Nghiên cứu Năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

Luận án tiến sĩ nghiên cứu năng lực của chủ tịch ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh đồng bằng sông cửu long, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

262
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu

2.2. Các công trình nghiên cứu về năng lực và khung năng lực

2.3. Những công trình nghiên cứu về năng lực, khung năng lực của người đứng đầu chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền địa phương cơ sở của Việt Nam

2.4. Các công trình nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của người đứng đầu chính quyền địa phương

2.5. Nhận xét về các công trình nghiên cứu

2.6. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

2.7. Những vấn đề chưa được làm rõ và chưa được đề cập

2.8. Định hướng nghiên cứu của Luận án

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ

3.1. Những vấn đề chung về Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

3.2. Khái quát về Ủy ban nhân dân xã

3.3. Khái niệm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, đặc điểm, tiêu chuẩn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

3.4. Năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

3.5. Một số khái niệm liên quan

3.6. Các yếu tố cấu thành năng lực và cơ sở xây dựng khung năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

3.7. Tiêu chí đánh giá năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

3.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

3.8.1. Nhóm yếu tố chủ quan

3.8.2. Nhóm yếu tố khách quan

4. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

4.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và đội ngũ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

4.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

4.1.2. Ảnh hưởng các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đến năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

4.1.3. Khái quát về đội ngũ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

4.2. Phân tích thực trạng năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

4.2.1. Về kiến thức

4.2.2. Về kỹ năng

4.2.3. Về kết quả thực hiện nhiệm vụ

4.3. Đánh giá năng lực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

4.4. Những hạn chế

4.5. Nguyên nhân của hạn chế

5. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NĂNG LỰC CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

5.1. Quan điểm hoàn thiện năng lực Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

5.2. Hoàn thiện năng lực dựa trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác cán bộ

5.3. Hoàn thiện năng lực trên cơ sở phù hợp với yêu cầu phát triển của quốc gia và vùng trong điều kiện mới

5.4. Hoàn thiện năng lực cần giải pháp đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương

5.5. Giải pháp hoàn thiện năng lực Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

5.5.1. Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn của đội ngũ Chủ tịch UBND xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

5.5.2. Hoàn thiện khung năng lực và khung tiêu chuẩn chức danh đối với Chủ tịch UBND xã ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

5.5.3. Đào tạo, bồi dưỡng

5.5.4. Tuyển chọn cán bộ quy hoạch đảm nhận vị trí Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

5.5.5. Chế độ chính sách và môi trường làm việc

5.5.6. Hoàn thiện hoạt động kiểm tra, đánh giá năng lực làm việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận án Tiến sĩ 'Năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã tại Đồng bằng Sông Cửu Long' tập trung vào việc phân tích và đánh giá năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã trong bối cảnh đặc thù của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Nghiên cứu này nhằm mục đích cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện khung năng lực của các nhà lãnh đạo địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Quản lý hành chínhphát triển nông thôn là hai trọng tâm chính của luận án, với sự nhấn mạnh vào vai trò của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã trong việc thực hiện các chính sách công và quản lý nhà nước tại địa phương.

1.1. Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nhận thức về tầm quan trọng của năng lực lãnh đạo trong việc thúc đẩy phát triển bền vững tại các địa phương. Đồng bằng Sông Cửu Long là khu vực có vị trí chiến lược trong nền kinh tế quốc gia, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức về quản lý tài nguyên, môi trường, và kinh tế. Việc nâng cao năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã là yếu tố then chốt để giải quyết các vấn đề này, đặc biệt trong bối cảnh cải cách hành chínhchuyển đổi số.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận án là xây dựng khung năng lực cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã tại Đồng bằng Sông Cửu Long, dựa trên các tiêu chí về kiến thức, kỹ năng, và thái độ. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm phân tích thực trạng năng lực hiện tại, xác định các yếu tố ảnh hưởng, và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Các giải pháp này nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý côngphát triển địa phương trong bối cảnh mới.

II. Cơ sở lý luận về năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã

Luận án đã hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến năng lực lãnh đạoquản lý hành chính, đồng thời xác định các yếu tố cấu thành năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã. Các yếu tố này bao gồm kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý, và thái độ làm việc, được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn chức danh và yêu cầu thực tiễn của địa phương. Quản lý nhà nướcquản lý xã hội là hai lĩnh vực chính được đề cập, với sự nhấn mạnh vào vai trò của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã trong việc thực hiện các chính sách công.

2.1. Khái niệm và vai trò của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã là người đứng đầu cơ quan hành chính cấp xã, có vai trò quan trọng trong việc triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nước tại địa phương. Năng lực của họ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quản lý hành chínhphát triển nông thôn. Luận án đã làm rõ các nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã, đồng thời xác định các tiêu chuẩn cần thiết để đảm nhận vị trí này.

2.2. Các yếu tố cấu thành năng lực

Năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã được cấu thành từ ba yếu tố chính: kiến thức, kỹ năng, và thái độ. Kiến thức bao gồm hiểu biết về pháp luật, quản lý nhà nước, và đặc thù địa phương. Kỹ năng liên quan đến khả năng ra quyết định, tổ chức thực hiện, và giao tiếp hiệu quả. Thái độ thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm, và khả năng làm việc nhóm. Các yếu tố này được đánh giá dựa trên khung năng lực được xây dựng trong luận án.

III. Thực trạng năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã tại Đồng bằng Sông Cửu Long

Luận án đã tiến hành khảo sát thực trạng năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã tại 12 tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long. Kết quả cho thấy, mặc dù có nhiều điểm tích cực, nhưng năng lực của các nhà lãnh đạo này vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong các lĩnh vực như quản lý môi trường, quản lý kinh tế, và quản lý văn hóa. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, và chính sách công tại địa phương.

3.1. Đánh giá năng lực hiện tại

Kết quả khảo sát cho thấy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã tại Đồng bằng Sông Cửu Long có kiến thức cơ bản về quản lý hành chính, nhưng kỹ năng thực hành còn hạn chế, đặc biệt trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý tài nguyên. Ngoài ra, thái độ làm việc của một bộ phận nhà lãnh đạo còn thiếu sự chủ động và sáng tạo, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.

3.2. Nguyên nhân hạn chế

Các hạn chế về năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm thiếu đào tạo chuyên sâu, chế độ đãi ngộ chưa hợp lý, và áp lực công việc cao. Bên cạnh đó, các yếu tố khách quan như biến đổi khí hậusự phức tạp của địa bàn cũng góp phần làm giảm hiệu quả quản lý.

IV. Giải pháp hoàn thiện năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã tại Đồng bằng Sông Cửu Long. Các giải pháp này tập trung vào việc nâng cao nhận thức, hoàn thiện khung năng lực, và cải thiện chế độ đãi ngộ. Đồng thời, luận án cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo bồi dưỡngtuyển chọn cán bộ để đáp ứng yêu cầu của quản lý côngphát triển bền vững.

4.1. Nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị

Giải pháp đầu tiên là nâng cao nhận thức về vai trò và trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã trong việc thực hiện các chính sách công. Điều này bao gồm việc tăng cường bản lĩnh chính trịtrình độ chuyên môn, giúp các nhà lãnh đạo địa phương có thể đối mặt với các thách thức trong quá trình quản lý nhà nướcphát triển nông thôn.

4.2. Hoàn thiện khung năng lực và tiêu chuẩn chức danh

Luận án đề xuất việc hoàn thiện khung năng lựctiêu chuẩn chức danh cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã, dựa trên các yêu cầu thực tiễn của địa phương. Các tiêu chuẩn này cần được cập nhật thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chínhchuyển đổi số.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ năng lực của chủ tịch ủy ban nhân dân xã ở các tỉnh đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực và khung năng lực 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ năng lực (Competence) xuất hiện năm 1973 trong bài viết “Testing for Competence Rather Than for “Intelligence”” (Kiểm tra năng lực hơn là sự thông minh) của David C.

Ông cho rằng cần kiểm nghiệm, đánh giá năng lực hơn là đơn thuần kiểm tra trí thông minh trong công tác tuyển dụng. Tác giả chỉ ra sự cần thiết tích hợp thái độ và các thuộc tính cá nhân vào năng lực. Một yếu tố khác của năng lực như sự nhạy cảm, tư duy tích cực với tính đa dạng, giao thoa văn hoá hay kỹ năng quản lý tạo ra sự khác biệt giữa những người hoàn thành tốt công việc với những người khác. Mặc dù không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, nhưng qua nội dung bài viết cho thấy tác giả tiếp cận năng lực trên cơ sở tổng hợp các yếu tố cần thiết để hoàn thành một công việc được giao [113, tr.

Từ đó, đến nay, việc quản lý nhân lực theo năng lực đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Cách tiếp cận năng lực trong môi trường tổ chức đã bắt đầu từ thập niên 1970 và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi [107]. Theo Hondeghem và cộng sự, quản lý theo năng lực trong khu vực công xuất hiện ở Hoa Kỳ và Anh vào những năm 1980 cùng với trào lưu Quản lý công mới ở Anh và phong trào tái tạo lại chính phủ ở Hoa Kỳ. Cuối những năm 1990, quản lý nhân sự theo năng lực đã phát triển rực rỡ trong khu vực công.

Năm 1999, quản lý theo năng lực đã xuất hiện trong chính quyền trung ương của Úc, Bỉ, Hàn Quốc. Ở hầu hết các quốc gia phát triển, quản lý theo năng lực đã được đưa vào như một phần trong công cuộc cải cách vai trò của nhà nước và nền công vụ. Trên thực tế hầu hết các nước Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đều có khái niệm năng lực riêng của mình, trong đó có thể gồm nhiều chi tiết chung. Úc, Bỉ, Canada, Hàn Quốc, Hà Lan và Hoa Kỳ coi năng lực như một tính chất hành vi có thể quan sát được.

Các thuộc tính như kiến thức, kỹ năng, thái độ các tính chất cá nhân khác là những yếu tố cơ bản của năng lực. Một số quốc gia OECD đưa ra quan điểm năng lực có liên quan đến hiệu suất 12 thực thi cao, hiệu quả hoặc hiệu suất thực thi theo một tiêu chuẩn quy định. Cùng với thực tiễn trên, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có quy mô lớn nhỏ khác nhau về năng lực và khung năng lực. Nội dung của các công trình đó đề cập đến nhiều vấn đề như khái niệm năng lực, KNL, sự cần thiết của việc quản lý nhân sự bằng năng lực, cơ sở xây dựng KNL, các nhân tố tác động đến năng lực, v.v… Trong Luận án này, tác giả sẽ cố gắng hệ thống những công trình đó ở mức độ khái quát nhất có thể.

Năm 1992, công trình Designing and achieving competency:a competency-based approach to developing people and organizations (Thiết kế và đạt được năng lực: một cách tiếp cận dựa trên năng lực để phát triển con người và tổ chức) của hai tác giả Rosemary Boam và Paul Sparrow cho rằng năng lực là một tập hợp các biểu hiện hành vi gắn với một vị trí công việc để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của vị trí đó ở mức độ thành thạo [93]. Năm 1993, trong công trình Competence at work: Models for Superior Performance (Năng lực trong công việc: Mô hình cho hiệu suất vượt trội), Spencer, L.M cho rằng năng lực là khả năng một cá nhân thực thi được những yêu cầu kỹ năng bắt buộc đối với một công việc cụ thể [123]. Năm 1996, trong công trình Just What Is a Competency? (And Why Should You Care?) (Năng lực là gì? Và tại sao bạn phải quan tâm?), Parry cho rằng năng lực là tập hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ có khả năng ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành công việc của cá nhân. Năng lực có thể được đo lường thông qua các chuẩn mà cộng đồng chấp nhận và có thể được cải tiến thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng [115, tr.

công bố bài viết “Competency based management: a review of systems and approaches” (Quản lý dựa trên năng lực: xem xét các hệ thống và phương pháp tiếp cận). Có thể nói đây là một bài viết khái lược, có tính chất hệ thống về định nghĩa năng lực, khung năng lực, phát triển mô hình năng lực, phân tích hệ thống quản lý nhân lực, gợi ý những chỉ dẫn. Mục đích của bài viết là xem xét các khái niệm chính của quản lý năng lực và đề xuất phương pháp phát triển phương pháp năng lực [103]. Bài viết,“Competence Development in the Workplace: Concepts, Strategies and Effects” (Phát triển năng lực tại nơi làm việc: khái niệm, chiến lược và kết quả) của Erik Ellström, P., công bố năm 2008 [104, tr5- 20] trình bày đánh giá nghiên cứu về các chiến lược phát triển năng lực trong 13 các tổ chức, các điều kiện tiên quyết và ảnh hưởng của chúng.

Cụ thể hơn, bài viết hướng tới giải quyết ba câu hỏi: (i) Tại sao các tổ chức đầu tư vào phát triển năng lực? (ii) Thực tế có thể đạt được những hiệu quả nào thông qua phát triển năng lực? (iii) Đặc điểm của các chiến lược phát triển năng lực thành công trong tổ chức là gì? Trước khi những câu hỏi này được giải quyết, các quan điểm khác nhau về ý nghĩa của các khái niệm năng lực và phát triển năng lực được trình bày và thảo luận. Trong công trình Competency Framework 2012 – 2017 (Khung năng lực 2012-2017) do tổ chức Nguồn nhân lực Dân sự (Civil Service human resource- Anh) công bố năm 2019 đưa quan điểm năng lực là những kỹ năng, kiến thức và hành vi dẫn đến việc thực hiện thành công. Khung năng lực phác thảo 10 năng lực, được nhóm thành 3 nhóm: Định hướng; Thu hút mọi người và mang lại kết quả. Đối với mỗi năng lực đều có phần mô tả ý nghĩa của nó trong thực tế và một số ví dụ về các hành vi hiệu quả và không hiệu quả ở mọi cấp độ [100].

Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc quản lý nhân lực theo năng lực đã được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu, trong đó không thể không kể đến bài viết “The importance of improving the competence of employees in the 21st century” (Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực của nhân viên trong thế kỷ 21) của hai tác giả Ineta Lakstigala và Signe Balina công bố năm 2019. Bài viết khẳng định để nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển tư duy, tri thức sáng tạo, thích ứng với sự phát triển và yêu cầu của thế kỷ XXI - kỷ nguyên toàn cầu hoá và phát triển của CNTT, cần thường xuyên nâng cao năng lực cá nhân và năng lực nghề nghiệp. Đồng thời, cần phải chuẩn bị rằng những công việc mới sẽ được tạo ra trong tương lai, nơi sẽ cần đến những kỹ năng và kiến thức mới. Do đó, điều quan trọng là phải tập trung vào việc phát triển các kỹ năng mới trong suốt cuộc đời trong quá trình học tập [111].

Đề cập tới việc phát triển năng lực, có một số công trình tiêu biểu sau: Năm 2002, bài viết “Developing competency models to promote integrated human resource practices” (Phát triển các mô hình năng lực để thực hành nguồn nhân lực tổng hợp) của nhóm tác giả Rodriguez, D.K được công bố. Nội dung bài viết phân tích mô hình năng lực của Cục Quản lý nhân sự Mỹ (OPM), khẳng đinh rằng, bằng cách kết hợp năng lực vào các phương pháp phân tích công 14 việc, Cục quản lý nhân sự Mỹ đã phát triển các mô hình năng lực để áp dụng vào công việc quản lý nhân sự. Tác giả Geoff Ryan (đại diện tổ chức năng lực quốc tế châu Âu) có bài viết: “Improving Competencies: a six – step plan” (Nâng cao năng lực: kế hoạch 6 bước) chỉ ra 6 bước để phát triển năng lực. Bước 1: Xác định các công việc chính hoặc quan trọng; Bước 2: Xác định độ lệch chuẩn của hiệu suất; Bước 3: Xác định các yếu tố con người làm cơ sở để thay đổi hiệu suất; Bước 4: Phát triển các trường hợp kinh doanh; Bước 5: Tiến hành đánh giá nhân viên; Bước 6: Phát triển, thực hiện và giám sát chiến lược nhân tài [121].

Mufamadi cho rằng năng lực bao gồm năng lực tổng quát, năng lực nghề nghiệp, và năng lực thương lượng. Năng lực tổng quát là năng lực chung cho các nhà quản lý. Năng lực nghề nghiệp là năng lực chuyên môn để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Năng lực thương lượng phản ánh qua mối quan hệ với các bên như Đảng, đoàn thể, hiệp hội, khu vực tư và người dân [114].

Doherty cho rằng năng lực gồm phẩm chất và một số khả năng. Về phẩm chất, đó là không vị kỷ, vì lợi ích chung của cộng đồng và không vì lợi ích của cá nhân; tính hội nhập và độc lập không để bị ảnh hưởng bởi những yếu tố không liên quan; tính khách quan; tính trách nhiệm; cởi mở; tính trung thực [102]. Theo Cục Quản lý nhân sự của Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Năng lực có thể phát triển, nâng cao, và duy trì thông qua các khóa tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển.

Việc có đạt được cấp độ nào đó của một năng lực được đánh giá thông qua khả năng áp dụng năng lực đó trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau [125]. KNL được sử dụng trong nhiều lĩnh vực quản lý, phát triển nguồn nhân lực. Theo Kubes và cộng sự, KNL được cấu tạo thành từ các năng lực – đó là một tập hợp các phẩm chất, khả năng, kỹ năng và những tố chất khác mà nhân viên cần có để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Trong đó, ưu tiên nhiều hơn được dành cho nhóm năng lực lãnh đạo quản lý, bởi lẽ chất lượng công tác quản lý ảnh hưởng sống còn đến sự thành công của tổ chức.

Bên cạnh đó, nhóm năng lực cốt lõi cấu thành nên KNL.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án Tiến sĩ "Năng lực của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã tại Đồng bằng Sông Cửu Long" là một nghiên cứu chuyên sâu về năng lực quản lý và lãnh đạo của các Chủ tịch UBND xã trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tài liệu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công việc, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước ở cấp cơ sở. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và những ai quan tâm đến cải cách hành chính địa phương.

Để mở rộng kiến thức về quản lý nhà nước và chất lượng dịch vụ công, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức trong Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, hoặc tìm hiểu sâu hơn về chất lượng dịch vụ hành chính công qua Luận án Tiến sĩ chất lượng dịch vụ hành chính công trên địa bàn thành phố Hà Nội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước và cải thiện dịch vụ công.