Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nước về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng quản lý Nhà nước về cho vay đối với DNNVV tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh tỉnh Lào Cai Chương 4.
Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý Nhà nước về cho vay đối với DNNVV tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh Lào Cai 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về hoạt động quản lý Nhà nƣớc về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thƣơng mại 1. Một số lý luận cơ bản về DNNVV 1. Khái niệm về DNNVV Trước năm 1988, một số địa phương, tổ chức đã xác định DNNVV dựa trên các tiêu chí khác nhau như: số lao động (dưới 500 người), giá trị tài sản cố định (dưới 10 tỷ đồng), số dư vốn lưu động (dưới 8 tỷ đồng) và doanh thu hàng tháng (dưới 20 tỷ đồng).
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, cần phân định DNNVV theo lĩnh vực: sản xuất và dịch vụ. Trong lĩnh vực sản xuất, doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng, số lao động dưới 100 người là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có từ 1 - 10 tỷ đồng vốn và số lao động từ 100 đến 500 người là doanh nghiệp vừa. Trong thương mại, dịch vụ, doanh nghiệp có số vốn dưới 500 triệu đồng và dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có số vốn từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng và có từ 50 đến 250 lao động là doanh nghiệp vừa. Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã có Công văn số 681/CP-KCN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV.
Theo công văn này thì DNNVV là những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực. Đây có thể coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định DNNVV. Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo quy định của Nghị định này, DNNVV là DN có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng VND và lao động dưới 300 người. Đây 7 là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về DNNVV, là cơ sở để các chính sách và biện pháp hỗ trợ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho các DNNVV. Từ đó đến nay, khái niệm DNNVV được hiểu và áp dụng thống nhất trong cả nước. Ngày 30/6/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo đó: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP DN siêu Quy mô DN nhỏ DN vừa nhỏ Tổng Số Số Tổng Số nguồn Khu vực lao động lao động nguồn vốn lao động vốn I. Nông lâm 20 tỷ Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người nghiệp và đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống thủy sản xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 20 tỷ Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người nghiệp và đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống xây dựng xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thƣơng 10 tỷ Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 10 người mại và dịch đồng trở người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống vụ xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người. (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009) 8 Như vậy, có thể thấy Việt Nam đã kết hợp các tiêu chí về vốn và số lao động để phân loại DNNVV. Hai tiêu chí này là hai tiêu chí cơ bản nhưng trong thực tế có những loại hình doanh nghiệp có số vốn rất lớn nhưng lại cần ít lao động (lao động trình độ cao) hoặc ngược lại có những doanh nghiệp do đặc thù kinh doanh mà cần số lượng lao động lớn song vốn lại ít mà áp vào tiêu chí trên sẽ không phù hợp. Vì vậy, việc phân chia DNNVV ở các quốc gia và ở Việt Nam theo 2 tiêu chí trên theo các ngành nghề có khác nhau theo từng thời kỳ và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của từng nước.
Đặc điểm của DNNVV DNNVV là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điểm của một doanh nghiệp. Ngoài ra DNNVV còn có đặc điểm riêng sau: - Các DNNVV là những doanh nghiệp cần vốn đầu tư ban đầu thấp, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao. Vì loại hình DNNVV có quy mô vừa phải nên yêu cầu về vốn đầu tư sản xuất không quá lớn hơn nữa chu kỳ sản xuất kinh doanh thường ngắn, vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh. Chính vì thế mà quy mô cấp tín dụng cho loại hình doanh nghiệp này cũng không lớn.
- Các DNNVV thường là doanh nghiệp có năng lực tài chính thấp, thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng chỉ bằng số vốn tự có của một hoặc một số cá nhân.Với lượng vốn ít như vậy doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. - Về cơ cấu tổ chức thì DNNVV là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức đơn giản gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nên dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Cơ cấu gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệp quản lý, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời làm giảm thiểu sai lệch thông tin do giảm bớt cấp trung gian. Vì có tính linh hoạt cao nên các DNNVV có thể nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh để thích ứng với tình hình 9 thị trường.
Tuy nhiên tính ổn định trong sản xuất kinh doanh của DNNVV không cao gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định và theo dõi khoản vay. - DNNVV có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ để phù hợp với quy mô nhỏ và vừa của mình. Trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay thì các doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh về sản phẩm, về thị phần tiêu thụ mà còn phải cạnh tranh gay gắt về công nghệ kỹ thuật. Việc đổi mới dây chuyền công nghệ của DNNVV đòi hỏi nguồn vốn bổ sung không nhiều lại có thể thu hồi vốn nhanh.
Lợi thế này giúp cho các DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán giúp tồn tại trên thị trường. Tuy nhiên do tài chính thấp nên các DNNVV khó có thể tiếp cận được với công nghệ mới, các sản phẩm đưa ra thị trường không có tính cạnh tranh. - Năng lực quản trị điều hành của chủ DNNVV kém, còn thói quen điều hành quản trị theo kiểu gia đình. Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất.
Các chủ doanh nghiệp thường là những người chưa được qua đào tạo về quản lý, phần lớn thiếu hiểu biết về pháp luật. Một số Luật nhiều doanh nghiệp không nắm được như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh. Chính vì vậy nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật mà cán bộ quản lý không biết. Vai trò của DNNVV DNNVV có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả với các nước có trình độ phát triển cao.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các DNNVV nhằm huy động tối đa nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nền kinh tế. Vai trò của các DNNVV thể hiện qua các mặt sau: 10 Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần thu hút tối đa mọi nguồn nhân lực của đất nước, giải quyết nạn thất nghiệp. Hàng năm, các DNNVV góp phần tạo ra một số lượng lớn việc làm cho người lao động. Loại hình doanh nghiệp này đã giải quyết việc làm cho khoảng 70% lực lượng lao động.
Đặc biệt với lợi thế đa dạng về lĩnh vực kinh doanh và địa bàn hoạt động, DNNVV có thể sử dụng nguồn lao động dồi dào ở mọi nơi, ở mọi trình độ, không chỉ giải quyết việc làm cho các lao động có trình độ mà còn cả các lao động thủ công, có trình độ thấp và chưa được đào tạo hiện đang chiếm tỷ trọng cao ở Việt Nam hiện nay. Thứ hai, DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Sự phát triển của các DNNVV ở nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời sự phát triển của doanh nghiệp này ở nông thôn đã thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ phát triển, xóa dần tình trạng độc canh ở nông thôn. Sự phát triển của các DNNVV cũng góp phần làm tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Thứ ba, tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương Nhìn chung các DNNVV được mở ra ở địa phương nào đều có công nhân và chủ doanh nghiệp là người ở địa phương đó.
Khi các doanh nghiệp loại đó được mở ra thì người dân lao động ở địa phương có việc làm, có nguồn thu nhập. Kết cục là quỹ tiền tiết kiệm đầu tư của địa phương đó được bổ sung. Thứ tư, phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế. Khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển, hoặc là xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên,.