Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và phương pháp nghiên cứu triển khai luận án; Chương 2: Một số vấn đề lý luận về năng lực kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp công nghiệp nói chung, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa ngành cơ khí nói riêng; Chương 3: Thực trạng năng lực kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa ngành cơ khí trên địa bàn Hà Nội; Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa ngành cơ khí trên địa bàn Hà Nội giai đoạn đến 2030, tầm nhìn 2040. 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI LUẬN ÁN 1. Tổng quan nghiên cứu có liên quan đến doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa nói chung và ngành cơ khí nói riêng Các nghiên cứu trong và ngoài nước về CNHT nói chung đã có tương đối nhiều, nhưng về doanh nghiệp CNHT NVV ngành cơ khí còn hạn chế. Một số công trình tiêu biểu được phân theo nhóm chủ đề gồm: 1.
Những công trình nghiên cứu về doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí nói riêng - Nghiên cứu của Nguyễn Viết Tùng, Tatsuo Oyama (2018) thảo luận về ngành CNHT ở Việt Nam từ các quan điểm khác nhau, trong đo tập trung mô tả vai trò và sự phát triển của nó trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thông qua áp dụng các mô hình toán học được biểu diễn bằng đường cong logistic, nhóm tác giả tiến hành phần tích các cấu trúc kinh tế và công nghiệp tổng thể tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng đưa ra các tình huống thực tế liên quan đến sự phát triển của CNHT trong ngành sản xuất công nghiệp điện tử ở Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cung cấp một cách khái quát về các điểm mạnh, giới hạn và các vấn đề của CNHT trong tiến trình phát triển.
Cuối cùng, dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia Đông Á và chiến lược chính sách của họ để phát triển các CNHT, nhóm tác giả tiến hành đề xuất các khuyến nghị thiết kế các chính sách thúc đẩy CNHT ở Việt Nam trong tương lai. - Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài, Huỳnh Thanh Điền (2016) phân tích và đánh giá hiện trạng ngành CNHT cơ khí tại thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả triển khai nghiên cứu trên cơ sở cách tiếp cận các nhân tố tác động đến cấu trúc ngành. Kết quả nghiên cứu định tính và định lượng chỉ ra rằng do các sản phẩm của ngành cơ khí tại thành phố Hồ Chí Minh còn đơn giản, chưa có khả năng sản xuất các loại máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất công nghệ tự động nên ngành này hiện vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu của các ngành kinh tế khác.
Ngoài ra, khả năng tiếp cận thị trường, công nghệ - thông tin, tín dụng và nguồn nhân lực chất lượng cao của các doanh nghiệp ngành CNHT cơ khí tại thành phố Hồ Chí Minh còn thấp. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các chính sách phát triển ngành CNHT cơ khí tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới. - Tác giả Trương Minh Tuệ (2015) trình bày một số lý luận cơ bản về doanh nghiệp và ngành CNHT. Theo đó, Khái niệm CNHT bắt đầu xuất hiện từ những 9 năm 60 thế kỷ 20, phổ biến ở Nhật Bản và lan dần sang các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới ở châu Á nhưĐài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan.
Tùy vào chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, tùy vào năng lực nội tại và bối cảnh phát triển mà khu vực CNHT được chú trọng ưu tiên phát triển, kéo theo khu vực công nghiệp lắp ráp phát triển tương ứng. Khái niệm CNHT thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất những sản phẩm có sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp, đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt. - Theo nghiên cứu của Hà Thị Hương Lan (2014), trong ngành CNHT, các DNNVV độc lập thường giữ vai trò chuyên cung cấp các chi tiết, linh kiện quan trọng cho các nhà cung ứng, hoặc cung ứng thẳng cho các nhà lắp ráp theo một hợp đồng tương đối thường xuyên, đây là liên kết khá gắn bó và được đảm bảo bằng thời gian hợp tác, uy tín, quyền lợi cho cả hai bên. Với đặc thù sản xuất ra các linh phụ kiện phục vụ nhiều ngành công nghiệp lắp ráp dựa trên cơ sở phân công lao động, đã thu hút số lượng lớn doanh nghiệp với quy mô khác nhau tham gia.
Do tính chất đa cấp và phát triển theo hình tháp, việc đòi hỏi số lượng doanh nghiệp ở cấp thấp rất lớn, đa phần doanh nghiệp ở cấp này là DNNVV. Phát triển CNHT là cơ sở quan trọng và là tiền đề cho các doanh nghiệp nội địa tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế nói chung, hệ thống sản xuất của các TĐĐQG nói riêng để tiếp nhận công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, đem lại giá trị gia tăng cao. Phát triển CNHT không chỉ là phương thức tối ưu thu hút đầu tư nước ngoài mà còn là cơ sở tạo lập nền công nghiệp trong nước phát triển bền vững với một hệ thống các doanh nghiệp tham gia. - Tác giả Đào Xuân Minh (2013) khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp ngành CNHT nói chung và CNHT ngành cơ khí nói riêng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng các doanh nghiệp trong ngành đang bị yếu thế, đa phần các sản phẩm CNHT vẫn phải nhập khẩu, từ đó gây khó khăn cho ngành trong việc gia tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm cũng như nâng cao giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của các doanh nghiệp ngành CNHT nói chung và CNHT ngành cơ khí nói riêng. Đặc biệt, việc xây dựng quy hoạch ngành CNHT, trước hết là cơ khí chế tạo là rất cần thiết. Đồng thời, để hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành tăng trưởng và phát triển, Việt Nam cũng cần quan tâm đến việc quy hoạch CNHT trên quy mô vùng, từ đó tạo ra các trung tâm CNHT ngành, liên ngành, tạo các liên kết ngang và liên kết dọc trong chuỗi sản xuất của ngành CNHT.
10 - Nghiên cứu của Brandt Thomas, (2012) phân tích thực trạng ngành CNHT cơ khí tại Malaysia, trên các tiêu chí về khuôn mẫu và khuôn chết, gia công, công nghiệp chế tạo máy, công nghiệp cán kim loại, công nghiệp đúc, công nghiệp xử lý nhiệt, công nghiệp xử lý bề mặt…, từ đó khẳng định máy móc đã phát triển nhanh chóng trong vòng 3 thập kỷ qua song song với sự phát triển tổng thể của ngành công nghiệp sản xuất quốc gia. Malaysia đã được quốc tế công nhận về khả năng và chất lượng sản xuất trong rất nhiều lĩnh vực của ngành cơ khí. Từ đó đưa ra kết luận về sự đóng góp vô cùng to lớn của ngành CNHT cơ khí cho quá trình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung. - Tác giả Lê Xuân Sang, Nguyễn Thị Thu Huyền (2011) khẳng định vai trò quan trọng của CNHT trong nền kinh tế, là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, giúp tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa quốc gia.
Ở tầm vĩ mô, phát triển CNHT giúp giảm nhẹ kim ngạch nhập khẩu đầu vào sản xuất, qua đó, giúp hạn chế các căng thẳng về thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế (nhất là cán cân thương mại) cũng như ngoại tệ đối với những nước nhập khẩu hàng hóa. Tại Việt Nam, các vấn đề lý luận cũng như chính sách phát triển ngành CNHT chỉ được bàn thảo nhiều trong khoảng 5 năm gần đây. Trong những năm qua, việc năng lực cạnh tranh (quốc gia, doanh nghiệp) ít được cải thiện, chính sách nội địa hóa không đạt kết quả như mong muốn, những bất ổn vĩ mô kéo dài và việc chậm trễ thực hiện xây dựng và ban hành các chính sách thúc đẩy CNHT phát triển đã và đang tạo sức ép ngày càng lớn cho việc hoàn thiện, cụ thể hóa và có thể chỉnh đổi khung pháp lý và chính sách phát triển CNHT ở Việt Nam trong thập niên tới. - Tác giả Trương Đình Tuyển (2011) đã phân tích và làm rõ khái niệm CNHT và vị trí của CNHT trong chuỗi giá trị, từ đó chỉ ra việc lựa chọn sản phẩm CNHT cho Việt Nam.
Đặc biệt, trong giải pháp tổ chức sản xuất các sản phẩm CNHT và những ưu đãi cho CNHT, tác giả đưa ra mô hình tổ chức sản phẩm CNHT theo sơ đồ hình thang với bốn giai đoạn, thông qua đó chỉ ra Việt Nam mới ở giai đoạn III và IV, sản xuất phần lớn những sản phẩm chi tiết có độ phức tạp không cao. Do đó, Việt Nam cần tạo mọi điều kiện cho CNHT phát triển lên đỉnh hình thang thông qua việc làm trước mắt là xây dựng và ban hành Nghị định, Luật về CNHT cũng như chương trình hành động quốc gia về CNHT và lập Cục Công nghiệp hỗ trợ thuộc Bộ Công thương để quản lý và phát triển CNHT. - Giáo trình của Nguyễn Thừa Lộc, Trần Văn Bảo (2016) cung cấp kiến thức cơ bản về kinh doanh, tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại như: nghiên cứu thị trường, tạo nguồn mua hàng, tổ chức quản lý và điều kiện dự 11 trữ hàng hóa, bán hàng và thực hiện các dịch vụ phục vụ khách hàng….Trên cơ sở nẵm vững các nghiệp vụ kinh doanh để quản trị các hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu đã vạch ra, đồng thời vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. - Tác giả Kim Hill (2015) làm rõ đóng góp của ngành công nghiệp ô tô đối với các bang và nền kinh tế Mỹ.
Theo tác giả, ngành công nghiệp ô tô là một ngành công nghiệp quan trọng nhất ở Hoa Kỳ. Ngành công nghiệp ô tô luôn đóng góp 3 - 3,5% vào GDP hàng năm; trực tiếp sử dụng hơn 1,7 triệu lao động tham gia vào việc thiết kế, kỹ thuật, sản xuất và cung cấp các bộ phận và linh kiện để lắp ráp, bán hàng và dịch vụ xe có động cơ mới.