnh đó, Tố Hữu còn là bậc thầy trong việc tạo ra tính nhạc trong thơ. Việc sử dụng từ láy, đặc biệt là láy vần và láy thanh, đã tạo nên một dòng chảy âm thanh du dương, trầm bổng, khiến thơ ông vừa như một lời tâm tình, vừa như một khúc hát. Nhịp điệu của những từ láy như “bâng khuâng”, “man mác”, “phảng phất” góp phần diễn tả những cung bậc cảm xúc tinh tế, làm cho cảm xúc của nhà thơ dễ dàng lan tỏa và thấm sâu vào tâm hồn người đọc, tạo nên một hiệu quả nghệ thuật đặc biệt.

III. Phân tích cách dùng từ láy trong tập thơ Từ ấy 1937 1946

Trong tập thơ Từ ấy, Tố Hữu đã sử dụng từ láy như một phương tiện đắc lực để thể hiện niềm vui sướng, hân hoan của một tâm hồn trẻ tuổi khi tìm thấy lý tưởng cách mạng. Đây là giai đoạn thơ tràn đầy nhiệt huyết và cảm hứng lãng mạn cách mạng. Các từ láy được sử dụng mang sắc thái tươi sáng, sôi nổi, thể hiện khát vọng hòa mình vào cuộc đời chung của dân tộc. Không chỉ vậy, bút pháp Tố Hữu còn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với những kiếp người lầm than, nghèo khổ trong xã hội cũ. Ông dùng từ láy để khắc họa những số phận, những cảnh đời một cách chân thực đến đau xót. Qua đó, người đọc thấy được một Tố Hữu với trái tim nhân ái và lập trường giai cấp rõ rệt. Những vần thơ trong Từ ấy là minh chứng cho thấy ngay từ những sáng tác đầu tay, Tố Hữu đã nắm vững và phát huy cao độ giá trị của ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là sức mạnh của từ láy.

3.1. Từ láy thể hiện tình yêu và lý tưởng cách mạng

Khi bắt gặp lý tưởng của Đảng, tâm hồn Tố Hữu dạt dào cảm xúc. Ông muốn được gần gũi với “bao hồn khổ” để “thêm mạnh khối đời”. Từ láy “gần gũi” thể hiện một quan hệ thân mật, gắn bó máu thịt, chứ không phải một sự gần gũi đơn thuần. Khi đó, tâm hồn nhà thơ rạo rực, lắng nghe cuộc sống bên ngoài náo nức, ríu rít. Những từ láy này diễn tả một không khí hăng hái, sôi động, một niềm vui lớn lao khi cá nhân được hòa vào cái ta chung của cộng đồng. Cái tôi cá nhân không còn cô đơn, lạc lõng mà đã tìm thấy lẽ sống cao đẹp. Đây chính là biểu hiện rõ nét của cảm hứng lãng mạn cách mạng, một đặc điểm nổi bật trong thơ Tố Hữu giai đoạn này.

3.2. Bút pháp Tố Hữu miêu tả thân phận con người lầm than

Bên cạnh niềm vui lý tưởng, Tố Hữu cũng dành nhiều vần thơ để nói về những số phận bất hạnh. Hình ảnh hai đứa trẻ trong bài thơ cùng tên là một ví dụ điển hình. Đứa con nhà chủ thì “xinh tròn mủm mỉm, còn đứa con người làm thuê thì ghèn nhầy nhụa. Hai từ láy tương phản đã lột tả sự đối lập giai cấp một cách sâu sắc. Hay bàn tay ông lão đan rỗ thì “khô lẩy bẩy, theo điệu buồn run rẩy. Những từ láy này không chỉ có giá trị tạo hình mà còn mang nặng giá trị biểu cảm, thể hiện sự xót thương, đồng cảm của nhà thơ. Tố Hữu đã dùng chính những con chữ bình dị để tố cáo xã hội bất công, thể hiện một tinh thần nhân đạo cộng sản sâu sắc. Đây là đặc sắc nghệ thuật thơ Tố Hữu trong việc dùng ngôn ngữ để phản ánh hiện thực.

IV. Hiệu quả nghệ thuật của từ láy trong tập thơ Việt Bắc

Tập thơ Việt Bắc được coi là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp và là một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp của Tố Hữu. Trong tập thơ này, nghệ thuật sử dụng từ láy được nâng lên một tầm cao mới, vừa mang đậm tính dân tộc, vừa thể hiện rõ khuynh hướng sử thi. Từ láy không còn mang nhiều sắc thái sôi nổi, bay bổng như trong Từ ấy mà trở nên đằm thắm, sâu lắng hơn. Chúng được dùng để khắc họa vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc, tái hiện những năm tháng gian khổ mà hào hùng, và đặc biệt là thể hiện tình cảm quân dân keo sơn, gắn bó. Hiệu quả nghệ thuật của từ láy trong Việt Bắc nằm ở chỗ chúng có khả năng diễn tả những cung bậc tình cảm tinh tế nhất: nỗi nhớ nhung da diết, tình thương mến sâu nặng và niềm tin son sắt vào ngày chiến thắng. Phân tích tác phẩm Tố Hữu không thể bỏ qua giá trị của những từ láy đã làm nên linh hồn cho tập thơ này.

4.1. Tạo dựng khuynh hướng sử thi qua ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh

Khuynh hướng sử thi trong Việt Bắc được thể hiện qua việc tái hiện những sự kiện lớn của dân tộc bằng một ngôn ngữ trang trọng, hào hùng. Từ láy góp phần tạo nên tầm vóc cho những hình ảnh thơ. Cảnh đoàn quân ra trận được miêu tả bằng những từ như rầm rập (“Quân đi điệp điệp trùng trùng / Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”), gợi tả sức mạnh dời non lấp biển của cả dân tộc. Con đường hành quân gian khổ được khắc họa qua từ thăm thẳm, khúc khuỷu. Những từ láy này không chỉ mô tả địa hình hiểm trở mà còn thể hiện ý chí vượt khó của người lính. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, kết hợp với giọng điệu hào sảng, đã biến những câu chuyện của cuộc kháng chiến thành một bản anh hùng ca bất hủ.

4.2. Khắc họa tình quân dân qua những từ láy giàu cảm xúc

Tình quân dân là cảm hứng chủ đạo của Việt Bắc. Tố Hữu đã dùng những từ láy hết sức tinh tế để diễn tả mối tình sâu nặng này. Nỗi nhớ trong lòng người đi và người ở được thể hiện qua những từ như bâng khuâng, bồn chồn. Lời dặn dò của người ở lại dành cho người ra đi thì tha thiết (“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...”). Những từ láy này thể hiện những trạng thái tình cảm không thể nói hết bằng lời, thấm đẫm ân tình cách mạng. Giá trị biểu cảm của từ láy ở đây đã vượt qua chức năng miêu tả thông thường để trở thành phương tiện biểu đạt chiều sâu tâm hồn, làm cho những vần thơ về tình quân dân trở nên chân thật, cảm động và sống mãi với thời gian.

V. Đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ Từ láy trong tập thơ Gió lộng

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tập thơ Gió lộng ra đời trong bối cảnh đó, mang một cảm hứng mới: ngợi ca cuộc sống lao động, thể hiện niềm vui và niềm tin vào tương lai đất nước. Nghệ thuật sử dụng từ láy trong giai đoạn này cũng có sự thay đổi rõ rệt. Ngôn ngữ thơ Tố Hữu trở nên khoáng đạt, bay bổng hơn, phản ánh không khí hồ hởi của thời đại mới. Các từ láy thường mang sắc thái tích cực, trong sáng, tràn đầy năng lượng. Chúng góp phần vẽ nên những bức tranh lao động đầy nhiệt huyết, những hình ảnh về con người mới xã hội chủ nghĩa và thể hiện tình cảm sâu sắc với miền Nam ruột thịt. Bút pháp Tố Hữu trong Gió lộng cho thấy sự trưởng thành trong tư duy nghệ thuật, khả năng làm chủ ngôn từ và biến những vấn đề chính trị, xã hội thành những vần thơ lay động lòng người.

5.1. Thể hiện niềm vui xây dựng xã hội chủ nghĩa hăng say

Không khí lao động xây dựng đất nước được Tố Hữu miêu tả bằng những từ láy đầy sức sống. Đó là niềm vui rộn ràng trên những công trường, là khí thế hăm hở của những người thợ. Trong bài Ta đi tới, nhà thơ đã vẽ nên một viễn cảnh tương lai tươi sáng, nơi cuộc sống phơi phới niềm vui. Những từ láy này không chỉ mô tả không khí xã hội mà còn thể hiện được tinh thần lạc quan, yêu đời của con người thời đại mới. Chúng tạo ra một âm hưởng vui tươi, khỏe khoắn cho toàn bộ tập thơ, phản ánh đúng tinh thần của giai đoạn lịch sử mà tập thơ ra đời, khẳng định vai trò tiên phong của thơ cách mạng Việt Nam.

5.2. Ngôn ngữ thơ Tố Hữu và cảm hứng hướng về miền Nam

Bên cạnh niềm vui xây dựng miền Bắc, Gió lộng còn thể hiện nỗi nhớ thương và niềm tin sắt đá hướng về miền Nam đang trong cuộc đấu tranh thống nhất. Ngôn ngữ thơ Tố Hữu khi viết về miền Nam trở nên da diết, sâu lắng. Nỗi nhớ được thể hiện qua những từ như khắc khoải, thiết tha. Tình cảm Bắc - Nam được ví như tình cảm gia đình ruột thịt, không gì chia cắt nổi. Việc sử dụng các từ láy giàu sắc thái biểu cảm đã giúp Tố Hữu thể hiện thành công những tình cảm lớn của thời đại: tình yêu quê hương đất nước, khát vọng hòa bình và thống nhất. Chính điều này đã tạo nên sức sống lâu bền cho những vần thơ trong tập thơ Gió lộng.

VI. Kết luận Di sản nghệ thuật dùng từ láy của nhà thơ Tố Hữu

Qua ba tập thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Tố Hữu đã khẳng định mình là một bậc thầy trong việc sử dụng từ láy. Ông không chỉ kế thừa vốn từ vựng quý báu của dân tộc mà còn sáng tạo, nâng chúng lên một tầm cao nghệ thuật mới. Từ láy trong thơ ông là sự kết tinh của tính dân tộc và tinh thần thời đại, là cầu nối giữa thơ ca và đời sống, giữa nghệ thuật và cách mạng. Việc phân tích tác phẩm Tố Hữu qua khía cạnh từ láy không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về phong cách thơ Tố Hữu mà còn mang lại những bài học quý giá về việc trân trọng và vận dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng tác văn học. Di sản nghệ thuật dùng từ láy của ông sẽ còn là đối tượng nghiên cứu và học hỏi cho nhiều thế hệ mai sau, góp phần làm giàu thêm cho kho tàng văn học Việt Nam hiện đại.

6.1. Đóng góp vào sự phát triển của thơ cách mạng Việt Nam

Nghệ thuật sử dụng từ láy của Tố Hữu đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của thơ cách mạng Việt Nam. Ông đã chứng minh rằng thơ ca chính trị hoàn toàn có thể đạt đến đỉnh cao nghệ thuật nếu biết chắt lọc và phát huy vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc. Thơ ông vừa có sức chiến đấu mạnh mẽ, vừa giàu chất thơ, có khả năng truyền tải những tư tưởng lớn lao qua những hình thức biểu đạt gần gũi, dung dị. Bằng cách làm giàu cho ngôn ngữ thơ, Tố Hữu đã mở đường cho nhiều nhà thơ cách mạng thế hệ sau, khẳng định sức sống và khả năng biểu đạt vô tận của tiếng Việt.

6.2. Bài học về vận dụng ngôn ngữ và giữ gìn bản sắc dân tộc

Thành công của Tố Hữu trong việc sử dụng từ láy là một bài học sâu sắc về tầm quan trọng của việc bám rễ vào cội nguồn ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Ông đã cho thấy, để sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị, người nghệ sĩ cần phải am hiểu và trân trọng từng con chữ của cha ông. Việc vận dụng tài tình từ láy chính là một biểu hiện của việc giữ gìn bản sắc tính dân tộc trong văn học. Đặc sắc nghệ thuật thơ Tố Hữu không chỉ nằm ở nội dung tư tưởng mà còn ở hình thức nghệ thuật đậm đà bản sắc, một bài học quý giá cho những người cầm bút hôm nay và mai sau.

03/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA NGỮ VĂN BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ TỐ HỮU TỪ NĂM 1937 ĐẾN NĂM 1961 Sinh viên thực hiện: HUỲNH THANH TUYỀN HUỲNH THANH THẢO Lớp: D12NV02 Khóa: 2012 – 2014 Giảng viên HD: TS.NGUYỄN HOA PHƯƠNG Bình Dương, ngày 11 tháng 04 năm 2014 2 UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Thông tin chung: - Tên đề tài: GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ Tố HỮU TỪ NĂM 1937 ĐẾN NĂM 1961 - Sinh viên thực hiện: Huỳnh Thanh Tuyền Huỳnh Thanh Thảo - Lớp: D12NV02 Khoa: Ngữ Văn Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4 - Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hoa Phương 2. Mục tiêu đề tài: Nghiên cứu đề tài “Giá trị của từ láy trong thơ Tố Hữu từ năm 1937 đấn năm 1961”, chúng tôi muốn đạt tới mục đích sau: - Khảo sát tất cả các từ láy có trong ba tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc” và “Gió lộng” của Tố Hữuphân tích giá trị các từ láy mà tác giả đã dùng trong các tác phẩm của mình. - Thông qua phân tích giá trị của từ láy trong những tác phẩm sẽ giúp người đọc nắm bắt được nội dung tác phẩm dễ dàng hơn. Từ đó, người đọc thấy được tài năng sử dụng từ ngữ của tác giả và khẳng định thành công của Tố Hữu trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc (từ láy) để sáng tác thơ ca. Tính mới và sáng tạo: Tiếp cận thơ Tố Hữu ở khía cạnh từ láy. Đặt việc giải thích ngữ nghĩa thơ Tố Hữu bằng việc so sánh việc sử dụng từ láy trong thơ Tố Hữu với các nhà thơ khác. Nghiên cứu đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu, cụ thể là thông qua từ láy 4. Kết quả nghiên cứu: 3 Thơ Tố Hữu kết hợp một cách tự nhiên ba chủ đề: ngợi ca lẽ sống cao đẹp của người cách mạng, diễn tả niềm vui hướng về tương lai xã hội chủ nghĩa, thể hiện những cảm nghĩ ân tình thủy chung. Ba chủ đề trên, thật ra vẫn có một cơ sở thống nhất là lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Trong ba tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc và Gió lộng, nhà thơ thể hiện sự tài hoa của mình trên nhiều phương diện của nghệ thuật sáng tạo thi ca, đặc biệt là việc sử dụng khéo léo, thích hợp từ láy. Có thể nói Tố Hữu sử dụng từ láy mang nhiều biểu hiện sắc thái khác nhau chẳng hạn như: biểu hiện âm thanh (ù ù, rầm rập, ríu rít, xạc xào…); biểu hiện màu sắc, hình ảnh (rực rỡ, chói lọi,…); biểu hiện hành động, trạng thái, tính chất (bồn chồn, hể hả, vòi vọi, loắt choắt, thoăn thoắt, …). Từ láy do Tố Hữu sử dụng đa phần là để tả hành động, chứa đựng trong đó là những tầng ý nghĩa hết sức đa dạng và phong phú. Nhà thơ không dùng những từ láy có cảm giác mạnh mà đa phần những từ được ông dùng tạo cảm giác nhẹ nhàng nhưng đầy ẩn ý. Trong mỗi cách dùng của Tố Hữu không chỉ đơn thuần là tả hay phô bày tài năng tác giả mà mang những phần chìm buộc người đọc phải ngẫm nghĩ để tìm ra đáp án. Nét đặc sắc chính là tâm trạng nhân vật được gửi gắm vào trong. Trong tập thơ Từ ấy, từ láy Tố Hữu sử dụng mang cảm xúc hân hoan, háo hức phù hợp với giai đoạn tác giả phát hiện ra lí tưởng Đảng, phát hiện ra con đường đi đúng đắng dành cho mình. Từ láy trong tập thơ Việt Bắc lại lột tả sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những người lính nơi chiến trường, những người vợ, người mẹ ở quê nhà. Sang tập thơ Gió lộng, cảm hứng tác giả đưa vào những từ láy là tinh thần vui sướng, hạnh phúc trước những thắng lợi của nước nhà và ước mơ vào một Việt Nam giàu mạnh, phát triển hơn. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội,giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài: * Về lí luận: Nghiên cứu từ láy trong thơ Tố Hữu góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách thơ Tố Hữu nhằm khẳng định tài năng “lá cờ đầu thơ ca cách mạng”. Đồng thời, xác định giá trị của phương thức láy trong sự phát triển thơ ca đương đại. 4 * Về thực tiễn: Từ việc khẳng định những đặc sắc của từ láy trong thơ Tố Hữu, thấy được những đặc sắc trong sáng tác của nhà thơ. Nó còn góp phần thúc đẩy việc tìm hiểu các tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm ở cấp độ từ ngữ. Có thể sử dùng làm tài liệu cho những việc sau: - Tham khảo khi nghiên cứu thơ Tố Hữu. - Nghiên cứu vế từ láy. - Học tập giảng dạy về thơ Tố Hữu. - Nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu. - Tham khảo trong việc so sánh thơ Tố Hữu với các nhà thơ khác và ngược lại. Ngày 11 tháng 04năm 2014 Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài (ký, họ và tên) Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi): . Ngày tháng năm Xác nhận của lãnh đạo khoa Người hướng dẫn (ký, họ và tên) (ký, họ và tên) UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 5 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN: Ảnh 4x6 Họ và tên: Huỳnh Thanh Tuyền Sinh ngày: 23 tháng 04 năm 1994 Nơi sinh: Sông Bé Lớp: D12NV02 Khóa: 2012- 2014 Khoa: Ngữ Văn Địa chỉ liên hệ: 334/12 Ấp 2 Tân Định Bến Cát Bình Dương Điện thoại: 01694711087 Email: thanhtuyenhuynh2304@gmail. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học): * Năm thứ 1: Ngành học: Sư phạm ngữ văn Khoa: Ngữ văn Kết quả xếp loại học tập:Khá Sơ lược thành tích:là bí thư chi Đoàn D12NV02 * Năm thứ 2: Ngành học: Sư phạm ngữ văn Khoa: Ngữ văn Kết quả xếp loại học tập: Khá Sơ lược thành tích:là bí thư chi Đoàn D12NV02 Ngày tháng năm Xác nhận của lãnh đạo khoa Sinh viên chịu trách nhiệm chính (ký, họ và tên) thực hiện đề tài (ký, họ và tên) DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6 STT Họ và tên MSSV Lớp Khoa 1 Huỳnh Thanh Thảo D12NV02 Ngữ Văn 7 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN . 8 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN . 9 MỤC LỤC Trang MỤC LỤC 9 MỞ ĐẦU 11 LỜI CÁM ƠN 14 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 15 NỘI DUNG 21 Chương 1: Cơ sở lý luận 22 1.1 Từ láy tiếng việt 22 1.1 Khái niệm từ láy 22 1.2 Cấu tạo từ láy 22 1.3 Phân loại từ láy 22 1.1Số lần tác động của phương thức láy 23 1.2Phân chia từ láy đôi dựa vào cái được giữ lại trong âm tiết củahình vị cơ sở 24 1.3Sự thay đổi trật tự trước sau của hình vị cơ sở so với hình vị láy 24 1.1Từ láy toàn bộ 25 1.4 Những điều cần chú ý về từ láy 28 1.1Quy tắc chuyển hóa thanh điệu trong các từ láy đôi theo hai nhóm thanh 28 10 1.2Quy tắc láy đôi về âm thanh và thanh điệu song cả 2 âm tiết đều có nghĩa 28 1.3Những từ 2 âm tiết phù hợp với quy tắc láy cả về âm và về thanh, song cả hai âm tiết đều không có nghĩa 29 1.5Ý nghĩa của từ láy 30 1.1 Nghĩa tổng hợp khái quát 30 1.2 Nghĩa sắc thái hóa 30 1.3 Nghĩa của các khuôn vần láy 32 1.4Nghĩa của các từ láy tư 33 1.2Giới thiệu chung về các tập thơ 34 1.3 Gió lộng (1955 – 1961) 34 Chương 2: Phân tích giá trị trong ba tập thơ Từ ấy, Việt Bắc và Gió lộng của Tố Hữu 36 2.1 Tập Thơ Từ ấy (1937 – 1946) 36 2.2 Tập thơ Việt Bắc (1946 – 1954) 54 2.3 Tập thơ Gió lộng (1955 – 1961) 64 KẾT LUẬN 74 PHỤ LỤC 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 11 LỜI MỞ ĐẦU Từ xưa đến nay, văn học Việt Nam đã phát triển theo nhiều phương thức đặc biệt, không chỉ riêng về hình thức nghệ thuật mà các sáng tác còn phát triển dựa trên sự cấu tạo của ngôn ngữ. Trong các hình thức của ngữ âm thì láy là một phương thức cấu tạo từ đặc sắc, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng cho kho từ vựng tiếng Việt. Từ láy trong thơ có chức năng hạn chế tính công thức ước lệ, làm cho câu thơ trở nên biểu cảm hơn, đậm tính dân tộc hơn và góp phần thể hiện phong cách tác giả. Bên cạnh đó, từ láy còn tạo nhạc tính cho câu thơ và diễn đạt một cách chính xác sự vật và cảm xúc con người. Từ láy mang đến những giá trị nhất định cho mỗi câu thơ, đồng thời gợi lên rất nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Trong nền văn học Việt Nam đã có rất nhiều nhà thơ sử dụng thành công từ láy trong các sáng tác của mình. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chúng tôi xin được thu hẹp phạm vi nghiên cứu trong các sáng tác thơ Tố Hữu. Thơ Tố Hữu thực sự trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn Việt Nam.Từ già đến trẻ, người Việt Nam hầu như chẳng có ai là không thuộc lòng, không yêu thích ít nhiều thơ Tố Hữu. Nếu lấy mức độ phổ cập, sức mạnh chinh phục trái tim quần chúng nhân dân làm thước đo tầm vóc tiếng thơ thì thơ Tố Hữu có thể sánh với bất cứ nhà thơ lớn nào có trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Trong nghành nghiên cứu văn học Việt Nam hiện nay, sau mảng thơ văn của chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu là đề tài có nhiều thành tựu đáng kể. Các công trình phê bình, giới thiệu của các nhà văn, nhà thơ như: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông… các chuyên luận và các nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh…đã đề cập đến nhiều mặt quan trọng khác nhau của thơ Tố Hữu. Thơ Tố Hữu là một nguồn mạch quan trọng tạo nên khuôn mặt đẹp của thơ ca Việt Nam hiện đại.Trên nửa thế kỉ qua, nhân dân ta từ trong vòng nô lệ đã quật khởi vùng lên dành chính quyền thắng lợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ