Chương 1 CƠ Sở Lý Luận Về NĂNG Lực Thực Hiện Pháp Luật Về DÂN Chủ ở CƠ Sở Của Cán Bộ Chính Quyền Cấp Xã 1. Khái niệm, đặc điểm của năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cán bộ chính quyền cấp xã 1. Khái niệm năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cán bộ chính quyền cấp xã Muốn hiểu rõ khái niệm năng lực thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của của cán bộ chính quyền cấp xã trước hết phải tìm hiểu một số khái niệm sau: Một là, khái niệm năng lực để hoàn thành một nhiệm vụ, con người phải có một năng lực nhất định. Mỗi nhiệm vụ xác định phải có một năng lực nhất định, với những khả năng tương ứng.
để có thể xác định NLTHPL về DC ở CS của CBCQCX cần làm rõ một số vấn đề cơ bản của năng lực của con người nói chung. Với tư cách là một khái niệm, "năng lực" đã được nhiều ngành khoa học tiếp cận với những cấp độ và khía cạnh khác nhau, đem lại kết quả mang tính đặc trưng của mỗi ngành. Theo Từ điển tiếng Việt, năng lực là "khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó ở mức độ cao, hoặc năng lực được hiểu là những phẩm chất của con người tạo ra cho con người đó khả năng hoàn thành có kết quả một quá trình hoạt động nhất định" [38, tr. Năng lực còn được hiểu là "tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy" [22, tr.
Theo nghĩa thông thường, năng lực là khả năng thực tế mà con người có được thông qua trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn, tích lũy kinh 11 nghiệm, tự giáo dục và tự đào tạo để đáp ứng một yêu cầu nào đó của công việc được giao phó nhằm giải quyết những nhiệm vụ hay xử lý những tình huống đặt ra trong công tác, trong đời sống hằng ngày. Năng lực là khả năng của chủ thể hoạt động được sử dụng để đáp ứng những đòi hỏi của công việc, của đối tượng và khách thể đặt ra. Nó bao gồm một tập hợp các dấu hiệu hay những chỉ báo cho phép xác định trình độ của một người nào đó được gọi là người có năng lực, có khả năng làm việc, có khả năng lao động. Năng lực phải được hình dung một cách cụ thể ở những con người cụ thể.Về cơ bản, đó là người đã trưởng thành về mặt xã hội, định hình được tư cách công dân, vị thế xã hội, là một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách.
Tùy thuộc vào nghề nghiệp, vị thế xã hội, chức trách, bổn phận và những sắc thái riêng của từng cá nhân trong từng quan hệ xác định mà năng lực của con người có những hình thái (hình thức, dạng, kiểu, loại) biểu hiện những khả năng khác nhau một cách sinh động, tinh tế, đa dạng, phức tạp. Có thể khái quát những khả năng đó như sau: - Khả năng tư duy: đó là khả năng luôn có được những ý nghĩ chín chắn, sâu sắc đi đến nhận thức mới về đối tượng để tìm ra được những phương kế mới cho việc hoàn thành nhiệm vụ thực tiễn. để có tư duy sắc bén đòi hỏi chủ thể phải có khả năng tự hình thành cho mình một thế giới quan khoa học và một hệ thống phương pháp luận vững chắc về hoạt động chuyên biệt của mình trên cơ sở tự tiếp nhận những tri thức của nhân loại có liên quan đến đối tượng, xác lập quan điểm độc lập trước những vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau. Xác lập quan hệ giữa các loại tri thức khác nhau mà mình đã thâu thái được với đối tượng để có thể sử dụng độc lập từng loại tri thức hay kết hợp giữa chúng với nhau tác động vào đối tượng theo những yêu cầu của xã hội.
Đó còn là văn hóa tư duy biểu hiện ở văn hóa nghĩ, văn hóa nói, văn hóa viết; chúng trực tiếp giúp chủ thể có thể chuyển những "nguyên liệu" của 12 tư duy thành sản phẩm tư tưởng bằng sự phong phú của ngôn ngữ, chất lượng của diễn đạt, trình bày lập luận. Khả năng tư duy còn đòi hỏi đến sự ghi nhớ nhanh chóng, sâu sắc, bền vững và nhớ một cách sáng tạo của chủ thể. Người ta thường ví trí nhớ là sức khỏe của tư duy. - Khả năng quan sát thực tế: Quan sát thực tế là khả năng phát hiện ra những nhu cầu và tiềm năng của đời sống hiện thực, những vấn đề đang đặt ra đối với chủ thể; thấy được phương thức giải quyết vấn đề của hiện thực bằng những phương tiện được lựa chọn từ hiện thực đó.
Người có khả năng quan sát còn phải có khả năng cảm giác tốt "nghe" được những diễn biến nhỏ nhất, những biểu hiện tinh tế nhất của sự biến động, "thấy" được những dấu hiệu mờ nhạt nhất của sự kiện. đồng thời, còn có khả năng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhưng không rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm; biết lấy sự biến đổi trong đời sống hiện thực làm thước đo cho hiệu quả hoạt động của mình nhưng không rơi vào chủ nghĩa thực dụng. - Khả năng phát hiện tình huống: Phát hiện tình huống là khả năng đánh giá đúng thực trạng của những vấn đề gay cấn không bình thường, những việc ập đến bất ngờ đặt chủ thể trước sự thách thức; phát hiện được nguyên nhân của những tình huống đó, kịp thời đề ra được các phương án cùng những giải pháp xử lý một cách thỏa đáng. Khả năng này phụ thuộc vào tầm nhìn, vào sức khái quát, vào độ chính xác của sự dự báo xu hướng diễn biến của các sự kiện khác nhau trong đời sống hiện thực.
Nói một cách khái quát hơn, đó là năng lực phát hiện các mâu thuẫn sâu xa nội tại của những diễn biến phong phú và phức tạp ở bên ngoài đưa đến tình huống ấy.để làm được điều đó, đòi hỏi chủ thể phải có khả năng phân tích và tổng hợp các sự kiện khác nhau, biết sàng lọc thông tin. - Khả năng giao tiếp xã hội: Giao tiếp xã hội là khả năng hiểu biết con người, nhận biết được khả năng của người khác và có thể khai thác được lợi 13 thế của họ cho yêu cầu nhiệm vụ của mình. Biết cách làm việc với từng loại người, ứng xử đúng mực với từng mối quan hệ; biết "đối nhân xử thế". Không những biết đối xử chân thành và động viên, cổ vũ, khuyến khích, giúp đỡ những đồng nghiệp, các cộng sự mà còn phải biết bao dung, nhân ái, độ lượng đối với những người dưới quyền.
đồng thời, chẳng những biết học tập, tiếp thu, vận dụng những cái hay, cái tốt của người khác cho sự hoàn thiện của chính mình mà còn phải hết sức khiêm tốn khi thể hiện mình, nhất là trong những mối quan hệ phức tạp, tế nhị. - Khả năng am hiểu công việc: Am hiểu công việc là khả năng nắm vững nội dung của vấn đề với đầy đủ cơ sở khoa học của nó, xác định đúng thực chất những nhiệm vụ phải giải quyết, biết lựa chọn phương thức hành động với các phương pháp và hình thức cùng những biện pháp và phương tiện cụ thể để giải quyết các nhiệm vụ đó một cách có hiệu quả. Khả năng am hiểu công việc đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm thực tế phong phú, có kỹ xảo làm việc đạt đến mức thành thạo và kỹ năng xác lập phương thức hành động mới khi tình hình có nhiều biến đổi. Người như vậy được gọi là người tinh thông chuyên môn nghiệp vụ.
- Khả năng tổ chức triển khai: Khả năng này thể hiện ở chỗ: từ một ý đồ, một kết luận khoa học, một quyết định nào đó, con người có thể tổ chức triển khai thành chương trình hành động, thành kế hoạch thực thi trong đời sống xã hội bằng những hành động chuyên môn cụ thể. Tùy theo vị trí, nghề nghiệp, chức trách, thẩm quyền và thời điểm lịch sử cụ thể mà khả năng triển khai của mỗi người có sự đòi hỏi cao thấp về những khả năng xác định khác nhau. Nhưng, nhìn chung, khả năng triển khai của một người phải bao gồm các khả năng: nhận thức vấn đề, truyền đạt đến những đồng sự, tổ chức thành một thiết chế tổ chức, phối hợp nhiều loại hành động của nhiều người để giải 14 quyết vấn đề đó; đồng thời, còn điều chỉnh và xử lý được các vấn đề phát sinh. - Khả năng làm việc độc lập: Làm việc độc lập là khả năng có được tinh thần chủ động trong công việc, có thể tự hoạch định chương trình và trù tính kế hoạch hành động cho mình để thực hiện mục tiêu đã định mà không trông chờ hay nhờ vào sự " chỉ bảo " hay sự " viện trợ " của người khác; biết tìm cho mình con đường riêng với những phương thức hành động đặc thù trong tính phổ biến; tránh sáo mòn, dẫm lại những lối mòn của người khác một cách không cần thiết.
để có khả năng làm việc độc lập, con người không chỉ phải lao động bền bỉ, cần mẫn tìm tòi học hỏi với tinh thần trách nhiệm cao, có kỳ luật tự giác mà còn là lòng say mê, ham thích công việc với một sự năng nổ và tháo vát đối với công việc. - Khả năng phê phán: Phê phán là khả năng tự phê phán mình, biết tiếp nhận sự phê phán của người khác đối với mình và phê phán người khác. Tự phê phán là khả năng tự phản tỉnh của chủ thể để nhận ra những khuyết điểm và yếu kém, những sai lầm và thiếu sót của bản thân trong quá trình thừa hành nhiệm vụ; dám chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hậu quả do hành vi của mình gây ra. Biết lắng nghe, chân thành và dũng cảm tiếp nhận sự đóng góp của đồng nghiệp, của bạn bè, của tổ chức và của xã hội một cách tự nhiên.
Không những thế mà còn biết tìm ra con đường và những giải pháp tự hoàn thiện mình để không ngừng vươn lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.