MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi là ngành giữ vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Chăn nuôi đảm bảo vai trò cung cấp thực phẩm có chất lượng cao như thịt, trứng, sữa,. cho con người, nguồn sức kéo, phân bón hữu cơ sản xuất, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, góp phần quan trọng giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải tiện đời sống cho hàng triện hộ nông dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu không chỉ ở nước ta mà cả ở nhiều nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, chăn nuôi lợn chiếm trên 60% tổng đàn gia súc nuôi các loại và cung cấp trên 75% sản lượng thịt hơi cho nhu cầu thực phẩm thịt của người dân. Tuy vậy, chăn nuôi lợn Việt Nam đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong điều kiện hội nhập quốc tế. Do đó, việc ngoài yếu tố về con giống, kỹ thuật cần phải đẩy mạnh cơ cấu lại phương thức nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, đáp ứng yêu cầu thị trường, phát huy lợi thế sinh thái từng vùng, miền trên cơ sở định hướng chính sách làm điểm tựa vững chắc cho chăn nuôi lợn phát triển bền vững. Mặc dù chăn nuôi lợn nước ta đã có những bước tiến bộ nhất định so với tốc độ phát triển của các nước trong khu vực nhưng vẫn thấp so với trên thế giới và thịt lợn hiện đang là nguồn thịt chủ yếu, được tiêu thụ rất nhiều tại các quốc gia châu Á.
Do đó, gần như chắc chắn khả năng virus gây bệnh tả lợn sẽ xâm nhập vào các nước khác trong khu vực và lây lan nhanh chóng.Tại Việt Nam từ đầu năm 2022 đến nay, bệnh dịch tả heo châu Phi xảy ra tại hơn 840 xã thuộc 246 huyện của 48 tỉnh, thành phố, số heo tiêu hủy hơn 41. Hiện nay, cả nước có 117 ổ dịch tại 49 huyện của 16 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày và vẫn diễn biến rất phức tạp gây ra rất nhiều ảnh hưởng cũng như là thiệt hại cho bà con chăn nuôi. Từ đó cho ta thấy những nghiên cứu về đề tài dịch tả lợn Châu 1 Phi là rất cần thiết từ đó đưa ra cách phòng ( chữa ) bệnh và hướng đi cho bà con nông dân. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI SỐNG SÓT SAU DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI NUÔI TẠI KHU 1 TRANG TRẠI LONG THUỶ, HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái F1 (LxY) và Du x (L x Y) sống sót sau dịch tả lợn châu Phi tại trại Long Thủy 1. Yêu cầu - Theo dõi thu thập số liệu đầy đủ và chính xác các chỉ tiêu có liên quan đến khả năng sinh sản của lợn nái F1 (LxY) và Du x (L x Y) nuôi tại cơ sở. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Một số thông tin về dịch tả lợn Châu Phi 2.1Nguồn gốc Năm 1921: Dịch tả lợn Châu Phi lần đầu tiên xuất hiện tại Kenya (châu Phi).
Năm 1957: Dịch tả lợn châu Phi lần đầu được phát hiện và báo cáo tại châu Âu. Năm 2007: Dịch được phát hiện ở Armenia. Năm 2008: Azerbaijan bắt đầu có heo nhiễm bệnh. Từ cuối năm 2017 - 2018, đã có 12 quốc gia báo cáo có lợn nhiễm dịch tả châu Phi, bao gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Tiệp Khắc, Hungary, Latvia, Moldova, Phần Lan, Rumani, Nam Phi, Ukraine và Zambia.
Vào tháng 8/2018: Dịch tả lợn Châu Phi lần đầu xuất hiện ở Trung Quốc. Đã có hàng triệu con lợn nhiễm bệnh đã bị tiêu hủy tại quốc gia này. Còn tại Việt Nam, tỉnh Hưng Yên là nơi đầu tiên phát hiện ra ổ dịch. Tính đến nay, số liệu báo cáo của Bộ Nông nghiệp cho biết, dịch tả heo châu Phi đã có mặt tại 2.296 xã, 204 huyện của 29 tỉnh, với tổng số heo mắc bệnh và phải tiêu hủy lên đến hơn 1,2 triệu con, chiếm hơn 4% tổng đàn heo của cả nước.2 Một số đặc điểm của dịch tả Châu Phi Bệnh Dịch tả lợn châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever – viết tắt là ASF) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra.
Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh trên loài lợn (gồm cả lợn nhà và lợn hoang dã); bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và mọi loại lợn. Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Vi rút Dịch tả lợn châu Phi có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, giăm bông, salami. Vi rút có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc 3 biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao nên vi rút có thể chịu được trong thời gian dài 3 - 6 tháng; vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C trong 70 phút hoặc ở 60°C trong 20 phút.
Vi rút sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50°C tồn tại trong 3 giờ. Lợn khỏi bệnh về lâm sàng có khả năng mang vi rút trong thời gian dài và có thể trở thành vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh Dịch tả lợn châu Phi. - Bệnh Dịch tả lợn châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3 - 15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3 - 4 ngày. - Vi rút Dịch tả lợn châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và ăn thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn.3 Triệu chứng,bệnh tích của dịch tả Châu Phi a.
Chẩn đoán lâm sàng - Lợn bị nhiễm Dịch tảlợnchâu Phi có nhiều triệu chứng,tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh.Lợn bệnhbiểu hiệncáctriệu chứng không khác biệt so vớitriệu chứng của bệnhDịch tảlợncổ điển (đã và đang có tại ViệtNam).Do đó, việc chẩn đoán Dịch tảlợnchâu Phikhó có thểthể xác địnhvà phân biệtđược bằng các triệu chứnglâm sàng;cần lấy mẫu gửi phòng thí nghiệm đểxét nghiệm phát hiện vi rút Dịch tả lợn châu Phi. - Thể quá cấp tính là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết. - Thể cấp tính là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40, 5 - 42°C). Trong 2 - 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.
Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng 4 chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím. Trong 1 - 2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu. Lợn sẽ chết trong vòng 6 - 13 hoặc 20 ngày.
Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ tử chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút Dịch tả lợn châu Phi trong suốt cuộc đời. - Thể á cấp tính gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình.
Chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiêm trọng. Lợn sốt nhẹhoặc sốt lúc tăng lúc giảm,giảm ăn, sụt cân,ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bội nhiễm vi khuẩn kế phát,viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài5 - 30 ngày,nếu máu ứ trong tim(cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết,lợnmang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng15 - 45 ngày, tỉ lệ chết khoảng30 - 70 %. Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính.
- Thể mãn tínhgây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ởAngolavà châu Âu. Lợn có nhiều triệu chứng khác nhau, chẳng hạn như giảm cân, sốt không ổn định, có triệu chứng hô hấp, hoại tử da, hoặc viêm loét da mãn tính, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm phổi dính sườn, viêm các khớp khác nhau trong giai đoạn phát triển. Triệu chứng kéo dài 2 - 15 tháng, có tỷ lệ tử vong thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh sẽ trở thành dạng mãn tính. Bệnh tích -Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận.
Thận có xuất huyết điểm,lá lách to có nhồi huyết.Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản,bàng 5 quangvàbề mặt các cơ quan bên trong;phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và phần tiếp giáp với túi mật, túi mật sưng. -Thể mãn tính:Có thể gặp sơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tửhạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi.4 Phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi Hiện nay chưa có vắc xin và thuốc điều trị được dịch tả lợn châu Phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính, phát hiện và xử lý triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan; Kiểm soát kiểm dịch nhập khẩu, kiểm soát vận chuyển lợn và chăn nuôi an toàn sinh học là các biện pháp chủ lực được các nước đã và đang áp dụng. Nguồn gốc, đặc điểm của các giống lợn landrace, yorkshire và duroc 2.
Giống lợn Landrace - Nguồn gốc: Đây là giống lợn có nguồn gốc từ Đan Mạch, được hình thành vào những năm 1924 – 1925, được tạo ra bằng cách cho lai giữa các giống Youtland Đức, giống Yorkshire Anh với các giống trắng địa phương của Đan Mạch.