Chương 1: Cơ sở lý thuyết về năng lực cần thiết của CVKH tại NHTM. Chương 2: Nghiên cứu năng lực cần thiết của CVKH tại Maritime Bank Tp. Chương 3: Kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cần thiết của CVKH tại Maritime Tp.HCM TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẦN THIẾT CỦA CHUYÊN VIÊN KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về năng lực cần thiết của chuyên viên khách hàng.
Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực bắt đầu manh nha vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, những đến nay để đưa ra một khái niệm thống nhất về năng lực vẫn chưa được hình thành. Theo báo cáo của Garavan và McGuire1, phong trào năng lực đã được tiếp nhận tại một số nước như: Úc (Cornford và Athanasou, 1995), Mỹ (Boyatzis và Kolb, 1995), Anh (Newton và Wilkenson, 1995), các nước vùng Scandinavia (Mabon, 1995) và Israel (Reichel, 1996). Vì vậy từ đó đến nay đã có rất nhiều tác giả, nhiều tổ chức đã đưa ra khái niệm về năng lực dựa trên những khía cạnh khác nhau. Theo McClelland (1973) “Năng lực là đặc tính cơ bản để thực hiện công việc hiệu quả”2.
Còn Boyatzis (1982) cho rằng “năng lực như là các đặc tính của một cá nhân có liên quan đến việc thực hiện công việc đạt hiệu quả cao”3. Vì vậy có thể nói rằng có sự sở hữu trước các đặc tính và dẫn đến hiệu suất trong công việc của một cá nhân. Còn theo McLagan (1980), là người có công đóng góp rất lớn vào lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực với một số mô hình năng lực tiêu biểu, định nghĩa năng lực như là “Kiến thức và kỹ năng làm nền tảng để thực hiện công việc hiệu quả”4. Các định nghĩa sau đó được đưa ra bởi McLagan chủ yếu tập trung vào những đóng 1 Garavan T.
(1973), “Testing for competence rather than for "intelligence"”. American Psychologist, 28(1), pp. (1982): The Competent Manager: A model for Effective performance, New York: Joln Wiley & Sons, pp.22- 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 góp và kết quả đầu ra, mô tả “Năng lực là khả năng của cá nhân có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành những sản phẩm đầu ra”5. Theo quan điểm của Woodruffe (1992) thì “Năng lực là một bộ các hành vi mà người đương nhiệm cần phải đem đến một vị trí có đủ khả năng để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ đó".
Mô tả của Woodruffe về thuật ngữ năng lực có một số đặc điểm tuy đơn giản nhưng quan trọng. Những năng lực của nhân viên không chỉ bắt buộc phải thực hiện với các hành vi có thể nhận thấy được, mà còn ám chỉ đến các biến số khác đang hoạt động như đặc điểm tính cách, khả năng, giá trị, động cơ… được tiết lộ trong quan sát và khuôn mẫu nhận dạng của hành vi. Mặt khác, hành vi có liên quan đến hiệu suất công việc. Hơn nữa, khái niệm về năng lực không chỉ bao gồm các kiến thức, kỹ năng truyền thống mà còn làm chứa các đặc tính khác để đạt hiệu suất trong công việc như động cơ hay mong muốn thực hiện6.
Bên cạnh đó, Spencer và Spencer (1993) dựa lại cho rằng “Năng lực là các đặc tính cơ bản của một cá nhân có liên quan đến các tiêu chí đánh giá hiệu suất công việc”. Các đặc tính góp phần vào năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng, động cơ (motivation), nét tiêu biểu (trait) và ý niệm về bản thân (self-concept)”7. Tương tự như vậy, Dubois (2004) cho rằng “Năng lực là các đặc tính mà cá nhân có được và sử dụng chúng trong những ngữ cảnh thích hợp và nhất quán để đạt được kết quả mong muốn”. Những đặc tính này bao gồm kiến thức, kỹ năng, động cơ, nét tiêu biểu, cách suy nghĩ, cảm nghĩ, hành động… 8.
Một định nghĩa tiêu biểu khác được đưa ra bởi Parry (1996) chủ yếu được tập hợp từ các đề xuất năm 1995 bởi hàng trăm chuyên gia phát triển nguồn nhân 5 McLagan, P. (1988), Flexible job models: A productivity strategy for the Information Age. Campbell, & Associates (Eds.), Productivity in organizations: New perspectives from industrial and organizational psychology, San Francisco: Jossey-Bass, pp. “What is meant by competency? In R.)”, Designing and achieving competency New York7 McGraw-Hill, pp.
(1993), Competence at work: models for superior performance, New York: John Wiley & Sore, pp. (2004), Competency–Based Human Resource Management, Davies-Black Publishing, california. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 lực tham gia hội nghị ở Johannesburg với các định nghĩa năng lực đã được sử dụng, cho rằng “Năng lực là một bộ các kiến thức, kỹ năng và thái độ có ảnh hưởng đến phần lớn vai trò và trách nhiệm trong công việc của một người, tương quan với hiệu suất công việc đó, có thể được đánh giá theo các tiêu chuẩn được. Bernthal và cộng sự (2004) thực hiện công trình nghiên cứu được xây dựng dựa vào công việc trước đây của McLagan, định nghĩa năng lực như là “một bộ các kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi cần thiết mang lại thành công trong công việc” 9.
Còn Kennedy và cộng sự (2005) đưa ra một định nghĩa về năng lực với hàm ý rất rộng, cho rằng năng lực như là “Bất cứ điều gì nhân viên có hoặc đạt được góp phần vào sự thành công của tổ chức”10. Từ các định nghĩa như vậy, mặc dù có sự khác nhau nhưng hầu hết các khái niệm đều có chung một số quan điểm như: năng lực bao gồm một loạt các kiến thức, kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện công việc thành công. Bên cạnh đó, những yếu tố này phải được quan sát hay đo lường và có sự phân biệt giữa những người biểu hiện tốt nhất so với những người khác. Năng lực cần thiết của CVKH tại NHTM Khái niệm CVKH trong đề tài được hiểu là những người làm việc trong lĩnh vực ngân hàng giao dịch trực tiếp với khách hàng thông qua các hoạt động chính như: huy động vốn, hoạt động tín dụng, thanh toán chuyển tiền và dịch vụ thẻ.
Hiện nay đối với các NHTM, với sự xuất hiện của nhiều ngân hàng trong và ngoài nước, trình độ công nghệ, sản phẩm gần như không có sự khác biệt, thì đội ngũ CVKH là một trong những tài sản quan trọng nhất của ngân hàng, là khâu quyết định hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Nắm trong tay một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, năng động, nhiệt tình, thì ngân 9 Bernthal, P.(2004), ASTD competency study: Mapping the future, Alexandria, VA: ASTD Press. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 hàng đã nắm trong tay một nửa thành công. Do vậy, để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi đầu tiên là năng lực của đội ngũ CVKH phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của tiến trình hội nhập.
Năng lực cần thiết của CVKH tại NHTM chính là sự kết hợp giữa những phẩm chất năng lực tiềm năng của một cá nhân với những đòi hỏi đặc thù riêng trong công việc tại NHTM. Khía cạnh văn hóa và những đặc điểm cụ thể của bối cảnh có ảnh hưởng mạnh mẽ tới danh mục, tầm quan trọng và mức độ của các năng lực cần thiết, do vậy khám phá yêu cầu năng lực của các CVKH là một vấn đề quan trọng đối với các NHTM. Các loại năng lực Theo nhận định của Kroon (2006) thì năng lực có thể được chia ra ít nhất làm 3 loại mà các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát như: (1) năng lực cốt lõi; (2) năng lực chung (nhóm); (3) năng lực cá nhân (vị trí). Năng lực cốt lõi Năng lực cốt lõi mô tả các yếu tố hành vi quan trọng đối với tất cả nhân viên.
Năng lực này đòi hỏi mọi vị trí trong tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ theo yêu cầu, để đáp ứng sứ mệnh, tầm nhìn, tiêu chuẩn và kế hoạch chiến lược của tổ chức. Năng lực chung Năng lực chung mô tả khả năng, đặc tính cụ thể của một nhóm, xem như một bộ phận công tác. Năng lực này có thể giống như năng lực cốt lõi, nhưng cần đến ở mức độ cao hơn về trình độ để thực hiện nhiệm vụ công việc cụ thể, cũng có thể bao gồm năng lực chuyên môn, trong đó đề cập đến các kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, tích luỹ được từ giáo dục, đào tạo hoặc dựa trên một lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Năng lực cá nhân Năng lực này có thể giống như năng lực cốt lõi, nhưng cần đến ở mức độ cao hơn về trình độ để thực hiện nhiệm vụ công việc cụ thể, cũng có thể bao gồm năng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 lực chuyên môn, trong đó đề cập đến các kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, tích luỹ được từ giáo dục, đào tạo hoặc dựa trên một lĩnh vực chuyên môn cụ thể.
Từ ba loại năng lực nêu trên, bài nghiên cứu chọn cách tiếp cận dựa vào năng lực chung với mong muốn khám phá danh mục năng lực chung cần thiết đối với nhóm CVKH, sẽ là cơ sở để tạo ra sự cân bằng về năng lực giữa các thành viên trong nhóm, phát huy sức mạnh của tập thể và hỗ trợ nhau cùng phát triển để nâng cao hiệu quả trong công việc. Các thành phần cấu thành năng lực Theo tổng hợp của Nguyễn Minh Trí (2012) những yếu tố cấu thành năng lực như sau: Kiến thức là sự hiểu biết, nhận thức hay thông tin về các sự kiện, học thuyết, khái niệm, quy tắc, nguyên tắc, nguyên lý hay quy trình cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ. Kiến thức có thể cụ thể, rõ ràng và dễ dàng đo lường hay phức tạp, trừu tượng và khó khăn để đánh giá. Kiến thức có được thông qua học tập và kinh nghiệm.11 Kỹ năng là khả năng để thực hiện những nhiệm vụ bằng trí óc hay thể chất với một kết quả cụ thể, thường được hợp thành bởi một số khả năng cơ bản, có liên quan đến khả năng bẩm sinh hay rèn luyện được.
Tương tự như kiến thức, kỹ năng có thể từ những nhiệm vụ rất cụ thể và dễ nhận biết cho đến trừu tượng, khó nhận biết hơn. Thái độ hay các phẩm chất cá nhân khác là những đặc tính thường được hợp thành bởi cảm xúc hay tính cách cá nhân, bao gồm thói quen làm việc, cách thức tương tác với người khác hay cách cư xử của mình góp phần thực hiện công việc hiệu quả. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Các hành vi có thể xuất hiện thông qua học tập, kinh nghiệm, khuynh hướng bẩm sinh,hay có sự kết hợp bởi những yếu tố quyết định đó12. Tuy nhiên, để năng lực phát huy một cách hiệu quả nhất còn có sự hỗ trợ của các thành phần khác.