CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Vị trí pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã 1. Vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân cấp xã Vị trí pháp lý của HĐND cấp xã là tổng hợp tất cả quy định pháp lý hiện hành về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp xã để xác lập vị trí pháp lý và thẩm quyền của mình trong tổ chức hoạt động. Xuất phát từ nguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước vốn dĩ thuộc về nhân dân, nhân dân thông qua việc sử dụng hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước của mình.
Vấn đề này được khẳng định trong Văn kiện Đảng và Hiến pháp, pháp luật. Theo quy định tại Điều 2 của Hiến pháp 2013: Nhà nước CHCNXH Việt Nam là nhà nước PQ XHCN của dân, do dân và vì dân. Nước CHCNXH Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng; Điều 6 của Hiến pháp 2013 cũng quy định rõ: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp và bằng hình thức dân chủ đại diện…[38]. Trong bài "Dân vận" đăng trên báo Sự thật, Bác Hồ đã viết: Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì nhân dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của nhân dân. Chính quyền từ xã tới Chính phủ Trung ương đều do nhân dân cử ra. Tóm lại, mọi quyền hành và lực lượng đều ở dân.698] Theo quy định của pháp luật hiện hành (Hiến pháp 2013; Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015), cấp chính quyền địa phương có cơ cấu bao gồm HĐND và UBND cùng cấp được tổ chức theo cấp hành chính.
Trong hệ thống HĐND các cấp, HĐND xã (xã, phường, thị trấn) nói chung và HĐND xã nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng, bởi vì đây là nơi gần dân, sát dân, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương; là nơi để người dân bày tỏ trực tiếp ý chí, nguyện 9 Luan van vọng của mình, đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân và là nơi trực tiếp quyết định các chủ trương và biện pháp quan trọng nhằm xây dựng và phát triển KT-XH, củng cố QP-AN ở địa phương. Với vai trò quan trọng của HĐND cấp xã nên ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát triển của HĐND; thiết chế HĐND xã đã được quy định trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, HĐND cấp xã nói chung, HĐND xã nói riêng đã khẳng định được vị trí, vai trò, trách nhiệm to lớn của mình, là tổ chức đại diện để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã hội. Kế thừa các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 tiếp tục khẳng định: HĐND là tổ chức thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho nguyện vọng, ý chí và quyền làm chủ của nhân dân, do cử tri và nhân dân địa phương bầu nên, chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên và nhân dân địa phương; HĐND quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương theo quy định của pháp luật. Như vậy, HĐND có vị trí, vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước ta, là tổ chức thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho nguyện vọng, ý chí và quyền làm chủ của dân, do cử tri và nhân dân địa phương bầu nên, chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên và nhân dân địa phương.
Có thể khái quát HĐND cấp xã có vị trí, vai trò cụ thể như sau: Tính quyền lực nhà nước của HĐND xã thể hiện ở chỗ HĐND xã là cơ quyền lực nhà nước ở xã. HĐND cấp xã được thành lập từ đội ngũ đại biểu dân cử, đại diện cho nguyện vọng, ý chí và quyền làm chủ của cử tri và nhân dân địa phương. HĐND cấp xã được nhân dân giao quyền, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước ở xã. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, HĐND xã quyết định các vấn đề của địa phương theo đúng quy định của pháp luật, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch 10 Luan van HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND xã[40].
Như vậy, để khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của HĐND xã thì trong hoạt động của HĐND xã phải thể hiện được hai tính chất: Tính quyền lực và tính đại diện. Vị trí pháp lý của HĐND cấp xã là tổng hợp mọi quy định pháp lý hiện hành về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trong tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã để xác lập vị trí pháp lý và thẩm quyền của mình trong tổ chức hoạt động. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã Với vị trí, vai trò quan trọng của HĐND nói chung và HĐND xã nói riêng trong tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Để thực hiện tốt chức chức năng của HĐND xã, Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã gồm có 8 nhiệm vụ, quyền hạn sau: (1).
Ban hành những nghị quyết đối với các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn và nhiệm vụ của HĐND cấp xã; (2). Quyết định các biện pháp về bảo đảm TTATXH, về đấu tranh phòng, chống tội phạm và những hành vi phạm pháp khác, về phòng, chống tệ tham nhũng và quan liêu thuộc phạm vi được phân quyền; quyết định các biện pháp về bảo vệ tài sản của cơ quan, về bảo hộ tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản và các lợi quyền hợp pháp khác của công dân tại xã; (3). Bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với Chủ tịch HĐND cấp xã và PCT HĐND cấp xã, Trưởng ban HĐND cấp xã và Phó Trưởng ban HĐND cấp xã; bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với Chủ tịch UBND cấp xã và PCT UBND cấp xã và Ủy viên UBND cấp xã; (4). Quyết định về dự toán thu NSNN cấp xã; về dự toán thu và chi NSNN cấp xã; về điều chỉnh dự toán NSNN cấp xã ở trường hợp xét cần thiết; phê chuẩn 11 Luan van quyết toán NSNN cấp xã.
Quyết định về chủ trương đầu tư dự án, chương trình của xã thuộc phạm vi được phân quyền; (5).Giám sát về việc tuân thủ pháp luật hiện hành tại địa phương, giám sát về việc thực hiện nghị quyết HĐND cấp xã; giám sát đối với hoạt động Thường trực HĐND cấp xã và UBND cùng cấp, các Ban HĐND cấp xã; giám sát về các VBQPPL của UBND cấp xã; (6). Lấy phiếu tín nhiệm và tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm về những người nắm giữ chức vụ do HĐND cấp xã bầu ra theo đúng quy định của Điều 88, Điều 89 Luật này; (7). Chấp nhận đối với đại biểu HĐND cấp xã khi họ xin thôi làm đại biểu dân cử; và bãi nhiệm đối với đại biểu HĐND xã; (8). Bãi bỏ toàn bộ hay một phần văn bản trái luật của UBND cấp xã, của Chủ tịch UBND cấp xã.
[40] Ngoài ra, căn cứ vào kết quả giám sát, HĐND xã có các quyền: Yêu cầu UBND, Chủ tịch UBND xã ban hành văn bản để thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND; bãi bỏ toàn bộ hay một phần văn bản của UBND cấp xã, của Chủ tịch UBND cấp xã một khi trái với Hiến pháp, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết HĐND cấp xã; ra nghị quyết về trả lời chất vấn và trách nhiệm của người trả lời chất vấn khi xét thấy cần thiết; bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với Chủ tịch HĐND cấp xã và PCT HĐND cấp xã, Trưởng ban HĐND cấp xã và Phó Trưởng ban HĐND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp xã và PCT UBND cấp xã và Ủy viên UBND cấp xã. Với việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã trong luật đã tạo thuận lợi cho hoạt động của HĐND xã trong thực tế, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND xã. Trước đây, theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND xã, thị trấn quy định chung, không có sự phân biệt rõ ràng giữa HĐND xã, HĐND phường và HĐND thị trấn, đã ảnh hưởng phần nào đến chất lượng hoạt động của HĐND xã. Theo quy định Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã có sự quy định cụ thể, rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn của 12 Luan van HĐND xã, phường, thị trấn.
Tuy nhiên, những nhiệm vụ, quyền hạn này vẫn còn có những nội dung chung chung, theo phân quyền của cấp trên, vì vậy sẽ có những khó khăn trong hoạt động. Do đó, cần sớm có quy định những nội dung được phân quyền để chủ động tổ chức thực hiện ở địa phương, đảm bảo quản lý nhà nước thống nhất, thông suốt. Tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã 1. Cơ cấu thành viên của Hội đồng nhân dân cấp xã Điều 32 Luật Tổ chức chính quyền năm 2015 quy định về cơ cấu tổ chức của HĐND xã hiện nay như sau: (1).
HĐND xã bao gồm đội ngũ đại biểu HĐND cấp xã do cử tri của địa phương xã bầu nên.